Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số tổ hợp lai hoa lan huệ tại gia lâm hà nội - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ KIM OANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA MỘT SỐ
TỔ HỢP LAI HOA LAN HUỆ TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HẠNH HOA
HÀ NỘI - 2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i


đã nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan, các Thầy Cô, bạn bè đồng nghiệp
và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS. Nguyễn Hạnh
Hoa – Bộ môn Thực vật – khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt
quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, các Cô Bộ môn Thực vật – Khoa
Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, lãnh đạo Trung tâm Nghiên
cứu và Phát triển Hoa, cây cảnh – Viện Nghiên cứu Rau quả đã quan tâm,
giúp đỡ về mọi mặt trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô và các Phòng Ban chức năng
– Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi trong suốt thời gian học tập cũng như khi hoàn thành và báo cáo
luận văn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên,
giúp đỡ tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i

hoa thuộc chi Hippeastrum 14
2.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
2.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 16
2.6 Một số nghiên cứu về giá thể, phân bón lá, phân bón gốc 18
2.6.1 Một số nghiên cứu về giá thể đối với cây trồng nói chung và hoa
cây cảnh nói riêng 18
2.6.2 Phân bón gốc đối với cây trồng nói chung và các cây thuộc họ
hành (Liliaceae) nói riêng 20
2.6.3 Tình hình nghiên cứu, sử dụng phân bón lá ở Việt Nam 22
PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 24
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 24
3.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
3.2 Nội dung nghiên cứu 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.3.1 Bố trí thí nghiệm: 28
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu 31
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các THL Lan huệ
(Hippeastrum sp.) 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

4.1.1 Đặc điểm hình thái lá của các THL Lan huệ 34
4.1.2 Đặc điểm thân hành của các THL Lan huệ 36
4.1.3 Thời gian ra hoa của các THL Lan huệ 37
4.1.4 Đặc điểm hoa và cụm hoa 39

5.1 Kết luận 103
5.2 Đề nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH THÍ NGHIỆM 108 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐC : Đối chứng
ĐST :

Đỏ sọc trắng
ĐN :

Đỏ nhung
CT :

Công thức
PBG :

Phân bón gốc
PBL :

Phân bón lá
THL :

Tổ hợp lai
TPHH :

4.5 Đặc điểm hoa và tỷ lệ ra hoa của các THL Lan huệ 40
4.6 Đặc điểm hình thái hoa của cây Lan huệ lai 43
4.7 Đánh giá sự sai khác về hình thái hoa của cây Lan huệ lai so với
bố mẹ 73
4.8 Ảnh hưởng của giá thể đến động thái ra lá của THL3 Lan huệ. 78
4.9 Ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng chiều dài lá của THL3
Lan huệ. 80
4.10 Ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng chiều rộng lá của THL3
Lan huệ. 80
4.11 Ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng đường kính thân hành
của THL3 Lan huệ. 83
4.12 Ảnh hưởng của giá thể tới khả năng đẻ nhánh của THL3 Lan huệ 85
4.13 Ảnh hưởng của PBG đến động thái ra lá của các THL hoa Lan huệ 87
4.14 Ảnh hưởng của PBG đến tăng trưởng chiều dài lá của các THL
hoa Lan huệ 91
4.15 Ảnh hưởng của PBG đến tăng trưởng chiều rộng lá của các THL
hoa Lan huệ 92
4.16 Ảnh hưởng của PBG đến tăng trưởng đường kính thân hành của
các THL hoa Lan huệ 94

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix

4.17 Ảnh hưởng PBG tới khả năng đẻ nhánh của các tổ hợp lai 95
4.18 Ảnh hưởng của PBL đến động thái ra lá của THL4 hoa Lan huệ. 96
4.19 Ảnh hưởng của PBL đến động thái tăng trưởng chiều dài lá của
THL4 hoa Lan huệ. 98
4.20 Ảnh hưởng PBL đến tăng trưởng chiều rộng lá của THL4 hoa
Lan huệ. 98
4.21 Ảnh hưởng của PBL đến tăng trưởng đường kính thân hành của
THL4 hoa Lan huệ. 100

