1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN ANH NGỌC
DẠY - HỌC PHẦN VĂN HỌC CÁCH MẠNG 1945-1975
TRONG CÁC TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN 3 TP HỒ CHÍ
MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn và tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG
Vinh - 2014
2
BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT
STT Viết tắt Viết đầy đủ
1 CNXH Chủ nghĩa xã hội
2 GV Giáo viên
3 HS Học sinh
4 PPDH Phương pháp dạy học
5 TPVH Tác phẩm văn học
6 THPT Trung học phổ thông
7 VB Văn bản
8 VHCM Văn học cách mạng
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………….……………………………….………………………… 5
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………….5
2. Lịch sử vấn đề………………………………………………………….…6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………….…… 9
2.2.2. Tri thức về các tác giả: Tố Hữu, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn
Thi…………………………………………………………………………….62
2.2.3. Tri thức về thể loại: truyện ngắn, thơ trữ tình…………………… 66
2.2.4. Tri thức về tác phẩm……………………………………………… 74
2.3. Phương pháp cần thiết để dạy học phần văn học cách mạng 1945-
1975………………… …………………………………………………… 83
2.3.1. Phương pháp đọc diễn cảm……………………………………… 84
2.3.2. Phương pháp gợi mở……………………………………………….85
2.3.3. Dạy học nêu vấn đề…………………………………………………88
2.3.4. Phương pháp đọc – hiểu……………………………………………89
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM…………………………………… 93
5
3.1. Mục đích, yêu cầu thực nghiệm………………………………………… 93
3.2. Địa bàn thực nghiệm: Một số trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh…93
3.3. Kế hoạch thực nghiệm…………………………………………………… 93
3.4. Thiết kế giáo án thực nghiệm…………………………………………… 94
3.5. Thuyết minh giáo án thực nghiệm ……………………………………….126
3.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm ………………………………………….128
3.6.1. Biện pháp đánh giá…………………………………………….….128
3.6.2. Hướng đánh giá…………………………………………… …… 128
3.6.3. Kết quả thực nghiệm và nhận xét, đánh giá.……………….… …129
KẾT LUẬN………………………………….…………………………… 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….….138
PHỤ LỤC……………………………………………………………… … 142
6
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cám ơn Trường Đại học Vinh, Quý thầy
cô ở khoa Sư phạm Ngữ văn trường Đại học Vinh và trường Đại Sài Gòn,
đã giảng dạy chúng tôi trong suốt hai năm học cao học tại trường; Ban giám
hiệu và quý thầy cô ở tổ Văn Trường THPT Nguyễn Thị Diệu, THPT Lê
1.3. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng việc dạy học VHCM nói chung, văn
học cách mạng giai đoạn 1945-1975 nói riêng hiện nay đang gặp những khó
khăn. Thời gian chưa lùi bao xa, nhưng không khí xã hội sôi động của thời kỳ
một dân tộc “xẻ dọc Trường Sơn” ra trận, vẻ đẹp sử thi cao cả của hình tượng
nhân vật, giọng điệu hào hùng của văn chương một thời không phải là dễ đến
với các em trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay. Với những lý do trên, chúng
8
tôi chọn đề tài: Dạy - học phần văn học cách mạng 1945-1975 trong trường
THPT tại quận 3 TP HCM, nhằm giúp phần nào tháo gỡ những khó khăn, đề
xuất những giải pháp có tính khả thi để nâng cao chất lượng dạy học phần văn
học cách mạng giai đoạn 1945-1975 trong nhà trường THPT.
2. Lịch sử vấn đề
Sau đại thắng mùa xuân 1975, âm hưởng hai cuộc chiến thắng lợi của
dân tộc còn vang vọng. Trước thời kì Đổi mới, nhiều nhà nghiên cứu đã có
những công trình mang tính chất tổng kết đóng góp của văn học cách mạng
Việt Nam, ta có thể kể đến: Cuộc sống và tiếng nói nghệ thuật,
Tiểu thuyết
Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ, Văn xuôi Việt Nam trên con
đường hiện
thực xã hội chủ nghĩa của Phong Lê… Đến khi văn học chuyển
sang thời bình
với đúng nghĩa của nó, tinh thần dân chủ được đặt ra, nhiều tác
giả đã hướng
đến việc nhìn nhận văn học cách mạng từ nhiều góc độ khác nhau, từ ưu điểm
đến hạn chế. Hướng vào đánh giá văn học chiến tranh cách mạng trong cái
nhìn tương đối toàn diện có một số công trình đáng chú ý
Hà Minh Đức chủ
biên, người tiếp cận văn học của thế kỉ mới có dịp nhìn
nhận văn học hiện
đại Việt Nam trong bức tranh toàn cảnh, trong
nhiệm vụ hiện đại hóa văn
học, gìn giữ và phát huy truyền thống và cả trong
nhiệm vụ chính trị của nó.
