SKKN sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy lịch sử 10 - Pdf 28

Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
1. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Nói về tầm quan trọng của việc nắm vững lịch sử, qua đó giáo dục niềm tự hào
về lịch sử dân tộc, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục ở nước ta hiện nay, chất lượng dạy học của môn Lịch
sử chưa cao. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng này là chậm đổi
mới phương pháp dạy học. Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp
đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.”
Dạy học lịch sử là quá trình giúp học sinh (HS) tìm hiểu những gì đã diễn ra ở
quá khứ, và mục tiêu của bộ môn Lịch sử chính là việc giúp HS biết quá khứ, hiểu
quá khứ đồng thời rút ra những bài học từ quá khứ để vận dụng vào trong cuộc sống
hiện tại và tương lai.
Đặc thù học tập của môn Lịch sử là các em phải tiếp cận với nhiều sự kiện lịch
sử, với những vị anh hùng… bản thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất là
những bài, những chương viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày,
tháng, năm xảy ra sự kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên các
lĩnh vực Khi học lịch sử thì yêu cầu các em nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học
một cách chính xác và đầy đủ, vì thế bộ môn Lịch sử khó gây được hứng thú cho các
em, làm cho các em cảm thấy nặng nề, gò ép và nhàm chán.
Trong thực tế, lịch sử là môn học có kiến thức liên môn, song có lẽ có mối
quan hệ tác động qua lại mật thiết và bổ sung cho nhau nhiều nhất là mối quan hệ
giữa lịch sử và văn học. Tài liệu văn học nói chung và thơ văn nói riêng ở nước ta có
khả năng biểu hiện nội dung lịch sử rất sâu sắc, nó không chỉ có giá trị như những tài
liệu lịch sử, mà còn phản ánh được bản chất của từng sự kiện lịch sử cụ thể. Nếu như
văn học thường mô tả những sự kiện bằng hình tượng thì lịch sử tái tạo lại quá khứ
bằng những con số, sự kiện cụ thể, điều đó đã tác động rất lớn đến nhận thức của HS.

nghiệm có giá trị trung bình là 7.40; điểm kiểm tra đầu ra của lớp lớp đối chứng có
giá trị trung bình là 5.86. Kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p = 0.0001< 0.05;
nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm với lớp đối
chứng. Mức độ ảnh hưởng là 0.81 cho thấy có tác động có ảnh hưởng lớn đối với
nhóm thực nghiệm. Điều đó chứng minh rằng sử dụng phương pháp kể chuyện kết
hợp với thơ văn trong dạy học làm nâng cao kết quả học tập lịch sử cho HS lớp 10
Trường THPT Nguyễn Trung Trực.
2. GIỚI THIỆU
Kể chuyện lịch sử là một phương pháp dùng lời nói để diễn tả một cách sinh
động hấp dẫn, có hình ảnh về một câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Câu chuyện
kể có khi chỉ là những mảnh sự kiện, biến cố lịch sử liên quan đến nội dung bài học,
có khi là những tình tiết liên quan đến các nhân vật lịch sử, có khi chỉ là giải thích
cho một cái tên, địa danh, cho một khái niệm, thuật ngữ trong bài học. “Những câu
chuyện lịch sử mang lại giá trị vô cùng to lớn bởi đó là những bài học làm người,
hình thành nhân cách sống”.
Sử dụng phương pháp kể chuyện lịch sử kết hợp với thơ văn không chỉ tạo
hứng thú học tập cho HS, giúp HS nắm vững bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử mà
còn góp phần giáo dục, bồi dưỡng cho HS những tư tưởng, tình cảm đúng đắn.
Một số công trình nghiên cứu liên quan:
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 2
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- “Sử dụng tài liệu văn học dân gian phục vụ giảng dạy và học tập lịch sử Việt
Nam trong trường phổ thông ” của tác giả Đặng Hoàng Sang - Hội khoa học lịch sử
Đồng Tháp.
- “Giải pháp hữu ích tăng cường hứng thú cho HS thông qua kể chuyện lịch
sử trong dạy học lịch sử ở trường THCS”, tác giả Tạ Văn Tuấn, Trường trung học cơ
sở Đinh Trang Hòa.
- “Sử dụng tài liệu thành văn nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học
lịch sử Việt Nam giai đoạn (1919 – 1945” của Nguyễn Hải Yến.
- “Sử dụng thơ văn để tạo hứng thú cho HS trong dạy học bộ môn Lịch sử ở

Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 3
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
2.2. Nguyên nhân
- GV ít đầu tư sưu tầm và sử dụng tư liệu.
- Phương pháp dạy học sử dụng trong môn Lịch sử chưa phát huy được tính
tích cực của HS, chưa tạo được sự hứng thú của HS. Các sự kiện, hiện tượng lịch sử,
nhân vật lịch sử, không được trình bày một cách cụ thể, sinh động.
- Việc giảng dạy được xem là “lối dạy truyền thống” (thầy đọc, trò chép, nói
lại những điều trong sách giáo khoa, học sinh chỉ ghi nhớ, học thuộc mà không hiểu
nên chóng quên…) đã ăn sâu vào suy nghĩ, thói quen trong cách dạy và học của GV
và HS, chi phối việc chỉ đạo dạy học, việc tổ chức kiểm tra, thi cử.
- Tư tưởng xem nhẹ bộ môn chính, phụ.
- Việc tích cực chủ động tìm tòi tài liệu lịch sử ở HS còn hạn chế.
2.3. Giải pháp thay thế
GV sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp với thơ văn trong giảng dạy lịch
sử nhằm đổi mới phương pháp dạy học của bộ môn để nâng cao chất lượng giảng dạy
cũng như phát triển các năng lực của HS.
Qua phương pháp này giúp HS hứng thú hơn khi học lịch sử, có sự hình dung
đa dạng về quá khứ, tạo được biểu tượng sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện
tượng lịch sử. Từ đó, các em có thể dễ dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành các
khái niệm lịch sử, nắm được những kết luận khoa học mang tính khái quát. Mặt khác,
nó còn có tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức và hình thành
nhân cách cho HS.
2.4. Vấn đề nghiên cứu
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làm
nâng cao kết quả học tập của HS lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực hay
không?
2.5. Giả thuyết nghiên cứu:
Việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong dạy học có làm
nâng cao kết quả học tập của hs lớp 10C5 Trường THPT Nguyễn Trung Trực.

Ở thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T-tes độc lập.
3.3. Quy trình nghiên cứu
a. Cách thức tiến hành
- Lớp đối chứng (10C6): GV thiết kế giáo án và giảng dạy bình thường (không sử
dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy).
- Lớp thực nghiệm (10C5): GV thiết kế giáo án và giảng dạy sử dụng phương pháp
kể chuyện kết hợp thơ văn trong giảng dạy bài 14 (Các quốc gia cổ đại trên đất
nước Việt Nam), bài 15 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập (từ
thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X) và bài 16 (Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh
giành độc lập (từ thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)-(Tiếp theo)) chương trình Lịch sử
lớp 10, cụ thể là lớp 10C5 - Trường THPT Nguyễn Trung Trực.
Trong quá trình giảng dạy, GV lựa chọn một số câu chuyện và các bài thơ văn
phù hợp với nội dung bài học để giảng dạy. GV dẫn các câu chuyện và các bài thơ
văn vào bài giảng theo dạng nhập đề (chuẩn bị cho HS tiếp thu bài mới), giới thiệu
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 5
Lớp
Kiểm tra
trước tác động
Tác động
Kiểm tra
sau tác động
Thực
nghiệm
(Lớp 10C5)
O1
Dạy học có sử dụng phương
pháp kể chuyện kết hợp thơ
văn.
O3
Đối chứng