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

PHẦN 1. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Hoa là một loại sản phẩm đặc biệt, vừa mang giá trị kinh tế vừa là món
ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của con người. Hoa đem lại cho
con người những cảm xúc thẩm mỹ cao quý mà không một thứ quà tặng nào
có được. Hoa cây cảnh đã đi vào cuộc sống như một nét đẹp, một thú chơi thể
hiện một phần hồn của dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật chơi hoa cây cảnh được
xem là có tính quần chúng rộng rãi, tính dân tộc đậm đà, tính nhân văn cao
quý, tính thẩm mỹ độc đáo, tính sáng tạo mới mẻ và tính kinh tế cao.
Chi Hippeastrum hiện có

70- 76 loài, phân bố ở các vùng nhiệt đới
Châu Mỹ, Châu Á, Tây Phi. Nhiều loài

được trồng làm cảnh bởi chúng có
ưu điểm là hoa to, đẹp, khá đa dạng về màu

sắc, có thể sử dụng dưới dạng
hoa cắt cành, trồng chậu hoặc trồng thảm. Ở Việt

Nam, chi Hippeastrum có
2 loài, 1 thứ được trồng làm cảnh.
Lan huệ (Hippeastrum equestre Herb.) tên tiếng Anh là Valentine
flower. Nếu như ở các nước châu Âu loài hoa này đã được sử dụng phổ biến
làm quà tặng nhân dịp “Valentine” với nhiều giống hoa có màu sắc đa dạng
thì ở Việt Nam, Lan huệ còn rất nghèo nàn về màu sắc (chủ yếu là màu đỏ),
thời gian ra hoa của chúng lại muộn hơn (khoảng từ giữa tháng 3 đến cuối

sóc cho cây hoa Lan huệ.
1.2.2. Yêu cầu
Đánh giá sinh trưởng, phát triển và tình hình nhiễm sâu bệnh hại của
cây lai trong từng tổ hợp.
Đánh giá sự sai khác các tính trạng về hoa của con lai so với bố mẹ ban
đầu và chọn lọc các cá thể có ưu điểm nổi trội.
Đánh giá và so sánh ảnh hưởng của từng công thức giá thể đến sinh
trưởng và phát triển của cây hoa Lan huệ từ đó xác định công thức tối ưu.
Đánh giá và so sánh ảnh hưởng của một số loại phân bón gốc đến sinh
trưởng và phát triển của cây hoa Lan huệ từ đó xác định công thức tối ưu.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

Đánh giá và so sánh ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến
sinh trưởng và phát triển của cây hoa Lan huệ từ đó xác định công thức tối ưu.
1.2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Việc lai hữu tính và chọn lọc các tổ

hợp lai có khả năng sinh
trưởng, phát triển tốt sẽ tạo được nguồn vật liệu phong

phú góp phần bổ sung
thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác chọn tạo những giống hoa
có đặc tính mới.
- Chọn lọc một số dòng lai hoa Lan huệ có màu sắc mới lạ, bổ sung vào
bộ giống phù hợp với yêu cầu sản xuất ở Việt Nam.


những người trồng hoa ở Hà Lan nhập khẩu một vài loài từ Mexico và Nam
Mỹ. Quá trình nhân giống và lai tạo được diễn ra trong suốt thế kỷ 18, sau đó
loài hoa này được chú ý đến ở Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ 19. Năm 1946, hai
người trồng hoa ở Hà Lan mang cây hoa này đến Nam Phi và bắt đầu trồng
trọt tại đây.
Mặc dù hầu hết các cây hoa trong chi Hippeastrum đều xuất phát từ Hà
Lan và Nam Phi nhưng ngày nay chúng lại rất phát triển ở Anh, Nhật, Isarel,
Ấn Độ, Brazil và Australia (Mathew và Brian ,1999) [18], [20], [24].
Ở Việt Nam hiện chưa có nhiều loài trong chi Hippeastrum nhưng sự
phân bố của chúng là khá đa dạng, có thể bắt gặp các loài hoa trong chi này

