Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, Giá trị lịch sử và thời đại - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
MÔN TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
Đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao.
Giá trị lịch sử và thời đại Giảng viên: PGS. TS Trần Minh Trưởng
Học viên: Phạm Thị Hoa
Ngành: Hồ Chí Minh học K6 (2010)
Hà Nội, tháng 4 năm 2012
MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế
giới. Người còn là một nhà ngoại giao kiệt xuất, từng giữ cương vị Bộ trưởng
Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh, sự hình thành và
phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình khảo sát thế giới,
tích lũy tri thức và gắn liền với hoạt động lý luận, thực tiễn cách mạng của Nguyễn
Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống những
nguyên tắc, quan điểm của Người về thế giới và thời đại, về đường lối đối ngoại
của Đảng, chiến lược, sách lược ngoại giao của Nhà nước Việt Nam.
1. Cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Cơ sở hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là sản phẩm kết hợp truyền thống văn hóa
dân tộc và truyền thống ngoại giao Việt Nam, tinh hoa văn hóa phương Đông,
phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới. Trên nền tảng ấy, với những phẩm
chất và trí tuệ tinh tường được tôi luyện trong quá trình lao động, học tập, tranh đấu
trong hoạt động cách mạng, đã hình thành nên nhân cách ngoại giao – văn hóa Hồ
Chí Minh.
Truyền thống văn hóa dân tộc
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một dân tộc có truyền thống văn hóa lâu

giao. Đó có thể nói chính là tố chất ngoại giao thiên bẩm của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh tiếp thu văn hóa của nhiều nước phương Đông, phương Tây và
kinh nghiệm ngoại giao thế giới
3
Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng “thế giới đại đồng”, “tứ hải
giai huynh đệ” trong Nho giáo. Đó là tư tưởng xây dựng một thế giới đại đồng
không có chiến tranh, mọi người sống với nhau hòa mục, không có sự phân biệt
nước lớn, mà chỉ có sự hòa đồng giữa con người với con người, con người với
thiên nhiên.
Hồ Chí Minh còn nghiên cứu kỹ phép dùng binh của Tôn Tử để hình thành
nên bài học ngoại giao để thắng địch: dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ
hai là đánh bằng ngoại giao, thứ ba mới là đánh bằng binh.
Người cũng đề cao những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và các quyền con
người trong cách mạng tư sản Pháp và Mỹ.
Thời đại Hồ Chí Minh bước vào hoạt động chính trị, những năm đầu thế kỷ
20, chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thế
giới. Nhu cầu mở rộng thị trường, thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ngày càng lớn,
nên gắn liền với việc gây chiến tranh xâm lược. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ
thống thế giới, xác lập sự thống trị, nô dịch thực dân đối với các dân tộc trên phạm
vi thế giới. Khi đó sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa
muốn giành thắng lợi, không thể hành động riêng rẽ mà phải có quan hệ với nhau,
phối hợp đoàn kết cùng nhau chống kẻ thù chung. Bối cảnh thời đại chủ đạo này đã
có tác động mạnh mẽ tới phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam. Điều đó
cũng chi phối sự hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Nhân tố có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sự hình thành tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh đó là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ quốc tế.
Trong đó, quan điểm về đoàn kết giai cấp vô sản thế giới, về vấn đề hợp tác giúp
đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc thuộc địa và tinh thần quốc tế vô sản trong sáng được
Mác – Lênin nêu ra trong luận thuyết của mình. Trong “Tuyên ngôn Đảng cộng
sản”, Mác – Ăngghen nêu rõ: vô sản giai cấp toàn thế giới đều là anh em. Muốn