Lớp đối chứng (10C6)
Điểm trung bình 7.40 5.86
Độ lệch chuẩn 1.49 1.90
Giá trị p của T-test 0.0001
Chênh lệch giá trị TB
chuẩn (SMD)
0.81
4.2. Phân tích dữ liệu
Trước khi thực hiện giải pháp 2 lớp 10c5 và 10c6 có kết quả học tập là tương
đương nhau.
Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test cho kết quả
P = 0.0001<0.05, cho thấy: sự chênh lệch giữa điểm trung bình lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình lớp thực
nghiệm cao hơn điểm trung bình lớp đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả
của tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.81.
Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc dạy học có sử dụng phương pháp
kể chuyện kết hợp thơ văn đến kết quả học tập của lớp thực nghiệm là lớn.
Giả thiết của đề tài việc sử dụng phương pháp kể chuyện kết hợp thơ văn trong
dạy học làm nâng cao kết quả học tập của hs lớp 10 Trường THPT Nguyễn Trung
Trực đã được kiểm chứng.
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 7
Lớp đối chứng (10C6)
Lớp thực nghiệm (10C5)
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước và sau tác động
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
4.3. Bàn luận
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm là điểm trung bình
= 7.40, kết quả bài kiểm tra tương ứng của lớp đối chứng là điểm trung bình = 5.86.

* Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm xây dựng và tiến tới sử dụng những
phương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học, cần chỉ đạo cho thư viện nhà trường
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 8
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
tăng cường sưu tầm, tập hợp các loại sách, tài liệu tham khảo phục vụ nhu cầu dạy và
học Lịch sử của GV và HS.
Cần hỗ trợ và tạo điều kiện cho GV lịch sử tổ chức các cuộc thi, các trò chơi
lịch sử, các chuyến tham quan di tích lịch sử, bảo tàng…
* Đối với GV: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng, chịu khó đầu tư thời gian,
công sức để sưu tầm tài liệu, sắp xếp thành hệ thống theo từng tiết học, từng chương,
từng phần phù hợp với nội dung và kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa.
GV cần đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với HS trong quá trình dạy học như
sưu tầm tại liệu trước ở nhà theo định hướng của GV.
Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia
sẻ và đặc biệt là GV giảng dạy bộ môn Lịch sử có thể ứng dụng đề tài này vào việc
dạy học để tạo hứng thú cho HS nhằm nâng cao kết quả bộ môn.
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 9
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, Nxb
Đại học Sư phạm.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử
cấp trung học phổ thông, Hà Nội.
3. Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh (2003),
Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục.
4. Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), Nguyễn Ngọc Cơ (Chủ biên), Nguyễn Anh
Dũng, Trịnh Đình Tùng, Trần Thị Vinh (2006), Lịch sử 10, sách giáo viên,
Nxb Giáo dục.
5. Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), Lương Ninh, Trương Hữu Quýnh (Chủ

khí bằng công cụ khác mà phải bằng sắt?
Sau khi HS trả lời, GV nhận xét, bổ sung: thời Hùng Vương tương ứng với giai
đoạn văn hóa Đông Sơn nhân dân ta đã sử dụng công cụ bằng sắt tuy mới ở “bước
đầu”. Từ đó, giúp HS nhận thức được rằng nhờ sử dụng công cụ mới nên người Việt
cổ có được một nền kinh tế phát triển mạnh để từ đây tạo nên những chuyển biến to
lớn về mặt xã hội. Bên cạnh đó, qua câu chuyện ta xác định được những yếu tố thời
gian là thời Hùng Vương thứ 6 (tương ứng với thời nhà Ân ở Trung Quốc), đồng thời
nêu cao truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ của nhân dân ta
(cả làng góp gạo thổi cơm cho Gióng ăn).
Khi giảng về nguồn gốc và quốc hiệu nước ta, GV có thể đọc câu thơ sau của
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Lịch sử nước ta”:
“Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang”
Tiếp đó, GV có thể trích dẫn câu ca dao sau để HS khắc sâu kiến thức về cội
nguồn dân tộc:
“Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3”
Hoặc:
“Ai về Phú Thọ cùng ta
Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.
Ai về đến ngả ba Chanh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc lạ thường
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 11
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây”
Từ đó HS thêm tự hào về truyền thống dân tộc và có ý thức giữ gìn và xây
dựng đất nước.
Về sự thất bại của nước Văn Lang – Âu Lạc trước sự tấn công của phương
Bắc, từ đó nước ta bước vào thời kì Bắc thuộc, chúng ta có thể kể câu chuyện “Mị
Châu, Trọng Thủy” để HS dễ học dễ nhớ hơn. Hoặc cũng có thể trích dẫn đoạn thơ

Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 12
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Bài 15: “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (Từ
thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)”
Mục 1. Chế độ cai trị
GV sử dụng đoạn thơ trong “Việt Nam sử ca” để HS hiểu được chế độ cai trị
của các triều đại phong kiến phương Bắc đối với nước ta:
“Tượng Quận gọi bởi nhà Tần
Hán diệt Triệu, xẻ ba phần nước Nam:
Cửu Chân, Giao Chỉ, Nhật Nam
Giao Chỉ, Đông Hán đổi làm Giao Châu.
Nhà Đường nước chiếm, nhà thâu:
“An Nam đô hộ phủ”, sầu quốc vong!”
Khi dạy đến chính sách đồng hóa về văn hóa, với nội dung mở trường dạy chữ
Hán, truyền bá Nho giáo vào Việt Nam, GV có thể kể chuyện về Khổng Tử, trích dẫn
một số câu nói của Khổng Tử trên quan điểm Nho học.
Mục 2. Những chuyển biến về kinh tế - xã hội
GV có thể kể tóm tắt nội dung câu chuyện “Sự tích bánh chưng bánh dày” để
khẳng định các phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc vẫn được bảo tồn, nhân
dân ta không bị đồng hóa về văn hóa.
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 13
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Bài 16: “Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc (Từ
thế kỉ II TCN đến đầu thế kỉ X)”- Tiếp theo
Mục 1. Khái quát phong trào đấu tranh từ thế kỉ I đến đầu thế kỉ X
GV có thể trích đọc một số câu ca dao sau để HS tạo biểu tượng lịch sử, hình
dung rõ hơn được bối cảnh lịch sử lúc đó như:
Về khởi nghĩa của Bà Triệu:
“Có bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ta

Giết người Giao Chỉ không tường thị phi.
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 14
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Bắt Thi Sách đem giết đi
Hai Trưng Trắc, Nhị tức thì khởi binh.
Con dòng Lạc tướng Mê Linh
Đuổi quân Tô Định mà bình đất Nam.
Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam”
Chẳng bao lâu hạ sáu lăm thành trì.
Xưng vua, lừng lẫy ai bì
Mê Linh đóng phủ, uy nghi một miền.
Hay có thể sử dụng đoạn thơ trong “Thiên Nam ngữ lục” để nói về nguyên nhân cuộc
khởi nghĩa:
“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”
Khi giảng về cuộc khởi nghĩa Lý Bí và sự thành lập nước Vạn Xuân, GV có
thể trích đoạn thơ trong “Lịch sử nước ta” để đánh giá sự kiện lịch sử:
“Anh hùng thay ông Lý Bôn
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người
Đánh tàu đuổi sạch ra ngoài
Lập nên triều Lý sáu mười năm liền”
Hay có thể sử dụng đoạn thơ trong “Việt Nam sử ca” để nói về nét chính cuộc khởi
nghĩa:
“Tham tàn thái thú, người ghê
Hùng tâm, Lý Bí giương cờ diệt gian.
Vạn Xuân thoát cảnh lầm than
"Thái bình thiên đức", xua tan bóng tà.
Bình minh chiếu sáng sơn hà

