Giải pháp nâng cao chất lượng nhiệp vụ thẩm định dự án đầu tư tại sở giao dịch i NHĐT PTVN - Pdf 30

LUẬN VĂN:

Giải pháp nâng cao chất lượng nhiệp
vụ thẩm định dự án đầu tư tại Sở giao
dịch I NHĐT & PTVN

Lời mở đầu

Chương I
phương pháp luận về thẩm định dự án đầu tư
I. Dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư
1. Dự án đầu tư
Đầu tư là hoạt động sử dụng vốn trong một thời gian khá dài nhằm mục đích
thu lại lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động đầu tư diễn ra hết sức đa dạng và
phong phú. Để tiến hành đầu tư, các chủ đầu tư cần phải tiến hành thu thập các thông
tin, tài liệu có liên quan đến công cuộc đầu tư của họ. Quá trình phân tích, xử lý các
thông tin và đưa ra các giải pháp cho ý tưởng đầu tư được gọi là quá trình lập dự án
đầu tư .
Như vậy về bản chất, dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ
vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc hiện đại hoá các tài sản cố định nhằm đạt được
sự tăng trưởng về số lượng và nâng cao chất lượng của sản phẩm trong một khoảng
thời gian xác định.
Về hình thức thể hiện, dự án đầu tư là tài liệu trong đó nghiên cứu một cách
đầy đủ, khoa học và toàn diện toàn bộ nội dung các vấn đề có liên quan đến công
trình đầu tư, nhằm giúp cho việc ra quyết định đầu tư được đúng đắn và đảm bảo
hiệu quả của vốn đầu tư .
2. Thẩm định dự án đầu tư
2.1. Khái niệm về thẩm định dự án đầu tư
Các dự án đầu tư khi được soạn xong dù được nghiên cứu tính toán rất kỹ
càng thì chỉ mới qua bước khởi đầu. Để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả tính khả
thi của dự án và ra quyết định dự án có được thực hiện hay không phải có một quá
trình xem xét kiểm tra, đánh giá một cách độc lập và tách biệt với quá trình soạn thảo
dự án. Quá trình đó gọi là thẩm định dự án.
Thẩm định dự án đầu tư là quá trình một cơ quan chức năng (nhà nước hoặc
tư nhân) thẩm tra, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện về các mặt
pháp lý, các nội dung cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả, tính khả thi, tính hiện thực
của dự án, để quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư

giá tính khả thi, tính hiệu quả của dự án mà quan trọng hơn đó là khả năng hoàn trả
vốn đầu tư, hoàn trả cả gốc và lãi khoản vốn mà chủ đầu tư đã vay ngân hàng .
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Là người quyết định xem nên đầu tư
nguồn lực xã hội vào lĩnh vực nào. Với vai trò của mình các cơ quan quản lý Nhà

nước tiến hành thẩm định dự án với mục đích kiểm tra sự cần thiết, hiệu quả kinh tế -
xã hội của dự án cũng như những ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực của dự án đối với
cộng đồng, với môi trường sinh thái Qua đó quyết định dự án nào được triển khai,
dự án nào được triển khai trước để đảm bảo hiệu quả cao nhất của nguồn lực xã hội.
2.3. Yêu cầu trong thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định là công việc rất phức tạp, đòi hỏi người thẩm định phải hiểu biết
tổng hợp về nhiều lĩnh vực. Đối với mỗi dự án, mỗi chủ thể thẩm định mà yêu cầu về
nội dung thẩm định có khác nhau. Tuy nhiên, dù đứng trên góc độ nào đi chăng nữa,
để đảm bảo chất lượng thẩm định thì chủ thể có thẩm quyền thẩm định phải đảm bảo
các yêu cầu sau:
- Nắm vững chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của ngành, của
địa phương và các quy chế luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng
của nhà nước.
- Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình và
trình độ kinh tế chung của đất nước, của địa phương, của ngành, của thế giới. Nắm
vững tình hình sản xuất kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp, các quan
hệ tài chính - tín dụng của doanh nghiệp hoặc của chủ đầu tư với các doanh nghiệp
khác hoặc chủ đầu tư khác, với các ngân hàng
- Biết khai thác các số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp (chủ
đầu tư), các thông tin liên quan đến giá cả, thị trường để phân tích hoạt động chung
của doanh nghiệp (chủ đầu tư),
- Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật quan trọng của

