1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Nói về tầm quan trọng của việc nắm vững lịch sử, qua đó giáo dục niềm tự hào
về lịch sử dân tộc, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục ở nước ta hiện nay, chất lượng dạy học của môn Lịch
sử chưa cao. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng này là chậm đổi
mới phương pháp dạy học. Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp
đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.”
Dạy học lịch sử là quá trình giúp học sinh (HS) tìm hiểu những gì đã diễn ra ở
quá khứ, và mục tiêu của bộ môn Lịch sử chính là việc giúp HS biết quá khứ, hiểu
quá khứ đồng thời rút ra những bài học từ quá khứ để vận dụng vào trong cuộc sống
hiện tại và tương lai.
Đặc thù học tập của môn Lịch sử là các em phải tiếp cận với nhiều sự kiện lịch
sử, với những vị anh hùng… bản thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất là
những bài, những chương viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày,
tháng, năm xảy ra sự kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên các
lĩnh vực Khi học lịch sử thì yêu cầu các em nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học
một cách chính xác và đầy đủ, vì thế bộ môn Lịch sử khó gây được hứng thú cho các
em, làm cho các em cảm thấy nặng nề, gò ép và nhàm chán.
Trong thực tế, lịch sử là môn học có kiến thức liên môn, song có lẽ có mối
quan hệ tác động qua lại mật thiết và bổ sung cho nhau nhiều nhất là mối quan hệ
giữa lịch sử và văn học. Tài liệu văn học nói chung và thơ văn nói riêng ở nước ta có
khả năng biểu hiện nội dung lịch sử rất sâu sắc, nó không chỉ có giá trị như những tài
liệu lịch sử, mà còn phản ánh được bản chất của từng sự kiện lịch sử cụ thể. Nếu như
văn học thường mô tả những sự kiện bằng hình tượng thì lịch sử tái tạo lại quá khứ
bằng những con số, sự kiện cụ thể, điều đó đã tác động rất lớn đến nhận thức của HS.
Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, nội dung
chứng. Mức độ ảnh hưởng là 0.81 cho thấy có tác động có ảnh hưởng lớn đối với
nhóm thực nghiệm. Điều đó chứng minh rằng sử dụng phương pháp kể chuyện kết
hợp với thơ văn trong dạy học làm nâng cao kết quả học tập lịch sử cho HS lớp 10
Trường THPT Nguyễn Trung Trực.
2. GIỚI THIỆU
Kể chuyện lịch sử là một phương pháp dùng lời nói để diễn tả một cách sinh
động hấp dẫn, có hình ảnh về một câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Câu chuyện
kể có khi chỉ là những mảnh sự kiện, biến cố lịch sử liên quan đến nội dung bài học,
có khi là những tình tiết liên quan đến các nhân vật lịch sử, có khi chỉ là giải thích
cho một cái tên, địa danh, cho một khái niệm, thuật ngữ trong bài học. “Những câu
chuyện lịch sử mang lại giá trị vô cùng to lớn bởi đó là những bài học làm người,
hình thành nhân cách sống”.
Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử kết hợp với thơ văn không chỉ tạo
hứng thú học tập cho HS, giúp HS nắm vững bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử mà
còn góp phần giáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng, tình cảm đúng đắn.
Một số công trình nghiên cứu liên quan:
- “Sử dụng tài liệu văn học dân gian phục vụ giảng dạy và học tập lịch sử Việt
Nam trong trường phổ thông ” của tác giả Đặng Hoàng Sang - Hội khoa học lịch sử
Đồng Tháp.
- “Giải pháp hữu ích tăng cường hứng thú cho HS thông qua kể chuyện lịch
sử trong dạy học lịch sử ở trường THCS”, tác giả Tạ Văn Tuấn, Trường trung học cơ
sở Đinh Trang Hòa.
- “Sử dụng tài liệu thành văn nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học
lịch sử Việt Nam giai đoạn (1919 – 1945” của Nguyễn Hải Yến.