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

khắp nơi trên cả nước từ Bắc vào Nam, từ vùng núi đến đồng bằng. Ở miền
Nam thấy xuất hiện các loài hoa thuộc chi này nhiều hơn Miền Bắc, việc
trồng trọt, nhân giống, mua bán các loại cây này cũng diễn ra khá phổ biến
trong khi đó ở miền Bắc còn chưa nhiều.
2.1.2. Đặc điểm thực vật học
2.1.2.1. Đặc điểm hình thái
Các loài thuộc chi Hippeastrum có dạng thân hành, hình cầu, có áo
mỏng bao ngoài. Lá tập trung ở gốc gần như thành 2 dãy; phiến lá hình dải,
hình kiếm, hình mũi mác, hơi khum thành lòng máng, dài, cứng, có nhiều gân
song song. Cụm hoa tán có từ 2 đến nhiều hoa. Trục hoa (cành mang hoa)
hình trụ, thẳng đứng, rỗng. Lá bắc tổng bao dạng mo, gồm 2 cái, mỏng, tồn
tại. Hoa to, đều, lưỡng tính, màu sắc sặc sỡ, có cuống. Bao hoa hình phễu, nằm
ngang hoặc rũ xuống, 6 mảnh, dạng tràng, phần dưới dính nhau thành ống,
ngắn, họng có 1 vòng vảy ngắn hoặc một vòng tràng phụ cụp vào trong, phần
trên 6 thuỳ, xếp 2 vòng, các thuỳ bằng nhau hoặc các thuỳ vòng trong hẹp hơn.
Nhị 6, chỉ nhị tách rời nhau, đính ở họng ống bao hoa; bao phấn 2 ô, đính lưng,
hướng trong, mở bằng khe dọc. Bầu hạ, 3 ô, đính noãn trung trụ, mỗi ô nhiều

sóc tốt đã cho tới 3 ngồng trong một vụ hoa. Một củ hoa phải ra ít nhất 4 lá to
và khỏe vào năm trước thì mới có khả năng lại cho hoa vào mùa hoa năm sau.
Một số củ xuất hiện 2 ngồng hoa cùng một lúc nhưng thường thì chúng ra hoa
lệch nhau, ngồng thứ 2 có thể ra muộn hơn ngồng thứ nhất vài ngày cho đến
vài tuần, cá biệt có thể đến vài tháng. Ngồng sau thường có ít hoa hơn so với
ngồng trước, thường là 2 đến 3 hoa trên ngồng trong khi ngồng thứ nhất có 4
hoa [35].
Các cây trong chi Hippeastrum có một đặc điểm là không ra lá trước
khi cây ra hoa. Nhiều khi bộ lá tàn lụi hẳn cây mới bắt đầu nhú ngồng hoa.
Các củ hoa Hà Lan thì thường ra hoa trước, đến khi hoa tàn thì mới bắt đầu ra
lá. Còn các củ hoa từ Nam Phi thì lại ra lá cùng với sự xuất hiện ngồng [35].
Hầu hết các cây có thân hành và giò ngầm đều có thời kỳ ngủ nghỉ dưới
đất trong sau khi cây ra hoa và đây cũng là thời kỳ cần ít sự quan tâm chăm
sóc nhất trong năm. Các loài thuộc chi Hippeastrum cũng như hầu hết các cây
họ hành khác đều yêu cầu đất thoáng khí, thoát nước tốt. Điều này vô cùng
quan trọng vì thân hành dễ bị thối vào thời kỳ ngủ nghỉ nếu đất quá ẩm và

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

kém thoáng khí.
Nhiều giống thuộc chi Hippeastrum có khả năng sinh trưởng phát
triển tốt hơn

khi được trồng trong điều kiện che bóng nhẹ. Vì vậy, có thể
trồng cây dưới tán

cây lớn hoặc đưa chậu trồng cây vào ban công, hiên nhà,
cây vẫn phát triển tốt.
2.1.4. Đặc điểm thực vật học của loài Hippeastrum equestre Herb. (Lan
huệ, Loa kèn đỏ)


thường có 6 đến 8 lá, lá dẹt dài khoảng 18 inch
(45 cm) màu lục. Những cây thuộc giống Hippeastrum equestre là loài dễ
trồng nhất, tươi tốt nhất và màu sắc rực

rỡ nhất (John D. Fellers, 1998).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