, bảo lãnh Hoạt động này tuy không phải là hoạt động chính của ngân hàng thương
mại, song để thực hiện tốt hoạt động này thì ngoài uy tín của mình ra thì các ngân
hàng thương mại còn phải thường xuyên tiến hành đầu tư và nâng cấp các hệ thống
liên quan đến việc cung ứng dịch vụ ngân hàng.
*Hoạt động cho vay:
- Theo mục đích sử dụng tiền vay thì hoạt động cho vay bao gồm:
+ Cho vay sản xuất: chủ yếu là cho vay với thời hạn dài, có thể là cho
vay công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản
+ Cho vay thương mại: chủ yếu là cho vay trong thời hạn ngắn, có thể
là cho vay thanh toán hoặc cho vay mua tài sản lưu động, cho vay tiêu dùng
- Theo thời gian sử dụng tiền vay:

+ Khoản vay có thời hạn : là khoản vay trong thời gian cho vay được
xác định cụ thể, bao gồm các khoản vay ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng) và các
khoản vay trung và dài hạn (thời gian vay dài hơn 1 năm).
+ Khoản vay không có thời hạn: là những khoản vay mà thời hạn hoàn
trả không được xác định trước, thay vào đó là những điều kiện về hoàn trả tiền vay
mà ngân hàng và chủ thể đi vay thoả thuận với nhau.
1.3. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tiền tệ nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn giữa
một bên là ngân hàng và một bên là các cá nhân, các chủ thể kinh tế khác trong xã
hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò là chủ nợ, theo những điều kiện nhất định.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng NHTM xảy ra khi xuất hiện các biến cố làm
cho khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình đối với Ngân hàng
vào thời điểm đáo hạn. Nói cách khác, rủi ro tín dụng là loại rủi ro gắn liền với việc
không thu được nợ đến khi đến hạn từ các khách hàng của NHTM.
Rủi ro tín dụng xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng ta có thể phân ra làm

định khách hàng vay vốn. Bởi vì, thẩm định dự án đầu tư, thẩm định khách hàng sẽ
giúp cho ngân hàng:
- Có quyết định chủ trương bỏ vốn đầu tư đúng đắn có cơ sở đảm bảo hiệu
quả của vốn đầu tư.
- Phát hiện và bổ sung thêm các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi cho việc
triển khai thực hiện dự án, hạn chế giảm bớt các yếu tố rủi ro.
- Tạo ra căn cứ để kiểm tra viêc sử dụng vốn đúng mục đích, đối tượng và tiết
kiệm vốn đầu tư trong quá trình thực hiện.
- Có cơ sở tương đối vững chắc để xác định được hiệu quả đầu tư của dự án
cũng như khả năng hoàn vốn, trả nợ của dự án và chủ đầu tư.
- Rút kinh nghiệm để thực hiện các dự án sau được tốt hơn.
2.2. Những nguồn thông tin để thẩm định
Một nguyên nhân gây ra những rủi ro rất lớn cho hoạt động của NHTM đó là
“thông tin không cân xứng”. Thông thường để được vay vốn, khách hàng thường
cung cấp cho ngân hàng những thông tin đôi khi không trung thực, hoặc do độ trễ
của thông tin dẫn tới những kết luận sai từ phía ngân hàng. Đặc biết là trong công tác
thẩm định, thông tin đóng vai trò quyết định, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm
định. Do đó, viêc thu thập thông tin để đảm bảo chất lượng thẩm định là rất quan
trọng.