bất ngờ xuất hiện. Quân giặc hoảng hốt quay đầu tháo chạy. Ra đến gần cửa sông,
đúng lúc nước triều rút mạnh. Bãi cọc ngầm nhô lên. Quân ta dồn sức tấn công. Quân
từ phía thượng lưu đánh xuống, quân mai phục từ hai bên bờ sông và quân thuỷ từ
các sông nhánh xông ra đánh tạt ngang. Đội hình thuyền của địch rối loạn, xô vào
nhau, va phải bãi cọc ngầm bị thủng vỡ, đắm rất nhiều. Quân địch bỏ cả chèo lái,
nhảy xuống sông, phần bị giết, phần chết đuối, thiệt hại quá nửa. Hoằng Tháo bỏ
mạng nơi đây.
Thất bại nặng nề của đạo thuỷ quân Hoằng Tháo đã làm cho vua Nam Hán kinh
hoàng, chỉ biết thương khóc con trai và hạ lệnh rút quân tiếp ứng, hoàn toàn bỏ mộng
xâm lược nước ta.
Cuối cùng, GV chốt lại: Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 thể hiện nghệ thuật
độc đáo, sáng tạo của Ngô Quyền - đã biết lợi dụng thiên thời, địa lợi, nhân hoà.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền đã chấm dứt hơn 1000 năm nước ta
bị các triều đại phong kiến phương bắc thống trị, mở ra một thời đại mới - thời đại
độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc ta.
Trên đây là một số ví dụ cụ thể về sử dụng các câu chuyện và tài liệu văn thơ
trong giờ dạy lịch sử ở một số bài học mà bản thân tôi đã tổng kết và thực hiện khi
dạy lịch sử khối lớp 10 ở trường THPT Nguyễn Trung Trực nhằm tạo hứng thú cho
HS, nâng cao hiệu quả bài học. Từ những câu chuyện, đoạn thơ, bài ca nội dung kiến
thức, hình ảnh nhân vật sẽ được toát lên một cách sinh động, sẽ đi theo năm tháng
cùng với các em về các sự kiện, các cuộc khởi nghĩa, mà HS không cần phải học
thuộc lòng cứng nhắc ở trong sách giáo khoa.Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng đòi
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 16
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
hỏi GV phải có sự sáng tạo, linh hoạt trên cơ sở khoa học và điều kiện cụ thể của
từng lớp học, tiết học
PHỤ LỤC 2: BẢNG ĐIỂM LỚP ĐỐI CHỨNG (10C6)
STT Họ và Tên
Điểm KT Trước


Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 17
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
17 Nguyễn Gia Lộc 2.5 4
18 Trương Ngọc Mi 6 6.5
19
Phạm Thị Kim
Ngân 5 3
20
Trương Ngọc
Tuyết Ngân 5 5
21 Lý Thị Kiều Nhi 6 6
22 Thái Trần Tú Nhi 7.5 4
23 Võ Thị Kim Oanh 6 7
24
Huỳnh Hiểu
Phương 5 2.5
25
Hồ Phương
Phương 3.5 6.5
26 Liêu Thanh Tân 6.5 8
27 Phùng Phúc Thái 7 6
28
Nguyễn Đức
Thuận 6 6
29
Nguyễn Phước
Thuận 7 5
30 Thái Thanh Thuận 5 5
31
Trần Thị Diễm