ký với Chính phủ Pháp.
5
Rõ ràng, với Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin cùng
các giá trị văn hóa, nhân văn dân tộc và thế giới, những kinh nghiệm đúc rút từ nền
chính trị quốc tế, thông qua hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú đã hòa quyện
trong mối liên hệ biện chứng, là cội nguồn của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Quá trình hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh:
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã dần hình thành trong nhận thức và được
thể hiện sinh động trong hoạt động trực tiếp của Người qua hai thời kỳ cơ bản:
Thời kỳ khảo sát thế giới, tích lũy tri thức, kinh nghiệm về quan hệ ngoại
giao và tích cực xây dựng quan hệ với lực lượng Đồng minh chống phá xít, giành
độc lập
Đây là thời kỳ hình thành những nhận thức ban đầu, tích lũy kiến thức, kinh
nghiệm về quan hệ quốc tế, rút ra những kết luận ban đầu về thế giới, thời đại, về
quan hệ dân tộc – giai cấp, quốc gia – quốc tế; là những vấn đề rất quan trọng trong
việc hình thành nên tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh. Thời kỳ này bắt đầu từ
việc ra đi tìm đường cứu nước, với hành trình khảo sát thực tiễn khắp năm châu,
cùng với quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm, sự nhận thức về thế giới và thời
đại của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng bước sáng tỏ. Đặc biệt khi tiếp
cận với những nguyên lý về đoàn kết giai cấp, tinh thần quốc tế vô sản trong học
thuyết Mác – Lênin, tư tưởng của Người đã định hình về đường lối cách mạng giải
phóng dân tộc nói chung, về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và các vấn
đề có tính nguyên tắc, quan điểm khi xử lý các mối quan hệ quốc tế. Từ nhận thức
đó, Người vận dụng vào việc xây dựng đường lối của cách mạng Việt Nam, đưa
cách mạng Việt Nam dần đến thắng lợi.
Thời kỳ từ sau khi nước nhà giành được độc lập, Hồ Chí Minh chỉ đạo việc
hoạch định đường lối đối ngoại, chính sách ngoại giao với tư cách là người lãnh
đạo cao nhất của Đảng và là Nguyên thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có thể nói, thời kỳ này dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những
quan điểm, nguyên tắc trong đường lối đối ngoại của Đảng, trong chính sách ngoại

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000, tập 3, tr. 459
7
giao độc lập tự chủ là vấn đề vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, với kinh nghiệm, trí tuệ
và sự khôn khéo trong đường lối và hoạt động ngoại giao, Hồ Chí Minh đã lãnh
đạo Đảng và Nhà nước ta vượt qua những thử thách, giữ vững đường lối ngoại giao
độc lập, tự chủ, duy trì hài hòa mối quan hệ với cả Liên Xô và Trung Quốc trong
khi hai nước có bất đồng sâu sắc. Người còn nhiều lần vận động hai nước Xô –
Trung hãy gạt bỏ mâu thuẫn để tăng cường sức mạnh chống chủ nghĩa đế quốc,
đồng thời cũng tỏ rõ ý thức tự chủ về lập trường, quan điểm và đường lối đối ngoại
của Việt Nam là không chịu bất cứ sức ép nào từ bên ngoài. Qua việc xử lý mối
quan hệ Việt – Trung – Xô, những giải pháp tháo gỡ bất đồng giữa Việt Nam và
các nước lớn, chúng ta thấy ở Hồ Chí Minh có sự hội tụ đầy đủ giữa kinh nghiệm,
tài năng, bản lĩnh và uy tín của một nhà ngoại giao lỗi lạc. Đó là thành công lớn về
mặt ngoại giao của Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh.
Có thể nói, xuất phát từ sự chỉ đạo mềm dẻo nhưng kiên định của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về đường lối ngoại giao độc lập tự chủ, mà vấn đề quốc tế hóa cuộc
chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam không thực hiện được, mưu đồ lôi kéo Liên hợp
quốc can thiệp vào Việt Nam của Mỹ bị thất bại. Chúng ta đã hoàn toàn chủ động
khống chế phạm vi cuộc chiến tranh, chủ động đánh và đàm với Mỹ.
Ta cũng cần chú ý, tư tưởng độc lập tự chủ của Hồ Chí Minh trong quan
điểm ngoại giao không phải là tự cô lập, mà Người thường xuyên chỉ đạo phải gắn
liền độc lập tự chủ với đoàn kết quốc tế. Vấn đề là dù trong bất cứ hoàn cảnh nào
cũng không để sứ mạng của dân tộc bị lệ thuộc vào một nước khác, cho dù đó là
những nước đồng minh. Nắm vững nguyên tắc độc lập tự chủ, theo Hồ Chí Minh,
cũng không có nghĩa là thực hiện đường lối máy móc, cứng nhắc mà phải “biết
cương, biết nhu”, giải quyết bất đồng thông qua đàm phán để đi đến thống nhất.
Hai là, kết hợp dân tộc với quốc tế, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tinh thần độc lập tự chủ “đem sức ta mà giải
phóng cho ta”, tự lực cánh sinh dựa vào sức mình là chính, coi sức mạnh bên trong
bao giờ cũng là yếu tố quyết định. Đồng thời, Người cũng khẳng định: cách mạng

