Thực trạng và đề xuất biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường - Pdf 30

Lời mở đầu
Hiện nay nước ta đang bứớc trên con đường công nghiệp hóa hiện đại
hoá đất nước, mục tiêu chính hướng tới là phát triển kinh tế, nâng cao cuộc
sống người dân nhưng đi kèm với phát triển kinh tế là tình trạng ô nhiễm
môi trường ngày càng gia tăng và có dấu hiệu nghiêm trọng ảnh hưỏng đến
chất lượng cuộc sống người dân. Ô nhiễm môi trường hiện đang là một vấn
nạn mà tất cả các quốc gia phải hứng chịu và thế giới đang chung tay cùng
nhau chống lại vấn nạn này. Nước ta cũng không thể đứng ngoài cuộc chiến
này và hiện đang có những nổ lực to lớn nhằm chống lại ô nhiễm môi
trường. Chúng tôi xin đưa ra một bản báo cáo về tình trạng ô nhiễm môi
trưòng của nước ta nhằm giúp mọi người có những hiểu biết và quan tâm
hon đến môi trưòng bản báo cáo này dựa trên các tại liệu được chúng tôi thu
thập trong thời gian gần đây và một phần dựa vào những hiểu biết của chúng
tôi về các vấn đề môi trường dưới sự chỉ dẩn tận tình của giáo viên bộ môn
cô Nguyễn Thị Thanh Thuỷ chúng tôi chân thành cám ơn cô đã giúp chúng
tôi hoàn thành bản báo cáo này.
1
Lý luận về các vấn đề môi trưòng
I. Các khái niệm cơ bản.
1. Khái niệm môi trường
Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con
người có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động
sống của con người như: Không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài
người…
2. Ô nhiễm môi trường
Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Nguyên nhân ô nhiễm môi trường là các hoạt động nhân tạo của con
người hoặc các quá trình tự nhiên. Có nhiều phương pháp đánh giá mức độ ô
nhiễm môi trường, dựa vào tình trạng sức khỏe và bệnh tật của con người và
sinh vật, dựa vào các thang tiêu chuẩn chất lượng môi trường.

vào năm 1850 lên 0,035% vào năm 1960 và các khí nhà kính khác như CH
4
,
CFC…làm cho nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên 0,6
0
C trong vòng 100 năm
qua và khoảng 1
0
C trong 50 năm tới . Sự thay đổi này đã và đang gây ra các
biến đổi khí hậu toàn cầu, các thiên tai như lũ lụt, hạn hán và dâng cao mực
nước biển.
Tầng Ô zôn bị phá hủy: Tầng chứa khí ozon hay là tầng ozon ở độ cao 18
– 25 Km có khả năng hấp thụ trên 90% tia tử ngoại trong bức xạ mặt trời,
Khi tầng ozon bị suy giảm, lượng tia tử ngoại chiếu xuống mặt đất gia tăng
gây ra ung thư da, suy giảm miễn dịch ở người, giảm năng suất sinh học của
động thực vật. Tháng 10- 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện ở tầng khí
ozon Nam Cực xuất hiện một lỗ thủng bằng diện tích nước Mỹ. Năm 1987,
các nhà khoa học liên bang Đức phát hiện hiện tượng thủng tầng ozon ở
vùng trời Bắc Cực. Hiện nay, trên nhiều thành phố lớn và vùng gần cực trái
đất tồn tại lỗ thủng tầng ozon. Nguyên nhân chủ yếu gây a sự suy thoái và
thủng tầng ozon là việc sử dụng khí CFC và các khí NO
x
.
Sa mạc hóa đất đai: Do nhiều nguyên nhân như bạc mầu, mặn hóa, phèn
hóa, khô hạn. Bên cạnh đó, việc sử dụng đất canh tác cho các mục đích phi
nông nghiệp đang gia tăng. Hiện nay, có 14 triệu km
2
đất canh tác, vào đầu
thế kỉ XXI theo dự báo: một phần ba diện tích này bị sử dụng vào mục đích
phi nông nghiệp.

Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật của cơ sở sản xuất kinh doanh, công
trình kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng gây
nguy hại cho môi trường.
Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu
khí, sập hầm mỏ, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự
cố tại cơ sở lọc hóa dầu và các cơ sở công nghiệp khác.
Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản
xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa phóng xạ.
Tai biến địa chất là một dạng tai biến môi trường phát sinh trong thạch
quyển, các dạng tai biến địa chất chủ yếu gồm phun núi lửa, động đất, nứt
đất, lún đất.
Trượt lở đất đá là một dạng biến đổi bề mặt trái đất. Tại đây một khối
lượng đất đá khác theo các bề mặt đặc biệt , bị trọng lực kéo trượt xuống các
địa hình thấp. Hiện tượng trượt lở đất thường xuyên xuất hiện một cách tự
nhiên trong các vùng núi vào thời kì mưa nhiều hàng năm.
5. Kiểm soát ô nhiễm môi trường
4
Là tổng hợp các hoạt động của Nhà Nước, tổ chức, cá nhân nhằm loại
trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, phòng ngừa ô nhiễm
môi trường, khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường gây nên.
Mục đích của kiểm soát ô nhiễm môi trường là phòng ngừa, khống chế
để ô nhiễm môi trường không xảy ra. Nói cách khác, kiểm soát ô nhiễm môi
trường là quá trình con người chủ động ngăn chặn các tác động xấu đến môi
trường từ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Còn nếu vì những lí do
khác nhau mà ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì kiểm soát ô nhiễm môi
trường chính là hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi lại tình trạng
môi trường như trước khi bị ô nhiễm.
Chủ thể của kiểm soát ô nhiễm môi trường không chỉ là Nhà Nước mà
còn là các doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư, các hiệp hội ngành nghề,
các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.

cuộc sống thanh bình của hàng triệu người."
Một nghiên cứu được công bố tại Hội nghị lần thứ 9 các khu vực hoang dã
thế giới (WILD-9) vừa kết thúc tại Mexico đã khẳng định tổn thất và suy
thoái môi trường tự nhiên trên thế giới gây thiệt hại hàng năm từ 2,5 đến 4,5
nghìn tỉ USD . WILD-9 nhấn mạnh đã đến lúc phải cảnh báo nhân loại rằng
việc không quản lý Trái Đất một cách bền vững đang khiến ít nhất hơn 1 nữa
hành tinh không được bảo vệ
Thách thức khổng lồ mà nhân loại đang phải đối mặt trong thế kỷ 21 như
Trái Đất ấm lên, khan hiếm nước sạch, ô nhiễm, các nguồn lợi biển bị khai
thác cạn kiệt, nạn sa mạc hoá, sản xuất lương thực không bền vững... không
thể giải quyết được nếu không bảo vệ được hơn 50% diện tích đất liền và
các đại dương.
Sự cố môi trường tuy ít xảy ra nhưng luôn để lại hậu quả vô cùng nghiêm
trọng kể cả về người và của cho các nước. trong những năm gần đây thế giới
đã phãi hứng chịu những trận động đất mạnh kèm theo đó là song thần,
những cơn bão lớn ,lũ lụt hạn hán xãy ra triền miên , hoạt động trở lại của
những núi lửa gây ra lo ngại cho thế giới, bên canh đó nhiều sự cố do con
người tạo ra cũng gây ra tổn thất lớn như tràn dầu cháy rừng đang dặt ra cho
thế giới nhiều thách thức cần giải quyết
-II ) Đối với những vấn đề môi trường của việt nam.
1 ) ô nhiễm môi trường
1.1 ) thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát
triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển
6
kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời
công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến
ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra
phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ
yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động