Trần Thị Diễm
Châu 7 8
2 Phạm Ngọc Duyên 6 6.5
3
Nguyễn Ngọc
Thùy Dương 6 8
4 Trần Khoa Đăng 5 7
5 Võ Đức Huy 8 8.5
6
Nguyễn Huỳnh
Khoa 4.5 6
7 Đoàn Hiếu Kỳ 6 6.5
8 Phạm Tú Linh 8 10
9
Trần Thị Thùy
Linh 7.5 8
10 Huỳnh Thanh Long 7 9
11 Nguyễn Nhật Long 6.5 7
12 Phạm Văn Ngà 3 3.5
13 Huỳnh Kim Ngọc 4 9.5
14
Phạm Hồng Thái
Ngọc 8.5 9
15
Lăng Thị Cẩm
Nhung 7 7
16
Nguyễn Thị Hồng
Nhung 6 7
17 Lục Tấn Phát 3 5

32 Trần Thu Thủy 5.5 7
33 Ngô Huỳnh Thụ 8 9
34 Lê Anh Thư 6.5 9
35 Lê Mạnh Thường 6 7
36
Huỳnh Ngọc Bảo
Trâm 7.5 8.5
37 Phạm Bá Trọng 7 9
38 Hà Thanh Tuấn 4 7
39 Nguyễn Thanh Vũ 5 7
40
Huỳnh Đào Thúy
Vy 3.5 6
P trước tác động 0.799
P sau tác động 0.0001
Giá trị trung bình 5.74 7.40
Độ lệch chuẩn 1.86 1.49
Mức độ ảnh hưởng
(SMD)
0.81
PHỤ LỤC 4: ĐỀ KIỂM TRA VÀ ĐÁP ÁN TRƯỚC TÁC ĐỘNG
ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT HỌC KÌ I
Môn: Lịch Sử 10
(Thời gian làm bài 45 phút)
ĐỀ 1
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 20
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Câu 1: Trình bày những thành tựu tiêu biểu của văn hoá Campuchia và Lào thời
phong kiến. Điều gì thể hiện tính sáng tạo trong văn hoá của hai quốc gia này? (4đ)
Câu 2: Sự hình thành chế độ phong kiến Tây Âu diễn ra như thế nào? (4đ)

*Giải thích:
- Cam-pu-chia và Lào đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trên
các lĩnh vực chữ viết, tôn giáo, văn học, kiến trúc. Song tiếp thu
mỗi nước đều đem lồng nội dung của mình vào, xây dựng nền văn
hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc.
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ

Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 21
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Câu
2
Sự hình thành chế độ phong kiến Tây Âu diễn ra như thế nào? 4 đ
- Thế kỉ III, đế quốc Rô-ma lâm vào tình trạng suy thoái.
- Cuối thế kỉ V, Đế quốc Rôma bị người Giéc-man xâm chiếm.
Năm 476, đế quốc Rô-ma diệt vong, chế độ chiếm nô kết thúc.
- Những việc làm của người Giéc-man:
+ Thủ tiêu bộ máy nhà nước cũ, thành lập nhiều vương quốc
mới: vương quốc Phơ-răng, vương quốc Tây Gốt, Đông Gốt
+ Chiếm ruộng đất của chủ nô Rô-ma cũ rồi chia cho nhau.
+ Từ bỏ tôn giáo nguyên thuỷ, tiếp thu Ki-tô giáo.
- Kết quả:
+ Hình thành tầng lớp quý tộc vũ sĩ, tăng lữ, quan lại có đặc
quyền, giàu có + đất đai => lãnh chúa phong kiến.
+ Nô lệ, nông dân => nông nô phụ thuộc vào lãnh chúa.
=> Quan hệ phong kiến được hình thành ở châu Âu, điển hình là ở