.
2
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, t.8 , tr. 437
3
Dẫn theo Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2008, tr. 127
9
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy sự nhất trí giữa lợi ích dân tộc với quốc tế,
đó chính là sự hội tụ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh toàn
diện cho Việt Nam. Ngay sau khi giành được chính quyền, năm 1946, Hồ Chí Minh
đã tính tới việc tranh thủ hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài bằng chính sách
mở cửa và hợp tác, kể cả của Pháp, để xây dựng đất nước, từ đó tranh thủ sự ủng hộ
bên ngoài đối với nền độc lập của Việt Nam. Thực tế, trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã ra sức vận động để hình thành một Mặt trận
nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam nhằm khắc phục hạn chế về tiềm lực kinh tế,
quân sự và cô lập kẻ thù ở khắp mọi nơi, hạn chế sức mạnh chiến tranh của Mỹ ở
chính nước Mỹ. Ngay những người cầm đầu Chính phủ Mỹ cũng phải thừa nhận,
cùng với chiến tranh Việt Nam, có một cuộc chiến tranh ngay trong lòng nước Mỹ.
Phong trào phản kháng cuộc chiến tranh cuả Mỹ ở Việt Nam đã thu hút đông đảo
chính giới và các tầng lớp nhân dân Mỹ tham gia. Đã có hơn năm ngàn giáo sư đại
học và nhiều nghị sĩ quốc hội ký vào bản kiến nghị đòi chấm dứt chiến tranh. Phong
trào xuống đường của sinh viên, phong trào xé thẻ quân dịch của thanh niên, phong
trào ủng hộ hòa bình Việt Nam của các bà mẹ Mỹ, những cuộc tự thiêu phản đối
chiến tranh của những người Mỹ yêu tự do… Điều đó đã tạo nên sức ép to lớn, cùng
với những thất bại về quân sự, buộc Nhà Trắng phải từng bước xuống thang chiến
tranh, ngồi vào bàn đàm phán hòa bình. Việc kết hợp các lực lượng đối ngoại đã phát
huy được sức mạnh tổng hợp, làm cho chính nghĩa của dân tộc ta càng thêm tỏa
sáng, tiếp thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta.
Ba là, phát huy truyền thống hòa hiếu dân tộc, giương cao ngọn cờ độc
lập và hòa bình, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ.
Do vị trí địa lý, ở bên cạnh một nước lớn, có tư tưởng bành trướng, bá quyền

nhân dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “nhân dân Việt
Nam chỉ muốn có hòa bình, một nền hòa bình thực sự, để kiến thiết quốc gia với sự
cộng tác của những người bạn Pháp chân chính”
7
. Những quan điểm đó của Hồ
Chí Minh đã đặt nền móng cho tư tưởng đa phương hóa, đa dạng hóa công tác đối
ngoại của Đảng và nhà nước ta hiện nay.
4
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000 , tập 5, tr. 30
5
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000 , tập 5, tr. 19
6
Tạp chí Quan hệ quốc tế, số 5 – 1991, tr. 46
7
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000 , tập 5, tr. 11
11
Bốn là, phối hợp ngoại giao với chính trị, quân sự thông qua hoạt động
quốc tế của Đảng, ngoại giao của nhà nước và ngoại giao nhân dân, tạo nên từ
sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi.
Hồ Chí Minh luôn khẳng định kết hợp chặt chẽ ngoại giao với chính trị, quân
sự, coi ngoại giao là một mặt trận. Đảng ta xác định “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại
giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”
8
. Năm 1944, khi lực lượng ta
còn yếu, Người đã nói “Nếu mình chưa có lực lượng làm cơ sở thì hãy khoan nói
đến ngoại giao”
9
.
Đường lối đối ngoại luôn xuất phát từ đường lối chính trị, phục tùng và phục vụ
đường lối chính trị. Sức mạnh ngoại giao cũng tùy thuộc vào nội lực quốc gia “Thực