7
lần... Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là trên 9.000 cơ sở
sản xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu
vực sông Đồng Nai. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận
khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này. Dọc lưu vực sông
Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ
có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp
vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp
nhận... Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khu công nghiệp đã phá vỡ
hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán, ngập úng và ô nhiễm
nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất nông nghiệp của bà con
nông dân.
Một trong những vụ ô nhiễm gây ra nhiều bức xúc đối với dư luận nhất là vụ
việc ô nhiễm nước trên sông Thị Vãi của công ty Vedan. Công ty Vedan đã
thiết kế và lắp đặt hệ thống bơm, đường ống kỹ thuật để bơm dịch thải sau
lên men của Nhà máy sản xuất bột ngọt và Lysine từ bể chứa bán âm và bồn
chứa theo hệ thống đường ống (có đoạn chôn ngầm, có đoạn đi trên bề mặt
đất) ra cầu cảng số 1 qua đường ống cao su gân thép chìm sâu dưới sông Thị
Vải và cầu Cảng số 2 qua 2 trụ bơm cũng được cắm sâu xuống lòng sông
nhằm đổ trực tiếp ra sông Thị Vải.
Việc lắp đặt hệ thống xả dịch thải trên của Công ty Vedan là trái với quy
trình kỹ thuật xử lý chất thải, không đúng với nội dung báo cáo đánh giá tác
động môi trường đã được phê duyệt.
Hệ thống ống chằng chịt, trong đó có
8
nhiều đường ống ngầm xả thẳng nước thải chưa qua
xử lý xuống sông Thị Vải.
Theo tính toán của đoàn kiểm tra, tổng lượng dịch thải sau lên men xả trực
tiếp ra sông Thị Vải đã xác định được tính đến ngày 25/92008 từ xưởng
Lysinee và các bể chứa là 105.600 m

thẳng ra sông. Vì vậy, khu vực từ cửa cảng Thị Vải đến lưu vực Nhà máy
Vedan Việt Nam, bầu không khí đậm đặc mùi hôi thối bốc lên. Ngòai việc bị
viêm xoang, những người sống ven con sông này cũng bị điêu đứng bởi tình
trạng cá tôm nuôi bị chết phơi bụng hàng loạt, vì vậy những dãy hồ nuôi cá
9
dọc bờ sông thuộc địa bàn xã Long Thọ bị bỏ không từ nhiều năm nay.
Không những thế, tình hình sức khỏe của người dân sống gần sông cũng
đang bị đe dọa.
Vedan đã phải ký nhận vào một văn bản hành chính, theo đó thừa nhận 10
hành vi vi phạm của mình:
1. Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp
thải lượng thải từ 50m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày đối với Nhà máy sản
xuất tinh bột biến tính của Công ty; vi phạm khoản 11, Điều 10, nghị định số
81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
2. Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp
thải lượng nước thải từ 50m3/ngày đến dưới 5.000m3/ngày đối với các Nhà
máy sản xuất bột ngọt và Lysin của Công ty; vi phạm khoản 8 Điều 10, Nghị
định số 81/2006/NĐ- CP.
3. Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp
thải lượng nước thải từ 50m3/ngày đến dưới 5.000/ngày đối với các nhà máy
khác của Công ty; vi phạm khoản 8, Điều 10, Nghị định số 81/2006/NĐ-
CP.
4. Nộp không đầy đủ các số liệu điều tra, khảo sát, quan trắc và các tài liệu
liên quan khác cho cơ quan lưu trữ dữ liệu thông tin về môi trường theo quy
định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; vi phạm khoản 4, Điều 27, Nghị
định số 81/2006/NĐ- CP.
5. Không đăng ký cam kết bảo vệ môi trường với cơ quan quản lý Nhà nước
về bảo vệ môi trường đối với trại chăn nuôi heo; vi phạm khoản 3, Điều 8,
Nghị định số 81/2006/NĐ- CP.