2.2.1. Thông tin thu thập được từ khách hàng
- Qua việc tiến hành phỏng vấn người xin vay vốn: ngân hàng có thể có được
những thông tin ban đầu về doanh nghiệp như quá trình hình thành và phát triển của
doanh nghiệp, chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên chức, bản chất của sản
phẩm dự án. Qua phỏng vấn khách hàng ngân hàng còn có thể kiểm tra tính trung
thực của khách hàng và từ đó có thể biết được ý muốn trả nợ của họ đối với ngân
hàng hay không.
2.2.3. Một số nguồn thông tin khác
ở nước ta hiện nay có trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của ngân hàng Nhà
nước.Tại đây cán bộ tín dụng có thể lấy các thông tin cần thiết cho quyết định tín
dụng của mình. Ngân hàng cũng có thể thu thập thông tin từ các ngân hàng khác,
hoặc khi cần thiết có thể mua thông tin
2.3. Các nhân tố tác động tới chất lượng thẩm định dự án đầu tư của ngân
hàng thương mại
2.3.1. Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư
Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư là một khái niệm trừu tượng,
không thể định lượng, đứng trên góc độ đối tượng thẩm định khác nhau thì chất
lượng thẩm định tài chính dự án được hiểu có điểm khác nhau. Trên quan điểm của
một Ngân hàng thương mại (một nhà tài trợ) thì hoạt động thẩm định tài chính dự án
đầu tư được cho là có chất lượng khi mà thông qua qúa trình xem xét, đánh giá dữ
liệu, thông số ở hồ sơ dự án trình lên cũng như phân tích những chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả tài chính, Ngân hàng có thể ra quyết định tài trợ hợp lý, phát hiện được
những điểm chưa phù hợp mà chủ đầu tư không phát hiện ra hoặc cố tình che dấu.
Từ đó yêu cầu và thuyết phục chủ đầu tư điều chỉnh dự án theo hướng phù hợp nhất
để việc tài trợ hiệu quả và thu hồi được vốn.
Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư là một trong những nhân tố có
quyết định chất lượng tín dụng. Do đó, việc xác định nhân tố ảnh hưởng tới chất
lượng thẩm định là rất quan trọng để trên cơ sở các nhân tố đó đưa ra những giải
pháp thích hợp tác động tới từng nhân tố để từng bước nâng cao chất lượng nghiệp
vụ thẩm định
2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định
Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định dự án thành hai
loại sau:
tác thẩm định trong giai đoạn dự án đi vào hoạt động. Do vậy tác động của nó là khá
lớn, người thẩm định cần dự báo về chúng để có thể loại bỏ, phòng tránh một cách
tốt nhất.

2.4. Quy trình thẩm định dự án đầu tư trong Ngân hàng thương mại
(1), (2): Trưởng phòng tín dụng tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ dự án vay vốn
(3): nếu hồ sơ vay vốn chưa đủ cơ sở để thẩm định thì chuyển lại để cán bộ
phòng tín dụng hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh, bổ sung hồ sơ
(4): Nếu đã đủ cơ sở thẩm định thì ký, giao nhận hồ sơ, vào sổ theo dõi và
giao cho cán bộ thẩm định trược tiếp thẩm định
(5),(6), (7): Trên cơ sở đối chiếu các quy định tại các hướng dẫn và nội dung
yêu cầu, Cán bộ thẩm định tổ chức xem xét thẩm định dự án đầu tư và khách hàng
xin vay vốn. Nếu cần thiết, đề nghị cán bộ tín dụng hoặc khách hàng bổ sung hồ sơ
hoặc giải trình rõ thêm
(8): Cán bộ thẩm định lập báo cáo thẩm định trình trưởng phòng tín dụng xem
xét.
(9), (10): Trưởng phòng tín dụng kiểm tra, kiểm soát về nghiệp vụ thông qua
hoặc yêu cầu Cán bộ thẩm định chỉnh sửa, làm rõ các nội dung.
(11), (12): Phòng thẩm định lưu hồ sơ, tài liệu cần thiết và gửi trả hồ sơ kèm
báo cáo thẩm định cho phòng Tín dụng

Sơ đồ 1: Lưu đồ quy trình thẩm định dự án đầu tư
Phòng tín dụng Cán bộ thẩm định Trưởng phòng tín dụng


Chưa đủ điều kiện
( 5 )

( 8 )
(9)

( 12 ) (
( 2 )

( 4 )

Lập báo
cáo thẩm
đ
ịnh

Lưu hồ sơ,
tài liệu
Nhận lại
hồ sơ và
KQKD

Kiểm
tra,
Kiểm
tra sơ

3 Nội dung thẩm định dự án đầu tư trong Ngân hàng thương mại
3.1. Thẩm định, đánh giá khách hàng vay vốn
3.1.1 Năng lực pháp lý của khách hàng
Khách hàng vay vốn phải có đủ năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật,
phải có đủ hồ sơ chứng minh năng lực pháp lý theo quy định của pháp luật hiện hành
* Đối với doanh nghiệp :
+ Quyết định thành lập
+ Giấy phép đầu tư theo luật đầu tư nước ngoài
+ Đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh
nghiệp