11
. Tư
tưởng ngoại giao nhân dân được hình thành từng bước. Năm 1948, ta giành thắng
lợi quân sự trên các chiến trường, nhưng về ngoại giao, thế giới chưa biết nhiều về
cuộc chiến đấu của ta. Bác Hồ đã chỉ đạo tổ chức một đoàn cán bộ (gồm 10 người)
ra nước ngoài tuyên truyền về cuộc kháng chiến, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân
thế giới. Đây là đoàn công tác ngoại giao nhân dân đầu tiên của nước ta cử ra nước
ngoài. Đến Đại hội lần thứ II, Đảng cộng sản Đông Dương, năm 1951, lần đầu tiên
đưa ra khái niệm “ngoại giao nhân dân”, nêu lên nhiệm vụ phát triển ngoại giao
nhân dân rộng rãi. Vì vậy, ngoại giao Hồ Chí Minh là ngoại giao mang tính nhân
dân sâu sắc.
Năm là, kiên định về mục tiêu, linh hoạt về sách lược, luôn luôn giữ thế
tiến công nhưng biết nhân nhượng, thỏa hiệp đúng lúc, đúng nguyên tắc để
giành thắng lợi từng bước, đi tới thắng lợi hoàn toàn.
Mục tiêu nhất quán của Hồ Chí Minh là “phấn đấu xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp
cách mạng thế giới”.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của cách mạng, căn cứ vào tương quan
lực lượng và tình hình quốc tế, mục tiêu chung đó thường được cụ thể hóa thành
mục tiêu từng bước và có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với diễn biến của
tình hình, điều quan trọng là mục tiêu từng bước phải tạo cơ sở vững chắc để tiến
đến mục tiêu cuối cùng. Đó là mục tiêu độc lập và thống nhất Tổ quốc.
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng là nhà ngoại giao biết thương lượng, nhân
nhượng, thỏa hiệp đúng lúc, theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Vì vậy,
11
Dẫn theo Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2008, tr. 168
13
Người thường nhắc nhở cán bộ ta: trong đấu tranh ngoại giao phải kiên trì, chớ nôn
nóng. Kẻ thù dù thất bại, buộc phải xuống thang, nhưng vì thể diện, nó cũng chỉ
xuống thang dần dần. Ta cũng phải biết thắng từng bước.

và luôn đặt quan hệ này trong tổng thể các mối quan hệ khu vực, toàn cầu, không
ngừng mở rộng tập hợp lực lượng quốc tế. Hồ Chí Minh không bỏ lỡ cơ hội nào để
hòa giải với nước Pháp. Ngay sau khi hòa bình lập lại, năm 1954, đứng trước khả
năng phải đương đầu với đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm
triển khai quan hệ đối ngoại trên nhiều hướng. Người luôn tìm kiếm cơ hội hòa
bình với nước Mỹ. Người nêu chủ trương “trải thảm đỏ” hay “nhịp cầu vàng” để
quân đội Mỹ rút về nước. Nhìn chung, chính sách của ta với các nước lớn phải dựa
trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, vừa hợp tác vừa đấu tranh và bảo đảm lợi ích
chính đáng của dân tộc.
Giữ cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn
giành ưu tiên cho mối liên hệ với các nước láng giềng gần gũi trong khu vực, trước
hết là Lào và Campuchia cùng chiến đấu chống kẻ thù chung.
Quan hệ với các nước láng giềng luôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với
nước ta, vì trước hết phải xây đắp và củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị với
các nước láng giềng có chung biên giới. Đó là cơ sở để mở rộng bang giao với các
nước trong khu vực và trên thế giới.
Với nước láng giềng Trung Quốc, vốn có quan hệ lịch sử lâu đời với Việt
Nam, bằng những hoạt động liên tục, không mệt mỏi suốt nửa thế kỷ, Người đã rất
quan tâm phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với Trung Quốc, xây đắp nên mối
quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Người từng nói: “Trung Quốc là một
nước vĩ đại, hùng cường và đẹp đẽ. Nền văn hóa lâu đời và ưu tú của Trung Quốc
đã có ảnh hưởng sâu xa ở Châu Á và trên thế giới”
12
. Trong thời kỳ hoạt động ở hải
ngoại, Nguyễn Ái Quốc quan tâm sâu sắc và ủng hộ nhiệt thành sự nghiệp cách
12
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000 , tập 8, tr. 2
15
mạng của nhân dân Trung quốc. Người thường xuyên thăm viếng Trung Quốc từ
năm 1950 đến khi qua đời, am hiểu sâu sắc văn hóa Trung Quốc, kết nối thân tình