- Của xả nước thải và hệ thống tiêu thoát phải đặt ở vị trí thuận
lợi cho việc kiểm tra, giám sát vận hành thường xuyên
Công ty vedan có thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhưng vẫn có 1
đường ống kỹ thuật xả trực tiếp một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý
xuống sông Thị Vải. Chất thải bị đổ xuống sông chủ yếu là dịch thải lỏng
chứa nước mật rỉ đường và các chất đặc sau khi chế biến từ các bể chứa lớn
có dung tích 6.000-15.000m3. Hệ thống đường ống xả nước thải được thiết
11
kế đi chìm, có trụ bơm cắm sâu xuống lòng sông Thị Vải, tránh không bị
phát hiện.
Hệ thống xử lý nước thải của Công ty Vedan được lắp đặt không
đúng với nội dung báo cáo trong đánh giá tác động môi trường.
Điều 93 khoản 3
a)Thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về môi
trường quy định tại khoản 2 Điều này trong quá trình điều tra, xác định
phạm vi, giới hạn, mức độ, nguyên nhân, biện pháp khắc phục ô nhiễm và
phục hồi môi trường.
b) Tiến hành ngay các biện pháp để ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô
nhiễm môi trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời
sống của nhân dân trong vùng;
c) Thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi
trường theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường quy định
tại khoản 2 Điều này;
d) Bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này và các quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ô nhiễm môi trường
thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường quy định tại khoản 2
Điều này có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan để làm rõ trách
nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi
trường.

triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và giải quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường
do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng.
Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các
làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong quá
trình sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam,
hiện nay cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền
thống, đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả
lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên#. Các làng nghề
được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển
nhất là Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Tây Bắc bộ, Đồng bằng sông
Cửu Long. Riêng ở Đồng bằng sông Hồng có 866 làng nghề, chiếm 42,9%
cả nước. Hình thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là
gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự
phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật
chội, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm, ý thức
13
bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém, bên cạnh đó
lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của Nhà
nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công
gây ô nhiễm môi trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại
các làng nghề ngày càng trầm trọng và hiện nay đã ở mức “báo động đỏ”.
Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh
hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân
làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận,
gây phản ứng quyết liệt của bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột
xã hội gay gắt.
Chúng ta hãy xem xét vấn đề ô nhiễm của làng nghề Bát Tràng


khách. Nước sinh hoạt cũng chỉ gọi là sạch tạm thời.
Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại
các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động. Đó là các ô nhiễm
về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn... Những
năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước
không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng. Nước thải, rác thải sinh hoạt
(vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không
15
có bất kỳ một biện pháp xử lí nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp.
Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các thành phố
lớn thải ra hàng nghìn tấn rác phần lớn lượng rác thải này được thu gom đến
địa điểm chôn lấp ở phía ngoại thành, vẫn chưa có các biện pháp xử lý rác
hiệu quả hơn được sử dụng như tái chế hay tái sử dụng được áp dụng. lượng
rác thải này nếu không được sử lý 1 cách triệt để sẽ gây ra ô nhiễm môi
trường rất nghiêm trọng khu vực xung quanh các khu chôn lấp như ô nhiễm
đất, nước không khí… đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước ngầm sẽ rất nguy
hiễm nếu nguồn nước ngầm tại tại đây bị ô nhiễm nó sẽ ãnh hưởng đến
nguồn nước ngầm sử dụng không chỉ ngoại thành mà cả trong nội thành.như
vậy chúng ta xử lý môi trường tại 1 khu vực nhưng lại gây ra ô nhiễm tại 1
khu vực khác mà có thể tác động gây ô nhiễm trở lại cho khu vưc đã được
xử lý. Trong khi đó tại các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét khối
nước thải độc hại mỗi ngày nguồn nước thải này là nguyên nhân chính dẫn
đến ô nhiễm nghiêm trọng các con sông trong nội thành dẫn đến nguồn nước
sinh hoạt bị ô nhiễm. đặc biệt vẫn còn nhiều cơ sở sản xuất lớn ở trong nội
thành sẽ rất nguy hiểm cho người dân khi phải sống chung ,vụ nước sinh
hoạt ở khu Trung Hòa Nhân Chính bị ô nhiễm là 1 minh chứng về ô nhiễm
nguồn nước tại hà Nội . Nghiên cứu mới đây nhất của Liên đoàn Quy hoạch
và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc cho thấy mức ô nhiễm asen trong
nguồn nước ở Hà Nội đã lên tới 40 lần so với mức độ cho phép, nhiều điểm
khác có mức ô nhiễm tới 20 lần. Ô nhiễm amôni (NH4+) cũng vượt mức cho