+ Phẩm chất, tư cách, uy tín của lãnh đạo trong và ngoài doanh nghiệp
+ Khả năng nắm bắt thị trương, thích ứng hội nhập thị trường
3.1.5. Quan hệ của khách hàng đối với các tổ chức tín dụng
* Quan hệ tín dụng
- Đối với các chi nhánh cho vay và các chi nhánh khác trong cùng hệ thống
ngân hàng: Dư nợ ngắn, trung và dài hạn, mục đích vay vốn của các khoản vay,
doanh số cho vay, thu nợ, mức dộ tín nhiệm
- Đối với các tổ chức tín dụng khác: dư nợ ngắn, trung và dài hạn đến thời
điểm gần nhất, mục đích vay vốn cảu các khoản vay, mức dộ tín nhiệm
* Quan hệ tiền gửi
- Đối với các chi nhánh cho vay và các chi nhánh khác trong cùng hệ thống
ngân hàng: số dư tiền gửi bình quân, doanh số tiền gửi, tỷ trọng so với doanh thu
- Đối với các tổ chức tín dụng khác
3.1.6. Tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính của khách hàng
3.1.6.1. Nguyên tắc đánh giá
Việc tính toán các chỉ số để đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tài chính
của khách hàng cần phải được thực hiện qua nhiều năm (ít nhất là 2 năm), khi đánh
giá, nhận xét cán bộ tín dụng cần phải nhìn một cách tổng thể về các chỉ tiêu đánh
giá và có sự so sánh với thực tế, đặc diểm của khách hàng để việc đánh giá được
chính xác và toàn diện.
3.1.6.2. Phân tích tình hình SXKD và tình hình tài chính

Phân tích tình hình SXKD và tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm
tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tình hình SXKD và tình hình tài chính hiện hành
với quá khứ của doanh nghiệp. Qua đó, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm
năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai và triển vọng của
doanh nghiệp.

giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu, nó xem xét mối quan hệ tương tác giữa hệ số sinh lợi
doanh thu với hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu doanh
nghiệp. Phương pháp này được sử dụng như việc tổng hợp ảnh hưởng các nhân tố
nhằm rút ra các nhận xét và kiến nghị.
* Phương pháp SWOT: (strengths and weaknesses, opportunities and threats) là
phương pháp đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội của doanh nghiệp
và những thách thức đối với doanh nghiệp dựa trên những yếu tố nội tại bên trong
doanh nghiệp và những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của
doanh nghiệp để lên kế hoạch đầu tư dài hạn.
Nhân tố liên quan đến phương pháp SWOT bao gồm một loạt các yếu tố có
thể làm tăng hoặc giảm năng lực hoạt động của doanh nghiệp như độ lớn của thị
trường, sự cạnh tranh, cơ hội cho sản phẩm mới của doanh nghiệp, nguồn lao động
với tay nghề cao, vấn đề quản lý nguyên liệu thô
Quy trình thẩm định sẽ đưa ra nhiều câu hỏi và ngân hàng cần sắp xếp những thông
tin thu thập được thành “ bản tóm tắt về doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh trên thị
trường”. Sau đó, ngân hàng cần tiến hành:
- Đánh giá điểm mạnh và yếu của doanh nghiệp: Từ bản tóm tắt trên, ngân
hàng có thể đánh giá khả năng thực sự của doanh nghiệp, độ linh hoạt trong quản lý
và xác định xem môi trường, lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động có tốt hay không.
- Đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Nhiệm vụ của thẩm định là
phải lập được bản tóm tắt sơ bộ về các đối thủ cạnh tranh chính của doanh nghiệp trên
thị trường, thông qua đó, ngân hàng sẽ tiến hành so sánh xem doanh nghiệp trội hơn ở
lĩnh vực nào và kém đối thủ cạnh tranh ở những điểm nào.

- Đánh giá những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp: Yêu cầu đặt ra
đối với ngân hàng khi thẩm định là phải lập bản nhận xét về năng lực của doanh
nghiệp, (xét trong môi trường đang hoạt động và trong nền kinh tế nói chung) để có


dụng, làm ăn với doanh nghiệp mà còn giúp cho bản thân doanh nghiệp thấy được
khả năng chi trả thực tế từ đó có biện pháp trong việc điều chỉnh các khoản mục tài
sản cho hợp lý để nâng cao khả năng thanh toán.
- Khả năng thanh toán hiện hành: Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành là
thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các
khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển
thành tiền trong một giai đoạn tương đương vơí thời hạn của các khoản nợ đó.

Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn

- Khả năng thanh toán nhanh. Tỷ lệ này được tính bằng cách chia các tài sản
quay vòng nhanh cho nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể
nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản
phải thu. Tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ
ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho) và được xác định
bằng cách lấy tài sản lưu động trừ phần dữ trữ (tồn kho) chia cho nợ ngắn hạn.
Tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh =
Tài sản lưu động - Dự trữ
Nợ ngắn hạn

Mức trung bình hợp lý cho tỷ lệ này là (1) vì nó cho thấy nếu doanh nghiệp
bán đi các tài sản tương đương tiền và thu hồi được các khoản phải thu thì nó có thể
thanh toán được các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán đi dự trữ.
- Khả năng thanh toán tức thời. Đây là tỷ lệ thể hiện chính xác nhất khả năng
thanh toán của doanh nghiệp vì nó loại bỏ tính không chắc chắn của các khoản phải
thu cũng như khả năng chuyển đổi thành tiền chậm của dự trữ. Nó được tính bằng
cách lấy tiền mặt và các khoản coi như tiền mặt (tiền gửi ngân hàng, ngân phiếu )

toán lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp. Song, nếu tỷ lệ nợ quá cao, doanh
nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
- Khả năng thanh toán lãi vay (hoặc số lần có thể trả lãi). Tỷ lệ này được tính
bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi cho lãi tiền vay.
Khả năng thanh toán lãi vay =
Lợi nhuận trước thuế và lãi
Lãi tiền vay

Tỷ lệ này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi hàng năm như
thế nào. Một doanh nghiệp nếu có hệ số nợ quá cao, khả năng trả lãi vay lại thấp sẽ
không thể vay thêm được nữa vì các chủ đầu tư, chủ nợ mặc dù thích một lợi nhuận
kỳ vọng cao nhưng lại ghét rủi ro. Vì vậy, doanh nghiệp cần quyết định sử dụng nợ
sao cho cân bằng được giữa lợi nhuận và rủi ro.
- Khả năng độc lập về tài chính. Chỉ tiêu này được tính bằng cách chia tổng
nguồn vốn chủ sở hữu cho vốn trung và dài hạn.
Khả năng độc lập về tài chính =
Vốn chủ sở hữu
Vốn trung và dài hạn Tỷ lệ này phản ánh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và khả năng chủ
động trong kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng tự chủ về
mặt tài chính của doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp càng ít chịu rủi ro. Tuy
nhiên, chi phí của vốn cổ phần lớn hơn chi phí nợ vay và việc gia tăng vốn cổ phần
có thể dẫn đến bị san sẻ quyền lãnh đạo doanh nghiệp.
- Hệ số cơ cấu tài sản. Phản ánh tỷ lệ từng loại tài sản trên tổng tài sản của
doanh nghiệp. Thông thường tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai loại là
Dự trữ (tồn kho) thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động của
doanh nghiệp. Dự trữ là một khoản đầu tư cần thiết để đảm bảo tính liên tục của sản
xuất và không bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh. Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ
khiến vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng, thậm chí, doanh nghiệp có thể bị thua lỗ do
giá trị hàng dự trữ giảm. Do đó, vòng quay dự trữ là một chỉ tiêu khá quan trọng để
đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có ảnh hưởng trực tiếp
đến nhu cầu vốn luân chuyển. Con số này càng cao chứng tỏ khả năng bán ra càng
lớn
- Kỳ thu tiền bình quân: Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được
sử dụng để đánh giá khả năng thu h
ồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp.

Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu
Doanh thu thuần
x 360
- Vòng quay vốn lưu động: Chi tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy
vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược
lại.
Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Vốn lưu động

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng,
thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất. Đẩy nhanh tốc độ luân

một trăm đồng doanh thu.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm =
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần

- Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời
của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ
vốn đầu tư vào doanh nghiệp.
Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu

- Doanh lợi vốn (ROI): Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh
giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư. Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của
doanh nghiệp được phân tích và phạm vi so sánh mà lựa chọn lợi nhuận trước thuế
và lãi hoặc lợi nhuận sau thuế để so sánh với tổng tài sản. Đối với doanh nghiệp có
sử dụng nợ trong kinh doanh, ta thường dùng chỉ tiêu doanh lợi vốn xác định bằng
cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi cho tổng tài sản.
Doanh lợi vốn =
Lợi nhuận sau thuế và lãi
Tổng tài sản

3.2. Thẩm định dự án đầu tư
3.2.1. Đánh giá sơ bộ theo các nội dung tài chính của dự án
- Mục tiêu, sự cần thiết của đầu tư dự án

- Quy mô đầu tư: công suất thiết kế, giải pháp công nghệ cơ cấu sản phẩm &


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status