- Quá trình hình thành: 1206 người Hồi giáo chiếm đất Ấn Độ, lập
nên vương triều Hồi giáo Ấn Độ gọi là Đê-li (1206-1526).
- Chính sách thống trị: truyền bá, áp đặt Hồi giáo, tự dành cho
mình quyền ưu tiên ruộng đất, địa vị trong bộ máy quan lại.
- Tôn giáo: thi hành chính sách mềm mỏng, song xuất hiện sự phân
biệt tôn giáo.
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 22
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- Văn hóa: văn hóa Hồi giáo được du nhập vào Ấn Độ.
- Kiến trúc: kiến trúc Hồi giáo - Kinh đô Đê-li - thành phố lớn nhất
thế giới.
- Vị trí của vương triều Đê-li:
+ Bước đầu tạo ra sự giao lưu văn hóa Đông - Tây.
+ Đạo Hồi được truyền bá đến một số nước trong khu vực Đông
Nam Á.
0.5đ
0.5đ
0.5đ
Câu
2
Vì sao ở thời Hậu kỳ Trung đại diễn ra các cuộc phát kiến địa
lí? Hãy trình bày các cuộc phát kiến địa lí và hệ quả của nó?
4
điểm
Nguyên nhân và điều kiện:

0.25đ
Câu
3
Thế nào là Phường hội, Thương hội, Phường quy. 2điểm
+ Phường hội, thương hội : là một tổ chức của những người lao
động thủ công cùng làm một nghề, nhằm giữ độc quyền sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm, chống sự áp bức, sách nhiễu của các lãnh chúa;
phát triển sản xuất và bảo vệ quyền lợi của thợ thủ công. Người ta
đặt ra quy chế riêng gọi là Phường quy.
Người thực hiện: Nguyễn Công Thuận 23
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
PHỤ LỤC 5: ĐỀ KIỂM TRA VÀ ĐÁP ÁN SAU TÁC ĐỘNG
ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT GIỮA HỌC KÌ II
Môn: Lịch Sử 11
(Thời gian làm bài 45 phút)
ĐỀ 1
Câu 1. Công xã thị tộc được hình thành và phát triển như thế nào? (4đ)
Câu 2. Trình bày những chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến phương
Bắc đối với nhân dân ta về kinh tế và văn hóa. Vì sao nhân dân ta vẫn giữ được
tiếng nói, phong tục tập quán của mình trước những âm mưu và thủ đoạn đồng
hóa về văn hóa của phong kiến phương Bắc? (4đ)
Câu 3. Hãy nhận xét về cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta trong thời
kì Bắc thuộc.(2đ)
ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT GIỮA HỌC KÌ II
Môn: Lịch Sử 11
(Thời gian làm bài 45 phút)
ĐỀ 2
Câu 1. Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc được hình thành trên cơ sở nào? Hãy
trình bày tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang – Âu Lạc. (4đ)
Câu 2. Trình bày diễn biến, nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến

khai).
→ Đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao thêm.
- Cuộc “Cách mạng đá mới”: cách ngày nay 5000 - 6000 năm, kỹ
thuật chế tạo công cụ có bước phát triển mới:
+ Sử dụng kỹ thuật cưa khoan đá, làm gốm bằng bàn xoay.
+ Biết trồng lúa, dùng cuốc đá, biết trao đổi sản phẩm giữa các thị tộc,
bộ lạc.
→ Đời sống cư dân ổn định và được cải thiện, địa bàn cư trú càng mở
rộng.
0.5đ
0.5đ
0.5đ
0.5đ
Câu
2
Trình bày những chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến
phương Bắc đối với nhân dân ta về kinh tế và văn hóa. Vì sao nhân
dân ta vẫn giữ được tiếng nói, phong tục tập quán của mình trước
những âm mưu và thủ đoạn đồng hóa về văn hóa của phong kiến
phương Bắc?
4 đ
*Kinh tế:
- Thi hành chính sách bóc lột, cống nạp đối với nhân dân ta:
+ Bắt nộp những thứ lâm thổ sản quý.
+ Cướp ruộng đất lập đồn điền.
+ Nắm độc quyền “muối và sắt”.
→ Nhằm hạn chế sự phát triển sản xuất, duy trì sự nghèo nàn, lạc
hậu.
*Văn hóa:
- Mở trường dạy chữ Hán, truyền bá Nho giáo vào Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status