nhiễm. Đặc biệt, các khu vực như đường Khuất Duy Tiến, Quốc lộ 32,
đường Nguyễn Trãi… ô nhiễm bụi đang ở mức cao nhất Hà Nội và xu
hướng ngày càng gia tăng. Các khu vực ngã tư có mật độ xe lưu thông cao,
nồng độ bụi cũng vượt quy chuẩn cho phép. Kết quả quan trắc bụi giao
thông 6 tháng đầu năm 2009 cho thấy tại 250 điểm đo kiểm, có 180 điểm có
hàm lượng bụi lơ lửng vượt quy chuẩn. Nồng độ bụi tại TP Hồ Chí Minh
cũng có xu hướng ngày càng gia tăng và vượt từ 1,08 - 1,55 lần so với tiêu
chuẩn cho phép. Bụi là vấn đề đáng lo ngại nhất bởi đến 89% giá trị quan
trắc không đạt chuẩn. Ô nhiễm không khí tại khu công nghiệp cũng ảnh
hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống. Khảo sát gần đây cho thấy, lĩnh
vực công nghiệp chiếm 40% nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Trong
tổng số khoảng 34 tấn rác thải rắn y tế mỗi ngày, thì Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầu khí quyển của Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng báo động.
Một trong những điển hình về ô nhiễm môi trường tại đô thị là vấn đề ô
nhiễm sông Tô Lịch
17
Sông Tô Lịch chảy trong địa phận Hà Nội. Dòng chính sông Tô Lịch chảy
qua các quận, huyện: Thanh Xuân, Hoàng Mai, Thanh Trì. Sông Tô Lịch là
một trong những con sông lớn ở Hà Nội nhưng hiện nay đã trở thành nơi
thoát nước thải của thành phố. Do tốc độ đô thị hoá, quy hoạch xây dựng
thiếu đồng bộ, sự thiếu ý thức của những người dân sống ở ven sông Tô
Lịch đã làm cho con sông trở nên ô nhiễm nặng nề.
Một trong những cống nước đổ xuống sông Tô Lịch
Cũng theo bộ Tài nguyên - Môi trường, hầu hết các con sông thuộc nội
thành Hà Nội đều nhiễm khuẩn hữu cơ vượt gấp từ 3 tới 5 lần mức cho
phép; đối với nước thải sinh hoạt thì mức độ vượt tiêu chuẩn vượt tới hàng
chục lần, thậm chí hàng trăm lần. Sông Tô Lịch đã có dấu hiệu ô nhiễm kim
loại nặng, vào mùa khô mức độ ô nhiễm càng trở nên trầm trọng. Kết quả
kiểm tra gần đây cho thấy lượng ôxy hòa tan (DO) đạt rất thấp. Lượng ôxy