Vài năm sau, khoảng năm 2003, hai công trình
đáng chú ý là Văn học Việt
Nam trong thời đại mới của Nguyễn Văn Long
và Văn học Việt Nam hiện
đại - Lịch sử và lý luận của Phong Lê ra đời, đã bổ sung thêm những cách
nhìn về văn học hiện đại Việt
Nam, trong đó có văn học cách mạng.
Nhìn chung, các ý kiến về đặc điểm của văn học cách mạng là khá
nhất quán. Các nhà nghiên cứu đã ca ngợi văn học cách mạng ở nội
dung yêu nước, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa anh hùng, ở giá trị tuyên
truyền cỗ vũ….Về nghệ thuật, các đặc điểm của văn học cách mạng
cũng được chỉ ra: vẻ đẹp sử thi của nhân vật, giọng điệu, hình ảnh, ngôn
từ đậm chất quần chúng, đậm chất sống…Các bài viết cũng mạnh dạn
chỉ ra những hạn chế của văn học cách mạng: sự hy sinh ít nhiều những
tiêu chí nghệ thuật, sự giới hạn phạm vi hiện thực ở cái hào hùng, cái
đẹp, cái đáng ngợi ca, sự từ chối những đề tài “ngoại vi” như tình yêu
nghiên cứu tìm hiểu thêm. Trong bối cảnh hôm nay, khi mặt trái của nền kinh tế
thị trường đang gây những tác hại không nhỏ đối với đạo đức, lối sống của nhiều
11
người, trong đó có học sinh phổ thông, việc khẳng định những giá trị của nền
văn học cách mạng lại càng là điều cần thiết. Vì vậy, chúng tôi viết luận văn này
nhằm tìm ra một hướng đi tích cực trong việc hiện thực hóa cách dạy, học ở một
địa bàn cụ thể để làm sao văn học cách mạng để lại nhiều ấn tượng tốt đối với
các em, kích thích được niềm yêu văn chương, để các em chủ động tìm hiểu về
một giai đoạn văn học đặc biệt, và nó càng đặc biệt hơn trong tình hình đất nước
đang có nhiều vấn đề chính trị, an ninh căng thẳng như hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Dạy - học phần văn học cách mạng
1945-1975 trong trường THPT tại quận 3 TPHCM.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cở sở lý luận và thực tiễn của việc dạy các tác phẩm VHCM
1945 -1975 được đưa vào chương trình ngữ văn 12, những nội dung, biện pháp
dạy học giúp học sinh tiếp thu hiệu quả nhất phần văn học này.
Các tư liệu khảo sát là chương trình và sách giáo khoa 12 Ngữ văn (ban cơ
bản), thực trạng dạy học phần văn học cách mạng 1945-1975 ở địa bàn Quận 3,
TP Hồ Chí Minh, và được khảo sát và thực nghiệm tại 3 trường: Trường THPT
Lê Qúy Đôn, Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, Trường THPT Nguyễn Thị
Diệu
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Góp phần tháo gỡ những khó khăn trong dạy học phần văn học cách mạng
giai đoạn 1945-1975, giúp học sinh thêm hiểu và yêu thích phần văn học cách
mạng nói chúng, văn học cách mạng 1945-1975 nói riêng.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
12
mạng 1945-1975.
13
- Phương pháp quan sát
Thông qua việc dạy thực nghiệm, tiếp xúc, trao đổi, chúng tôi có cơ
hội nắm bắt những phản ứng và năng lực cảm thụ, hiểu biết tác phẩm của
HS
trong quá trình học tác phẩm văn chương. Đó là sự thu thập thông tin từ
việc tổ
chức hướng dẫn của GV và cách tham gia xây dựng bài học của HS.