- “Sử dụng thơ văn để tạo hứng thú cho HS trong dạy học bộ môn Lịch sử ở
trường THPT” của Nguyễn Thị Thúy.
- “Phương pháp kể chuyện nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam
giai đoạn (1946 – 1954)” của Mai Thị Ngọc Lệ.
- “Sử dụng thơ văn trong dạy học lịch sử” của Ngô Thị Hòa.
Tuy nhiên, mỗi công trình chỉ nghiên cứu một mảng của vấn đề, hoặc là sử
- Việc giảng dạy được xem là “lối dạy truyền thống” (thầy đọc, trò chép, nói
lại những điều trong sách giáo khoa, học sinh chỉ ghi nhớ, học thuộc mà không hiểu
nên chóng quên…) đã ăn sâu vào suy nghĩ, thói quen trong cách dạy và học của GV
và HS, chi phối việc chỉ đạo dạy học, việc tổ chức kiểm tra, thi cử.
- Tư tưởng xem nhẹ bộ môn chính, phụ.
- Việc tích cực chủ động tìm tòi tài liệu lịch sử ở HS còn hạn chế.
2.3. Giải pháp thay thế
GV sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp với thơ văn trong giảng dạy lịch
sử nhằm đổi mới phương pháp dạy học của bộ môn để nâng cao chất lượng giảng dạy
cũng như phát triển các năng lực của HS.
Qua phương pháp này giúp HS hứng thú hơn khi học lịch sử, có sự hình dung
đa dạng về quá khứ, tạo được biểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện
tượng lịch sử. Từ đó, các em có thể dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành các
khái niệm lịch sử, nắm được những kết luận khoa học mang tính khái quát. Mặt khác,
nó còn có tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức và hình thành
nhân cách cho HS.
2.4. Vấn đề nghiên cứu
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làm
nâng cao kết quả học tập của HS lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực hay
không?
2.5. Giả thuyết nghiên cứu:
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làm
nâng cao kết quả học tập của hs lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực.
3. PHƯƠNG PHÁP
3.1. Khách thể nghiên cứu
+ GV: Nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục
HS, giảng dạy môn Lịch sử tại trường THPT Nguyễn Trung Trực trực tiếp thực hiện
việc nghiên cứu.
+ HS: Hai lớp chọn: Lớp 10C5 và lớp 10C6 có nhiều điểm tương đồng nhau về
trình độ HS, số lượng, giới tính và độ tuổi.
Lớp
Kiểm tra
trước tác động
Tác động
Kiểm tra
sau tác động
Thực
nghiệm
(Lớp 10C5)
O1
Dạy học có sử dụng phương
pháp kể chuyện kết hợp thơ
văn.
O3
Đối chứng
(Lớp 10C6)
O2
Dạy học bình thường (Không
sử dụng phương pháp kể
chuyện kết hợp thơ văn).
O4
giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)-(Tiếp theo)) chương trình Lịch sử
lớp 10, cụ thể là lớp 10C5 - Trường THPT Nguyễn Trung Trực.
Trong quá trình giảng dạy, GV lựa chọn một số câu chuyện và các bài thơ văn
phù hợp với nội dung bài học để giảng dạy. GV dẫn các câu chuyện và các bài thơ
văn vào bài giảng theo dạng nhập đề (chuẩn bị cho HS tiếp thu bài mới), giới thiệu
vấn đề (khắc sâu kiến thức trọng tâm) và kết luận (tóm tắt những tư tưởng chính, rút
ra kết luận, khái quát hóa) nhằm tạo hứng thú học tập cho HS, giúp HS ghi nhớ tốt
những sự kiện lịch sử, những nhân vật, mốc thời gian, qua đó hiểu rõ bản chất sự
kiện, hiện tượng lịch sử. Trên cơ sở đó giáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng,
nghiệm cao hơn điểm trung bình lớp đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả
của tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.81.
Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc dạy học có sử dụng phương pháp
kể chuyện kết hợp thơ văn đến kết quả học tập của lớp thực nghiệm là lớn.
Giả thiết của đề tài việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong
dạy học làm nâng cao kết quả học tập của hs lớp 10 Trường THPT Nguyễn Trung
Trực đã được kiểm chứng.
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước và sau tác động
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
4.3. Bàn luận
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm là điểm trung bình
= 7.40, kết quả bài kiểm tra tương ứng của lớp đối chứng là điểm trung bình = 5.86.
Độ chênh lệch điểm số giữa hai lớp là 1.54. Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai
lớp đối chứng và lớp thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có
điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0.81. Điều
này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Phép kiểm chứng T- test điểm trung bình sau tác động của 2 lớp là P =
0.0001< 0,05. Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của 2 lớp
không phải là ngẫu nhiên mà là do tác động.
* Hạn chế:
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy
học lịch sử ở bậc THPT là một giải pháp rất tốt để nâng cao kết quả học tập của HS,
Lớp đối chứng (10C6)
Lớp thực nghiệm (10C5)
nhưng để sử dụng phương pháp này có hiệu quả người GV cần phải đầu tư nhiều thời
gian và công sức; biết khai thác các nguồn thông tin, tài liệu; biết chọn lọc tư liệu để
đưa vào tiết dạy sao cho có hiệu quả nhất. Một vấn đề cần lưu ý khác là khi sử dụng
phương pháp này yêu cầu GV phải có giọng nói diễn cảm nếu không kiến thức đưa
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, Nxb
Đại học Sư phạm.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử
cấp trung học phổ thông, Hà Nội.
3. Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (2003),
Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục.
4. Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), Nguyễn Ngọc Cơ (Chủ biên), Nguyễn Anh
Dũng, Trịnh Đình Tùng, Trần Thị Vinh (2006), Lịch sử 10, sách giáo viên,
Nxb Giáo dục.
5. Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh (Chủ
biên), Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Cảnh Minh, Nghiêm Đình
Vỳ (2013), Lịch sử 10, Nxb Giáo dục Việt Nam.
6. Nguyễn Thành (Chủ biên), Phùng Đức Thắng, Đặng Văn Thái (2000), Hồ Chí
Minh Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7. Nguyễn Khắc Thuần (2003), Việt sử giai thoại, tập 1, Nxb Giáo dục.
8. Trịnh Tùng (1999), Phương pháp dạy học lịch sử, Nxb Giáo dục.
9. Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb
Giáo dục.
10.Việt Nam sử ca – sách điện tử.
11.Mạng internet: vi.wikipedia.org, www.sugia.vn, baigiang.violet.vn,
hotrodayhoc.com, vinhphuc.edu.vn …
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN KẾT HỢP THƠ VĂN TRONG
DẠY HỌC BÀI 14, BÀI 15 VÀ BÀI 16 LỊCH SỬ 10
Sau đây là việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học
lịch sử ở bài 14, bài 15 và bài 16 trong chương trình Lịch sử lớp 10 ở trường THPT
Nguyễn Trung Trực mà bản thân tôi đã thực hiện:
Bài 14: Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam
Mục 1. Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc
Cổ Loa thành ốc lạ thường
Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây”
Từ đó HS thêm tự hào về truyền thống dân tộc và có ý thức giữ gìn và xây
dựng đất nước.
Về sự thất bại của nước Văn Lang – Âu Lạc trước sự tấn công của phương
Bắc, từ đó nước ta bước vào thời kì Bắc thuộc, chúng ta có thể kể câu chuyện “Mị
Châu, Trọng Thủy” để HS dễ học dễ nhớ hơn. Hoặc cũng có thể trích dẫn đoạn thơ
sau trong tác phẩm “Việt Nam sử ca”:
“Loa thành nhà Thục thật, hư:
“Nỏ thần trăm phát”? Gian mưu Triệu Đà:
Se duyên, Thục - Triệu thông gia
Đà mang giảo kế lừa nhà Thục Vương.