Đã có nhiều ý kiến đưa ra về giải pháp các cải tạo sông Tô Lịch. Hiện nay
thành phố đang tiến hành 1 số giải pháp cải tạo sông Tô Lịch Theo đề án của
Sở Tài nguyên Môi trường, đoạn sông được chọn để xử lý là đầu nguồn sông
(tại cửa điều tiết nối với Hồ Tây) đến điểm hợp lưu với sông Lừ (thuộc
19
phường Hoàng Liệt). Theo đó, đơn vị chức năng sẽ tiến hành thu gom nước
thải theo từng đoạn và xử lý bằng trạm xử lý quy mô nhỏ tại các cửa xả lớn,
nước sau xử lý lại bổ cập cho sông Tô Lịch.Ngoài ra, sông Tô Lịch sẽ được
bổ cập nước để pha loãng giảm nồng độ ô nhiễm. Tuy nhiên, mối quan ngại
của cơ quan chức năng là các kênh mương đã bị ngắt quãng trong quá trình
đô thị hóa. Ngoài ra, Sở TNMT còn đề xuất với UBND thành phố cơ chế
khuyến khích các hộ dân ứng dụng chế phẩm vi sinh, hóa sinh để xử lý nước
thải, đặc biệt là nước đen từ bể phốt, trước khi thải ra cống chung đổ xuống
sông Tô Lịch. Các khu nhà ở, công trình mới xây dựng đều phải có công
nghệ xử lý nước thải triệt để, hiệu quả để đảm bảo nước thải trước khi ra môi
trường.
Theo một kết quả nghiên cứu mới công bố năm 2008 của Ngân hàng thế giới
(WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất,
nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô
nhiễm đất nặng nhất. Theo báo cáo của Chương trình môi trường của Liên
hợp quốc, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu á về mức độ ô
nhiễm bụi.
Không chỉ tại các đô thị mới gặp các vấn đề về môi trường, khu vực nông
thôn cũng đang gặp các vấn đề nghiêm trọng về môi trường. Do nhận thức
còn kém phong tục tập quán lạc hậu và ý thức người dân đang làm cho các
khu vực nông thôn gặp các vấn đề về ô nhiễm môi trường. hàng ngày rác
thải sinh hoạt của người dân được xả trực tiếp ra môi trường không qua xử
lý một số nơi có điểm tập kết chôn lấp tập chung nhưng việc tập kết rác thải
gặp rất nhiều khó khăn do tập quán sinh hoạt của người dân và cũng do ý
thức của người dân , trong khi đó các cơ sở sản xuất nhỏ các cơ sở chăn nuôi

về quy trình sử dụng nên thuốc bảo vệ thực vật gây nhiều tác hại cho chính
người sử dụng thuốc và người tiêu dùng nông sản và thực phẩm có chứa dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời ảnh hưởng đến môi trường sống.Báo
cáo tổng hợp của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên&Môi trường, mỗi
năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nông
nghiệp nguy hại, chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, trong đó không ít loại
thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng. Ngoài ra, cả nước còn khoảng 50 tấn
thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu tại hàng chục kho bãi; 37.000 tấn hóa chất
dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang được lưu giữ chờ xử lý. Môi trường
nông thôn đang phải gánh chịu những bất lợi từ hoạt động sản xuất nông
nghiệp. Nước ta có trên 77% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn với cơ
cấu ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ. Trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, khu vực nông thôn
mang tính chiến lược, trước mắt cũng như lâu dài. Vì vậy, nông thôn chi phối
21
và tác động nhiều mặt đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường quốc
gia.
Ô nhiễm môi trường biển cũng đang xảy ra với mức độ báo động do sức ép
về kinh tế khả năng quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên biển kém. ô
nhiễm dẫn đến sự cạn kiệt các tài nguyên cá, nhất là các loài cá ven bờ; tính
đa dạng sinh học ngày càng bị đe doạ do phá huỷ môi trường sống như rừng
ngập mặn, rạn san hô; axit hoá đất do phát quang rừng ven biển trên các
vùng đất phèn để làm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản; ô nhiễm biển do
dầu bởi vận tải biển, các hoạt động khai thác dầu ngoài khơi và các sự cố
tràn dầu; ô nhiễm do nước cống đô thị không được xử lý; sử dụng hoá chất
trong nông nghiệp và công nghiệp không quản lý chặt chẽ.
Những sự cố tràn dầu như thế này cũng là một trong những nguyên nhân gây
ô nhiễm môi t rường biển (ảnh internet)
Thêm vào đó, các loại thiên tai như bão, lũ và xâm nhập mặn tác động lớn
tới môi trường biển và có xu hướng trầm trọng thêm bởi các hoạt động của