Trên cơ sở
đó, có thể nắm bắt được những thuận lợi cũng như khó khăn của
việc vận dụng
đặc trưng loại thể vào phân tích tác phẩm cụ thể.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Dự giờ trên lớp một số giáo viên ở ba trường đã nêu trên.
- Sử dụng phiếu phỏng vấn điều tra giáo viên và học sinh để nắm thông tin
về: những khó khăn, thuận lợi khi dạy và học văn học cách mạng; mức độ hứng
thú đối với từng thể loại; những đề xuất về SGK, chương trình, thời lượng,…
- Khảo sát SGK, SGV, STK; các bài viết của một số nhà giáo, nhà nghiên
cứu có uy tín trên các tạp chí “Văn học và tuổi trẻ”, “Giáo dục và thời đại” và
các báo có trang văn học.
6. Đóng góp của Luận văn
Lựa chọn đề tài: Dạy - học phần văn học cách mạng 1945-1975 trong
trường THPT tại quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi muốn đưa ra những
thao tác chuẩn bị cụ thể, cần thiết cho một giờ dạy văn bản VHCM nhằm giúp
người giáo viên có thêm một sự lựa chọn để thay đổi phương pháp giảng dạy
dung bài học trong những điều kiện học tập cụ thể.
Những năm gần đây, để thực thi việc đổi mới PPDH, các tài liệu bồi dưỡng
giáo viên tập trung nói đến phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm
trung tâm. Tinh thần của PPDH mới này là: tôn trọng HS, tránh áp đặt, linh
hoạt, chủ động và sáng tạo. HS tự mình tiếp xúc với văn bản, tự mình suy nghĩ
16
khám phá ra những đặc điểm nổi bật của văn bản ấy. Công việc của người thầy
rất quan trọng và cũng rất khác trước ở chỗ: phải biết tổ chức hệ thống công việc
để hướng dẫn HS tự tìm hiểu, tự khám phá, tránh làm thay, hiểu thay và nói thay.
Phương pháp mới này đặt học sinh vào vị trí trung tâm của giờ học, mục đích
cao nhất là làm sao để chủ thể học sinh, dưới sự hướng dẫn của thầy, cảm nhận
khám phá, chiếm lĩnh tri thức. Từ đó tự phát triển toàn diện về trí tuệ, tâm hồn,
nhân cách và năng lực. Như vậy so với PPDH truyền thống - lấy GV làm trung
tâm, PPDH mới đổi khác về mục đích, về con đường đạt đến mục đích, do đó
cũng đổi khác về cơ chế hoạt động dạy học cùng hàng loạt vấn đề về môi trường
dạy học, tiến trình tổ chức giờ dạy và cách thức đánh giá.
Cách dạy học và thuyết trình truyền thống lấy GV làm trung tâm là PPDH
thường gặp nhất ở các trường học trên khắp thế giới. Cách dạy học này có thể
rất hiệu quả, đặc biệt đối với:
- Việc chia sẻ thông tin không dễ dàng tìm thấy ở nơi khác
- Việc trình bày thông tin một cách nhanh chóng
- Việc tạo ra sự quan tâm vào thông tin
- Việc dạy học sinh tốt nhất bằng cách nghe
Tuy vậy phương pháp này đã bộc lộ một số hạn chế, cụ thể:
- Không phải học sinh nào cũng học tốt bằng cách nghe
- Thường khó duy trì lâu sự chú ý của học sinh
- Phương pháp này có khuynh hướng ít hoặc không đòi hỏi tư duy
phê phán
- Phương pháp này dựa trên giả định là tất cả học sinh đều có một
phong cách học giống nhau.