Xót nàng duyên gãy mà thương
Tội nàng tình thiệt vạ vương rụng rời.
Triệu Đà được nỏ, nuốt lời
An Dương Vương phải bỏ đời giữa khơi!”
Để tổng kết mục 1, GV có thể trích dẫn đoạn thơ sau trong “Việt Nam sử ca”:
“"Giấy rách còn giữ lấy lề"
Người Việt đâu cũng nhớ về chốn quê.
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ
Mười lăm bộ họp dưới cờ Văn Lang.
Họ Hồng Bàng, giữ giang san
Mười tám đời rạng ngai vàng Hùng Vương!”
Qua đoạn trích trên sẽ khắc sâu cho HS kiến thức khái quát về giai đoạn lịch sử
thời kì dựng nước của dân tộc. Từ đó, bồi dưỡng cho HS ý thức về cội nguồn dân tộc,
lòng yêu quê hương đất nước và tình đoàn kết gắn bó dân tộc.
Mục 2. Quốc gia cổ Chăm pa
GV có thể kể chuyện về quá trình mở rộng lãnh thổ của nước ta xuống phía
Nam.
Ví dụ: Năm 1069, Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, bắt được
Về khởi nghĩa của Bà Triệu:
“Có bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ta
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước”
Và tương truyền, quân Ngô khiếp uy dũng của Bà Triệu nên có câu:
“Cầm ngang ngọn giáo chống hổ dễ
Giáp mặt vua bà thực khó ghê”
Với khởi nghĩa Mai Thúc Loan, GV có thể đọc bài thơ sau (được ghi trong
“Tiên chân báo huấn tân kinh” ở đền thờ Ông), để HS nhớ và hiểu hơn nguyên nhân
bùng nổ khởi nghĩa, ca tụng công đức của Mai Thúc Loan:
“Hùng cứ châu Hoan đất một vùng,
Vạn An thành lũy khói hương xông,
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức,
Đường đi cống vải từ đây dứt,
Dân nước đời đời hưởng phúc chung”
Mục 2. Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu
Về khởi nghĩa Hai Bà Trưng, GV sử dụng đoạn thơ trong “Đại Nam quốc sử
diễn ca” để giúp HS nắm được nguyên nhân bùng nổ, kẻ thù, diễn biến và kết quả của
cuộc khởi nghĩa. Từ đó, thấy được khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam trong
buổi đầu đấu tranh giành độc lập:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống dần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành
Kinh kì đóng cõi Mê Linh
Bình minh chiếu sáng sơn hà
Thanh bình tự chủ như là đến phiên!
Nghe qua, Lương Đế đảo điên
Xua quân lấn chiếm, Bá Tiên phụng quyền.
Thua đi, thắng lại truân chuyên
Lý Bôn quyết định trao quyền Triệu Vương.”
Khi giảng về Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938, GV kể về tài
năng của Ngô Quyền trong việc lợi dụng thủy triều lên xuống, ông đã tính toán và
cho đóng cọc xuống cửa sông Bạch Đằng, lên kế hoạch cho quân mai phục và nhử
địch vào trận địa, đúng như kế hoạch đánh thắng giặc sau một ngày. HS sẽ thấy được
tài trí của người Việt từ đó bồi dưỡng niềm tự hào dân tộc, phát huy được tính sáng
tạo trong cuộc sống:
“Sông Bạch Đằng có tên nôm là sông Rừng, vì hai bên bờ sông nhất là phía tả
ngạn toàn là rừng rậm. Hạ lưu sông thấp, độ dốc không cao nên ảnh hưởng của thuỷ
triều lên xuống rất mạnh, chênh nhau đến 3m. Khi triều lên, lòng sông rộng mênh
mông đến hàng nghìn mét, sâu tới chục mét. Biết rõ quân địch sẽ kéo vào nước ta
theo đường sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã huy động cho quân, dân lên rừng chặt
gỗ, đẽo nhọn đầu và bịt sắt, đem đóng xuống lòng sông Bạch Đằng ở những nơi hiểm
yếu. Lúc nước triều lên bãi cọc chìm trong một biển nước mênh mông. Phía trên bãi
cọc ngầm, Ngô Quyền còn bố trí một lực lượng thuỷ binh ẩn nấp hai bên bờ sông.