Đây là loài có nguồn gốc Nam Mỹ, mang đầy đủ các đặc điểm đặc
trưng của chi. Cây có thân hành, gần như hình cầu, có áo mỏng bao ngoài. Lá
tập trung ở gốc gần như thành 2 dải. Cụm hoa tán, 2 - 4 hoa, trên 1 ngồng hoa
chung, hình trụ, rỗng, dài 30 - 50 cm, đường kính 1,5 - 2 cm, thẳng đứng mặt
ngoài phủ phấn trắng. Lá bắc tổng bao dạng mo gồm 2 cái, kính thước 6 - 7 ×
3 - 4, màu trắng xanh, mỏng, tồn tại. Hoa khi nở đường kính lên tới 15 cm,
đều, lưỡng tính, màu đỏ hoặc đỏ cam, gốc màu xanh vàng hoặc vàng trắng,
cuống dài 4 - 5 cm. Nhị 6, chỉ nhị rời nhau, hình trụ, dài 6 - 7 cm, đầu hơi
cong, đính ở họng cuống bao hoa, nghiêng về một phía, bao phấn hình trụ dài
2 - 2,5 cm màu trắng ngà, 2 ô, đính lưng, mở bằng khe dọc. Bầu hạ, vòi nhụy
màu đỏ, dài tới 10 cm, đầu nhụy 3 thuỳ, màu trắng. Quả nang, hình cầu hoặc
hình thuôn.
Ra hoa vào mùa xuân hè thường được trồng làm cảnh, hoa rất đẹp.
Phân bố: Trồng tại một số địa phương, còn có ở một số nước Đông
Nam Á, Nam Mỹ.
Các chủng lai tạo có hoa màu sắc khác nhau như :
- H. equestre var. alba: Hoa màu trắng.
- H. equestre var. splendes: Hoa màu đỏ, cuống dài.
- H. equestre var. fulgidum: Hoa màu vàng cam tươi, mép cánh có viền trắng.
- H. equestre var. major: Hoa lớn, màu vàng cam tươi, gốc cánh hoa
màu xanh [37].

Lan huệ là cây rất sợ úng, việc cung cấp nước thường xuyên giúp cho cây
khoẻ mạnh và không bị héo, nhất là thời kỳ cây ra hoa đây là thời kỳ cây cần
cung cấp nước nhiều nhất, thiếu nước trong giai đoạn này ngồng hoa chậm phát
triển, còi cọc, cánh hoa mỏng và yếu ớt. Vào mùa đông cây cần tưới ít hơn.
Ở thời kỳ mới trồng củ xuống đất, rễ chưa bén cần cung cấp ít nước,
nếu tưới nhiều nước hoặc khi trồng gặp mưa nhiều củ Lan huệ có thể bị thối.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

Tưới cho cây vào sáng sớm hoặc chiều mát là thích hợp nhất, tránh tưới
vào lúc trời nắng to. Mùa khô cần phủ gốc bằng các vật liệu hữu cơ để giữ ẩm
cho cây [29].
2.2.3. Nhiệt độ
Lan huệ cũng như các loài khác thuộc chi Hippeastrum có thể chịu được
nhiệt độ tương đối cao do có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ nơi mà mùa
hè thường có nhiệt độ cao. Tuy nhiên nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng phát
triển của Lan huệ là 20 - 22
o
C trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, nước tưới và
ánh sáng. Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phân hóa mầm hoa. Để điều khiển
Lan huệ ra hoa cần cho củ Lan huệ trong điều kiện ánh sáng trung bình và có
nhiệt độ khoảng 7 – 13
o
C.
2.2.4. Ánh sáng
Để sinh trưởng phát triển tốt các cây hoa thuộc chi Hippeastrum cần
được chiếu sáng đầy đủ và thường xuyên, Lan huệ thích hợp trồng cả những
nơi bóng râm hay những nơi có nắng. Tuy nhiên nên trồng ở những nơi có
nắng nhẹ vào buổi sáng và đảm bảo thời gian chiếu sáng khoảng 6 giờ/ ngày.
Khi thấy cây xuất hiện ngồng hoa nên đưa cây ra ngoài ánh sáng trực tiếp, ánh

• Nếu bắt đầu từ củ tồn trữ từ tủ lạnh: để củ Lan huệ lên nước ấm
trong vài giờ (chú ý lượng nước chỉ ngập phần rễ mà không ngập củ để tránh
thối củ).
• Không cần trộn phân bón vào trong đất trước khi trồng, nếu cần
thiết thì chỉ nên trộn lượng nhỏ phân NPK (khoảng 1/2 thìa cà phê) vào lớp
đất phía đáy chậu, sau đó phải phủ thêm một lớp đất không có pha trộn phân
bón lên trên sao cho củ không chạm lớp đất có phân bón (lớp đất 10 cm sẽ
vừa vặn với phát triển của bộ rễ) [33], [34].
• Đặt củ ở vị trí giữa chậu, chèn đất vòng quanh củ sao cho 2/3 củ
chìm xuống đất (phần cổ của củ phải trên mặt đất để tránh cho nước không