đối với đời sống. Đi vào SGK nhà trường, tác phẩm trước hết chịu sự lựa chọn
của hội đồng biên soạn SGK và tác phẩm văn chương đến với HS thông qua vai
trò trung gian của người GV. Tài năng sư phạm, kiến thức và vốn sống phong
phú cùng với trái tim nhạy cảm của người giáo viên sẽ góp phần tạo nên và nâng
cao sức mạnh của tác phẩm văn chương. Với ý nghĩa này, tác phẩm văn chương
trong nhà trường không chỉ là một phương tiện nhận thức mà còn là đối tượng
thẩm mĩ đồng thời còn là một cơ sở để hình thành những hiểu biết về lịch sử văn
học lại vừa là công cụ giáo dục đặc biệt giúp học sinh tự phát triển một cách toàn
diện về nhân cách. Mặt khác, với tư cách là một bạn đọc chủ động sáng tạo, HS
sẽ tiếp nhận tác phẩm bằng vốn kinh nghiệm và đặc điểm tâm sinh lí của bản
thân các em. Nhận thức đúng đắn về tác phẩm văn chương trong nhà trường sẽ
đưa đến việc lựa chọn phương pháp dạy học văn tối ưu, hiệu quả. Quá trình
giảng dạy một tác phẩm văn chương là quá trình kết hợp vận dụng những quy
luật về tâm lí giáo dục, những nguyên lí của khoa văn học. Vấn đề đặt ra là
người GV cần xác định rõ Dạy cái gì? và Dạy như thế nào? Một mặt, tìm con
đường tiếp cận, cắt nghĩa nội dung – nghệ thuật của tác phẩm, mặt khác tìm
phương pháp tổ chức cho HS tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm văn học một cách
chủ động, tích cực và sáng tạo. Nhìn vào con đường nghiên cứu, cải tiến, đổi mới
PPDH văn của một số nhà nghiên cứu giáo dục, có thể nhận thấy một số PPDH
văn được đề nghị như: phương pháp đọc diễn cảm, phương pháp dạy học nêu
vấn đề, phương pháp gợi mở, phương pháp so sánh trong phân tích, phương
pháp giảng bình,… Thực tế đã có tình trạng giáo viên vận dụng một cách máy
móc một số thủ pháp, tuyệt đối hóa hay cô lập một vài biện pháp, không coi
trọng sự cảm thụ của cá nhân HS, không quan tâm đến những khái quát nghệ
19
thuật, những hiểu biết cần có về bài văn,… Thực tiễn dạy cho thấy một người
GV giỏi sẽ có hơn một cách dạy học và giờ dạy học tác phẩm văn chương là một
quy trình thiết kế với một hệ thống các thao tác linh hoạt, hệ thống việc làm của
thầy và trò vừa phù hợp với quy luật cảm thụ văn chương vừa phát huy tính chủ
động tích cực của người học. Trong quy trình đó phải đảm bảo HS giữ vị trí chủ
lãnh đạo. Trong bài viết có tựa là “Tổ chức của Đảng và văn học có tính Đảng”,
V.I.Lênin đã chỉ rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với văn học cách mạng: “Giai
cấp vô sản XHCN phải đề ra nguyên tắc là văn học phải có tính Đảng… sự
nghiệp văn học phải trở thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp của giai cấp
vô sản, phải trở thành một cái bánh xe nhỏ và một cái đinh ốc nhỏ trong bộ máy
xã hội dân chủ vĩ đại, thống nhất do đội tiên phong hoàn toàn giác ngộ của toàn
bộ giai cấp công nhân mở máy” [45, tr 72-73].
Văn học giai đoạn 1945 – 1975 đã đạt
nhiều thành tựu, nhất là văn xuôi.
Các thể loại văn xuôi có những biến đổi
hết sức quan trọng cả về nội dung
thể tài và hình thức thể loại theo định
hướng của một nền văn học hướng về
hiện thực cách mạng và quần chúng
nhân dân. Từ đề tài về sinh hoạt thế sự,
đời tư, các nhà văn chuyển sang đề
tài lịch sử dân tộc, hướng vào khai thác
hiện thực đời sống cách mạng với
cảm hứng sử thi. Văn học giai đoạn này nảy
sinh và phát triển trên nền tảng
của ý thức cộng đồng, với giọng điệu trữ tình
rưng rưng, hào sảng. Giọng điệu ấy không chỉ là giọng điệu chủ đạo của thơ,
mà còn là giọng điệu chủ đạo của văn xuôi, khiến cho các tác phẩm văn xuôi
b. Giờ văn phải mang nét đặc thù bộ môn
Dạy học tác phẩm văn chương là một loại hình dạy học đặc thù, đòi hỏi sự
nỗ lực sáng tạo từ hai phía GV và HS, lấy giá trị của tác phẩm làm phương tiện
để hướng tới mục đích giáo dục. Con đường và cách thức dạy học tác phẩm văn
chương phản ánh những phương diện quan hệ hữu cơ của quá trình giáo dục. Bắt
đầu từ việc lĩnh hội và thấm nhuần ý nghĩa, mục đích, định hướng đến xác định
nhiệm vụ cụ thể các yêu cầu dạy học trên cơ sở kiến thức cơ bản về tác giả, tác
phẩm, cũng như kiến thức tâm lí, giáo dục học và khả năng sư phạm – GV từng
bước hình thành kế hoạch tổ chức, hướng dẫn hệ thống các hoạt động chiếm lĩnh
tri thức cho HS. Nếu chỉ thiên về những yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục, công việc
của GV dễ trở thành những giờ thuyết trình văn học theo công thức, và hiệu quả
của nó thường là sự tiếp thu miễn cưỡng thụ động một kiến thức nào đó mang
đậm dấu ấn chủ quan của GV.
