Tàu không số trên bến Vũng Rô 1 - Pdf 30

Tàu không số trên bến Vũng Rô (Bài 1)
QĐND - Thứ Ba, 04/10/2011, 18:52 (GMT+7)
I - Mở bến Vũng Rô
QĐND - Theo tác phẩm "Lịch sử Lữ đoàn 125 Hải quân" của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm
2001 viết: "Mùa thu năm 1964, đường Trường Sơn mới vươn tới vùng ba biên giới, chủ yếu chi viện cho Tây
Nguyên và vùng giáp ranh của Liên khu 5. Tuy nhiên, việc vận tải bằng đường bộ, do nhiều nguyên nhân mà
chủ yếu là sự đánh phá ác liệt của kẻ địch, nên gặp rất nhiều khó khăn".
Thực hiện chủ trương phối hợp toàn miền do Trung ương Cục phát động, Bộ tư lệnh Quân khu 5 mở đợt hoạt
động của các lực lượng vũ trang 6 tháng cuối năm 1964, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta,
phá ấp chiến lược. Được các lực lượng vũ trang hỗ trợ, mùa thu năm 1964, nhân dân Khu 5 đã đồng khởi phá
tan 1.485 ấp chiến lược ở đồng bằng, 292 ấp chiến lược ở miền núi, giải phóng 123 xã. Nhiều vùng, quần
chúng nổi dậy làm chủ gồm 15 đến 20 xã liền nhau, sát đường số 1, tạo thế cho bộ đội chủ lực về đứng
chân. Phong trào đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị phát triển. Tuy nhiên, Khu 5 gặp khó khăn là thiếu
vũ khí. Các tỉnh Khu 5 liên tục điện ra Trung ương xin vũ khí. Có lần, tỉnh Quảng Ngãi đã chủ động đưa
thuyền ra Bắc xin vũ khí... Một khó khăn đối với Khu 5 nữa là, mùa đông năm 1964, giữa lúc phong trào cách
mạng đang lên, một trận lụt lớn chưa từng thấy trong vòng 100 năm đã xảy ra ở địa bàn này. Lợi dụng thiên
tai, Mỹ-ngụy dùng xuồng máy, xe lội nước càn quét, đánh phá.
Việc cung cấp vũ khí cho Khu 5 trở thành một
nhiệm vụ cấp bách. Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Bộ
Tổng tham mưu (Bộ phận B) kết hợp với Bộ tư
lệnh Hải quân nghiên cứu nhiệm vụ mở bến, chi
viện vũ khí cho vùng ven biển Khu 5.
Vận chuyển vũ khí vào Khu 5 là công việc phức tạp
và vô cùng khó khăn. Mặc dù cung đường so với
mút cùng đất nước có ngắn hơn, song việc đặt bến
chẳng thuận lợi. Vùng biển Khu 5 không có nhiều
kênh rạch và rừng cây um tùm phủ xuống như ở
Nam Bộ. Các cửa sông hẹp, đồn địch ken dày và
rất nhiều căn cứ hải thuyền của địch. Là vùng sát
giới tuyến, lại nằm sát quốc lộ nên hệ thống ra-đa,
tàu chiến và máy bay của địch kiểm soát khá cẩn

chức hành lang vận chuyển hàng về phía sau để chi viện vũ khí cho chiến trường ba tỉnh.
Vũng Rô nằm sát Quốc lộ 1A dưới chân Đèo Cả thuộc địa phận xã Hòa Xuân, huyện Tuy Hòa (nay là huyện
Đông Hòa), tỉnh Phú Yên, tiếp giáp với Đại Lãnh - Vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa). Vũng Rô có diện tích
mặt nước 17km
2
, có độ nước sâu gần bờ từ 14 đến 19m, kín gió, đáy vịnh ổn định. Cửa biển vào Vũng Rô
rộng 2km. Nơi tiếp giáp hải phận quốc tế ở vị trí 12052' vĩ độ Bắc, 109025' kinh độ Đông. Phía bắc giáp dãy
núi Đá Bia cao 706m. Phía nam giáp Đại Lãnh (tỉnh Khánh Hòa). Phía tây giáp Đèo Cả có Quốc lộ 1A và
đường sắt Bắc-Nam. Phía đông giáp Biển Đông (có Mũi Điện - Cáp Varilla)...
Vũng Rô có địa hình núi non hiểm trở bao bọc, có nhiều hang động, gộp đá ở nhiều độ cao khác nhau và
đường sá độc đạo, thuận lợi cho việc hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương. Địa hình đó
thuận tiện cho việc cất giấu, bảo quản vũ khí, lương thực, thực phẩm an toàn khi chuyển từ tàu đưa vào bến,
rồi từ bến chuyển đi các nơi. Trong khu vực Vũng Rô có nhiều bãi như: Bãi Chính, Bãi Chùa, Bãi Lau... rất
thuận tiện cho việc xuống hàng và có nguồn nước ngọt phục vụ tốt cho mọi sinh hoạt của bộ đội, dân quân
du kích và dân công các xã về đây tải hàng.
Từ Bãi Chính có con đường mòn đi ra Mũi Điện, đi qua núi Bà và núi Bia đến vùng Bãi Xép-khu căn cứ cách
mạng Miền Đông, giáp với vùng giải phóng các xã Hòa Hiệp, Hòa Xuân, Hòa Thịnh v.v.. Các xã này đã có lực
lượng dân quân du kích khá vững mạnh, đã đánh và thắng địch nhiều trận vang dội, là chỗ dựa vững chắc
cho phong trào đấu tranh chính trị ở địa phương.
Nhưng bến Vũng Rô cũng có một số nhược điểm là khá trống trải, khó khăn cho việc tàu chở hàng chi viện
đậu lại bến chờ thời cơ. (Nó khác với những kênh rạch ở Nam Bộ, khi tàu vào có rừng đước, rừng tràm che
chở, thời gian tàu nằm lại bến từ 5 đến 7 ngày không lo bị địch phát hiện). Ngoài ra, quanh Vũng Rô còn có
nhiều núi đá khá cao; địch xây dựng trên đỉnh Đèo Cả bót Pơ Tý và đặt trạm quan sát bảo vệ Vũng Rô. Quốc
lộ 1A và đường sắt Bắc-Nam chạy ngang qua Vũng Rô tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ địch dễ cơ động lực
lượng khi phát hiện các hoạt động của ta ở Vũng Rô. Mặt khác, Vũng Rô chỉ có một cửa ra vào nên khi có sự
cố, địch huy động lực lượng ứng phó nhanh, chốt chặn cửa vịnh là tàu của ta khó thoát. Và Vũng Rô chỉ cách
tỉnh đường Phú Yên của địch chừng 30km theo đường chim bay, nếu bị lộ địch sẽ dùng quân đến vây ráp
ngay. Đồng thời, tại bến không có sẵn lực lượng túc trực cố định để làm nhiệm vụ bốc hàng, hầu hết dân
công đều huy động ở các xã liền kề trong vùng giải phóng, họ đều có quan hệ gia đình làng xóm, nên công
tác bảo mật là rất khó khăn. Với các đặc điểm khó khăn trên của ta nên bọn địch rất chủ quan và quản lý sơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status