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

đọng ở đọt làm thối củ) [31].
Chăm sóc:
Có khoảng 85-90% các loài trong chi Hippeastrum là giống có thể trồng
trong nhà có mái che, tuy nhiên nếu cho rằng cây không cần điều kiện chiếu
sáng trong suốt thời gian trước khi ra hoa là hoàn toàn sai lầm. Chỉ nên đưa cây
vào trong nhà khi nhiệt độ trong nhà quá thấp để bảo vệ cây và để thưởng thức
khi cây ra hoa. Cây hoa cần điều kiện chiếu sáng vài giờ trong ngày, tuy nhiên
nếu để cây ở ngoài nắng suốt mùa hè thì nhiệt độ cao và ánh sáng trực xạ có thể
gây cháy lá. Do đó tốt nhất là nên để cây dưới giàn có mái che (Tô Thị Mai
Dung, 2008) [4].
Trong suốt thời gian từ sau trồng cho tới khi cây nảy lộc mới cần giữ
ẩm và bón lượng dinh dưỡng cần thiết, sau đó việc tưới nước có thể không
cần nghiêm ngặt. Khi tưới chú ý không tưới trực tiếp lên đỉnh ngọn cây, nên
tưới xung quanh gốc sẽ tốt hơn.
Yêu cầu về phân bón của cây Lan huệ không cao, thông thường vào
mùa xuân chỉ bón một ít lúc ra hoa là đủ, để cho củ to kỳ ra hoa bón 1 - 2 lần
P, K. Sau khi trồng, khi đã thấy chồi xuất hiện, cung cấp phân bón 2 tuần 1 lần,

gian bị hại, trên lá sẽ có nhiều vết nâu đỏ, khô đi sau đó lá bị rụng. Nếu bệnh
xuất hiện trên củ sẽ làm củ bị thối rữa.
Lan huệ còn có thể bị nhiễm một số bệnh khác do tác nhân virus gây ra
là Hippeastrum mosaic virus (HiMV) gây bệnh khảm lá và Vallota speciosa
virus (ValSV) gây bệnh đốm hình nhẫn.
Phòng trừ: Để hạn chế sự xâm nhập của nấm ký sinh, khi chăm sóc cần
tránh làm tổn thương tới cây, dụng cụ cắt phải được sát trùng.
Đối với bệnh do nấm gây ra thì việc tưới nước có thể thúc đẩy sự phát
triển của Fusarium. Fusarium và bệnh nấm khác có thể được ngăn ngừa bằng
cách tránh độ ẩm cao, phun oxychloride đồng (0,75%) hoặc bằng cách xử lý
củ trong nước ấm 43,5
o
C trong 2 giờ.
Bệnh do virus thường lây lan qua côn trùng như rệp hoặc thông qua cơ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14

học bằng cách sử dụng cùng một công cụ để cắt các cây bị nhiễm bệnh và
khỏe mạnh. Khi phát hiện các cây bị nhiễm bệnh khảm lá hoặc đốm hình nhẫn
cần hủy bỏ. Để ngăn chặn sự lây lan của bệnh cần tiêu diệt côn trùng bằng
cách phun thuốc phòng trừ định kỳ và làm sạch cỏ dại xung quanh có thể
chứa virus [31].
2.5. Những nghiên cứu trong và ngoài nước về chọn tạo giống lai cây hoa
thuộc chi Hippeastrum
2.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, từ nhiều năm trước đây người ta đã tiến hành lai tạo các
giống hoa lan Huệ (Hippeastrum sp.). Hippeastrum reginae được đưa vào canh
tác năm 1728, giống lai phổ biến nhất của nó là Hippeastrum johnsonii (H.
reginae x H. vittatum) , được coi là giống lai đầu tiên giữa các loài Hippeastrum
vào năm 1799 do ông Johnson một nhà sản xuất đồng hồ ở Lancashire thực hiện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status