c. Giờ văn phải hướng vào học sinh, phát huy năng lực tự học, chủ động
tích cực của học sinh
Hướng vào hoạt động nhận thức của HS là một yêu cầu quan trọng trong
đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay.
Kết cấu giờ dạy học, thiết kế giáo án bài học cũng đổi mới theo hướng tổ chức
các hoạt động học tập của HS với những tình huống học tập và hệ thống thao tác,
phương pháp, biện pháp linh hoạt, sáng tạo. GV tổ chức giờ học Văn như một
cuộc đối thoại giữa nhà văn (tác phẩm) với HS qua một hệ thống câu hỏi có tính
chất gợi mở, nêu vấn đề nhằm giúp HS tự khám phá, tự bộc lộ, tự nhận thức.Tích
cực tham gia quá trình chiếm lĩnh và hình thành kiến thức, HS có khả năng tự
kiểm soát hoạt động học tập, được tôn trọng và khích lệ nhu cầu tự giải phóng
tiềm năng sáng tạo của bản thân để phát triển toàn diện.
23
1.1.2.2. Tổ chức giờ học theo phương pháp chủ động tích cực
Phương pháp dạy học chủ động, tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động,
chủ động trái với không hoạt động, thụ động. Phương pháp dạy học tích cực
hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, nghĩa là hướng
Việc chia sẻ và tán thành những đánh giá của học sinh phần nào đồng nghĩa với
việc giáo viên phải chấp nhận rằng ý kiến của học sinh không phải khi nào cũng
đúng.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Chương trình phần văn học cách mạng 1945-1975 ở trường THPT
1.2.1.1. Bối cảnh lịch sử
Giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi quan
trọng, nhiều sự kiện liên tiếp nổ ra đã tác động lớn đối với vận mệnh dân tộc. Có
thể thấy những biến động đó trong những chặng đường lịch sử sau:
* Từ năm 1954 đến năm 1964
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (ngày 7-5-1954), Pháp phải ký hiệp định
Giơnevơ, buộc chúng rút quân về nước lập lại hoà bình trên cơ sở thừa nhận chủ
quyền dân tộc của ba nước Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
chống Pháp. Tuy nhiên do tình hình chính trị thế giới phức tạp, Việt Nam tạm
thời bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc đã hoàn
toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mĩ và
các lực lượng tay sai thống trị. Vì thế sự nghiệp cách mạng vẫn chưa hoàn
25
thành. Hai yêu cầu đặt ra là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước.
Đối với miền Bắc, từ năm 1954 đến 1960, cách mạng đặt ra nhiệm vụ hết
sức cấp bách là khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình
đó, tháng 9 – 1954, Bộ chính trị đã ra nghị quyết và vạch rõ nhiệm vụ trước mắt
là ổn định trật tự xã hội, ổn định vật giá, ổn định thị trường. Trọng tâm ở cả
thành phố và nông thôn là phục hồi và nâng cao sản xuất, phục hồi kinh tế quốc
dân mà then chốt là phát triển sản xuất nông nghiệp. Với quyết tâm cao, cuối
năm 1957 kế hoạch khôi phục kinh tế đã căn bản hoàn thành và nhiều chỉ tiêu đã
hoàn thành vượt mức. Sau ba năm khôi phục kinh tế với nhiều thành quả quan
trọng, miền Bắc sôi nổi bước vào thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển
kinh tế. Không khí này diễn ra ở tất cả các vùng từ đồng bằng tới miền núi, ở tất