Nhiều thuyền được giấu kín trong các bụi lau sậy. Hàng ngàn quân bộ, cung nỏ sẵn
sàng mai phục bên cạnh các vách núi.
Ngô Quyền đích thân cầm quân ra trận.
Năm 938, Lưu Hoằng Tháo cầm đầu thuỷ quân Nam Hán tiến vào cửa sông
Bạch Đằng đánh chiếm nước ta. Đợi cho nước triều lên ngập hết trận địa bãi cọc,
Ngô Quyền cho một số thuyền n hỏ đánh nhử địch. Quân ta vờ thua rút chạy, Hoằng
Tháo hăm hở thúc quân đuổi theo, vượt qua trận địa bãi cọc ngầm của ta. Ngô Quyền
chỉ huy quân ta cầm cự với giặc. Khi nước thuỷ triều bắt đầu rút, ông mới ra lệnh
phản kích. Những mũi tên từ các vách đá vun vút lao ra như mưa, hàng trăm thuyền
bất ngờ xuất hiện. Quân giặc hoảng hốt quay đầu tháo chạy. Ra đến gần cửa sông,
2 Huỳnh Thị Cẩm 8 9
3 Huỳnh Khánh Duy 7 6
4 Mai Quốc Duy 6.5 6.5
5
Phạm Thị Trúc
Đào 3 5
6 Đỗ Phước Đạt 7.8 8
7 Trần Lý Đức 6.5 8
8 Nguyễn Anh Hào 4 6
9
Nguyễn Thị Cẩm
Hằng 3.5 5
10 Trương Gia Huy 6 7.5
11
Nguyễn Duy Minh
Kha 7.5 8
12 Lê Trọng Khiêm 1 2
13
Nguyễn Duy
Khương 2.5 5
14 Phan Hồng Linh 8 6
15
Ngô Thị Phương
Linh 7.5 8
16
Nguyễn Thị Thùy
Linh 5 1
17 Nguyễn Gia Lộc 2.5 4
18 Trương Ngọc Mi 6 6.5
19
35
Nguyễn Quốc
Tuấn 4 5
36 Trần Minh Tường 9 9.3
37 Trần Thị Thanh Vi 6.5 7
38 Nguyễn Anh Vũ 5.8 7
39 Nguyễn Tuấn Vũ 6 7
40 Tô Hồng Yến 4 4.5
P trước tác động 0.799
P sau tác động 0.0001
Giá trị trung bình 5.62 5.86
Độ lệch chuẩn 1.80 1.90
Mức độ ảnh hưởng
(SMD)
0.81
PHỤ LỤC 3: BẢNG ĐIỂM LỚP THỰC NGHIỆM (10C5)
STT Họ và Tên
Điểm KT Trước
TĐ
Điểm KT Sau
TĐ
1
Trần Thị Diễm
Châu 7 8
2 Phạm Ngọc Duyên 6 6.5
3
Nguyễn Ngọc
Thùy Dương 6 8
4 Trần Khoa Đăng 5 7
5 Võ Đức Huy 8 8.5
Nguyễn Thị Trúc
Quyên 1 5
24 Thi Khánh Tây 3.5 5
25
Nguyễn Trung
Thành 4 6
26 Phan Công Thành 4 6.5
27
Huỳnh Thị Thanh
Thảo 4.5 6
28 Đinh Thị Ngọc Thi 5 9.5
29
Nguyễn Hồng
Thuy 5.5 7