biển do dầu tại Việt Nam (chiếm khoảng 43% tổng lượng dầu được đưa vào
Việt Nam). Năm năm qua, chỉ tính các vụ tai nạn gây sự cố tràn dầu trên 50
tấn đã có hơn 50 vụ.Đáng chú ý là các vụ tràn dầu nghiêm trọng những năm
gần đây có xu hướng tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường nhất là
các vùng nuôi trồng thuỷ sản.Theo thống kê 1992 - 2006, có 35 vụ sự cố tràn
dầu xảy ra tại Việt Nam, trong đó, điển hình là vụ tàu Neptune Aries đâm
vào cầu cảng Cát Lái - TP. Hồ Chí Minh (tràn 1.864 tấn dầu DO), được đền
bù 4,2 triệu USD/19 triệu USD theo đánh giá; tàu Kasco Monrovia tại Cát
Lái - Thành phố HCM (tràn 518 tấn dầu DO). Gần đây, do thời tiết xấu, tàu
23
Ðức Trí chở 1.700 tấn dầu FO đã bị chìm tại vùng biển Bình Thuận trong
khi vào khu vực Mũi Né (Phan Thiết) để tránh gió. Đa phần các sự cố tràn
dầu là do đâm va của tàu dầu, trong đó: 56% số vụ < 700 tấn và 100% số vụ
> 700 tấn. Bên cạnh đó, vùng biển nước ta có khoảng 340 giếng khoan thăm
dò và khai thác dầu khí, ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn,
trung bình mỗi năm hoạt động này còn phát sinh khoảng 5.600 tấn rác thải
dầu khí, trong đó có 20 - 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa
và nơi xử lý. Chất lượng môi trường đi xuống cũng đang làm cho môi
trường biển bị ô nhiễm. Báo cáo hiện trạng môi trường đã chỉ ra rằng chất
lượng môi trường biển và vùng ven biển tiếp tục bị suy giảm. Trầm tích biển
ven bờ là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật đáy đặc sản, nhưng chất lượng
cũng thay đổi. Một số vùng ven bờ bị đục hoá, lượng phù sa lơ lửng tăng đã
ảnh hưởng đến du lịch, giảm khả năng quang hợp của một số sinh vật biển
và làm suy giảm nguồn giống hải sản tự nhiên. Nước biển của một số khu
vực có biểu hiện bị axit hoá do độ pH trong nước biển tầng mặt biến đổi
trong khoảng 6,3 - 8,2. Nước biển ven bờ có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất
hữu cơ, kẽm (Zn), một số chủng thuốc bảo vệ thực vật. Hiện tượng thuỷ
triều đỏ xuất hiện tại vùng biển Nam Trung Bộ, đặc biệt là tại Khánh Hoà,
Ninh Thuận, Bình Thuận làm chết các loại tôm cá đang nuôi trồng ở các
vùng này. Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên

tế... trong việc bảo vệ môi trường.
1.2.2 ) quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực
lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả
hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối
với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi
trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục,
phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường. Rất ít trường
hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí khác
như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh
hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng
nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết,
doanh nghiệp trây ỳ nên cũng không có hiệu quả.
1.2.3 ) các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức
đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu trách
nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Công tác thanh tra, kiểm
tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất
dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ
biến. Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án
đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí
25

Trích đoạn Xử lý các tổ chức, cá nhân họat động, sản xuất kinh doanh dịch vụ gây ô nhiễm môi trường Khắc phụ cô nhiễm, phục hồi môi trường, ứng phó sự cố môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status