Nhiệm vụ cách mạng của Việt Nam vẫn là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập quốc
tế là những yêu cầu đặt ra đối với tất cả các ngành, trong đó có đối ngoại, là nội
dung then chốt và cơ bản của chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn tới.
Đối với hoạt động đối ngoại, Đảng và nhà nước ta sớm nhận thức những
chuyển biến mới trong tình hình thế giới và thực hiện quá trình đổi mới tư duy đối
ngoại. Trong tình hình đó, chúng ta cần nắm vững tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh, vận dụng tốt để xác lập một đường lối, chính sách đối ngoại khôn khéo,
mềm dẻo, có khả năng thích ứng với những diễn biến phức tạp có thể xảy ra, theo
tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thực hiện theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chủ trương thực hiện
đường lối đối ngoại theo nguyên tắc: giữ vững được độc lập, tự chủ, tranh thủ thời
cơ, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ song phương và đa phương, trên
nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình
đẳng, cùng có lợi. Việt Nam sẵn sàng hợp tác và chủ động chọn đối tác hợp tác,
không phân biệt chế độ chính trị, nhưng chú trọng hợp tác với các nước láng giềng,
khu vực, trong khi hợp tác cần linh hoạt, nhưng phải chú ý giữ vững nguyên tắc: lấy
lợi ích dân tộc làm đầu, tuyệt đối không được có tư tưởng hợp tác với bất cứ giá nào.
Trong quan hệ hợp tác quốc tế, chú trọng quan hệ với những đối tác truyền thống,
thể hiện sự thủy chung trong sáng, hữu nghị trước sau như một của nhân dân ta.
Đường lối, quan điểm ngoại giao đó của Đảng ta thực hiện nhất quán trong
các Nghị quyết 13 của Bộ chính trị (1988), Nghị quyết 6 của Ban chấp hành TW
(1989) và được khẳng định tại Đại hội VII của Đảng, sau đó là Nghị quyết 3 của
TW (khóa 7 năm 1992), Đại hội VIII, IX, X của Đảng… Đại hội XI của Đảng
17
(2011) tiếp tục giữ vững nguyên tắc: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ, chủ động tích cực hội nhập quốc tế”. Đồng thời căn cứ vào tình hình cụ thể,
Đảng ta cũng bổ sung những nội dung mới: nâng cao vị thế của đất nước, vì lợi ích
quốc gia dân tộc; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng

cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Trong xu thế quốc tế hóa hiện nay, cần phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập,
chủ động hợp tác với các nước, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức viện trợ
nhân đạo… nhằm khai thác triệt để tiềm năng về vốn, công nghệ, văn hóa trên
nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi. Vận dụng tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh trong hoạt động đối ngoại hiện nay để nhận thức đúng đắn và
đầy đủ tính chất của thời đại, nhận biết những mâu thuẫn cơ bản, chiều hướng diễn
biến của thời cuộc để xác định và xây dựng vị trí phù hợp và có lợi cho mình để
tranh thủ và phát huy được các điều kiện và cơ hội thuận lợi mà tình hình mới đưa
lại, đồng thời hạn chế được những tác động tiêu cực “chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc, bảo vệ môi trường”
13
. Trong đó, việc xử lý đúng đắn và hài hòa quan hệ của
Việt Nam với các nước láng giềng và nước lớn vẫn là vấn đề được coi trọng trong
chính sách đối ngoại của Việt Nam. Tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ với các
nước bạn bè truyền thống, với các nước trong khu vực ASEAN…
Bài học về “dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Theo Hồ Chí Minh “cái bất biến” trong công tác ngoại giao chính là phải
luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ, “cái vạn biến” là đường lối chiến lược, sách
lược ngoại giao trong từng thời kỳ, tùy từng đối tượng quan hệ mà đề ra đối sách
13
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.
120
19
ngoại giao cho phù hợp, hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn vận dụng linh hoạt
cả “cái bất biến” và “cái vạn biến” trong đường lối chiến lược cách mạng và nghệ
thuật ngoại giao để cuối cùng đạt được mục tiêu đã định, và phải biết tiến, biết lùi,
biết thắng từng bước.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, H. 1987.
2. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, t.8
3. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2001.
4. Đảng cộng sản Việt nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000, tập 3
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000, tập 5
7. Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc
gia, H. 2002.
8. Tạp chí Quan hệ quốc tế, số 5 – 1991, tr. 46
9. Trần Minh Trưởng: Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ
1954 đến 1969, Nxb. Công an nhân dân, H. 2005.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status