phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch hà tiên kiên giang của du khách nội địa - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH


NGUYỄN THỊ KIM ANH
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN NHU CẦU DU LỊCH HÀ TIÊN
- KIÊN GIANG CỦA DU KHÁCH NỘI ĐỊA

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Kinh tế Ngoại thương
Mã số ngành: 52340120
8-2013

Để hoàn thành được bài luận văn tốt nghiệp này, em đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ từ phía Thầy, Cô và anh, chị ở Ủy ban nhân dân thị xã Hà Tiên
cũng như phòng văn hóa thông tin thị xã Hà Tiên.
Đầu tiên, em muốn gửi lời cảm ơn đến Thầy Cô khoa Kinh tế - Quản trị
kinh doanh đã dạy dỗ em trong những năm học đại học tại trường Đại học Cần
Thơ. Quan trọng hơn em chân thành cảm ơn Cô Huỳnh Thị Kim Uyên đã tận
tình hướng dẫn em hoàn thành bài nghiên cứu này.
Tiếp theo, em xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị ở Ủy ban nhân dân thị
xã Hà Tiên cũng như phòng văn hóa thông tin thị xã Hà Tiên đã cung cấp cho
em những thông tin cần thiết trong bài nghiên cứu.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn những du khách đã giúp em làm bài
khảo sát để có thể hoàn thiện được bài nghiên cứu. Cần Thơ, ngày 07 tháng 12 năm 2013
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Kim Anh ii

iii

MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu 1
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn 2
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 5
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.4.1 Không gian nghiên cứu 5
1.4.2 Thời gian nghiên cứu 5
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 5
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
2.1.1 Các khái niệm về du lịch 8
2.1.2 Nhu cầu du lịch 14
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 15
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 17
2.2.3 Sơ đồ nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH HÀ TIÊN 24
3.1 KHÁI QUÁT VỀ HÀ TIÊN 24

5.2.3 Về nguồn nhân lực 55
5.2.4 Về xúc tiến quảng bá hình ảnh 55
5.2.5 Về cơ sở hạ tầng 55
5.2.6 Về cơ sở lưu trú 56
5.2.7 Về các hoạt động vui chơi giải trí, mua sắm và ẩm thực 56
5.2.8 Về tour du lịch 56
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
6.1 KẾT LUẬN 57
6.2 KIẾN NGHỊ 57
6.2.1 Đối với Ủy ban Nhân dân thị xã Hà Tiên 57
6.2.2 Đối với Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Kiên Giang 58
6.2.3 Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
du lịch 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 62

v

DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Bảng diễn giải các thông số trong mô hình hồi quy nhu cầu du lịch 17
Bảng 3.1 Danh sách các di tích đã được Nhà nước công nhận ở Hà Tiên 26
Bảng 3.2 Lượng du khách đến Hà Tiên năm 2010 – 6 tháng đầu năm 2013 32
Bảng 4.1 Mục đích chính du lịch đến Hà Tiên của du khách nội địa 36
Bảng 4.2 Thời gian du lịch chủ yếu của du khách nội địa dến Hà Tiên 37
Bảng 4.3 Những kênh thông tin của du khách nội địa biết đến Hà Tiên 38
Bảng 4.4 Khoảng thời gian kỳ nghỉ của du khách nội địa đến Hà Tiên 38
Bảng 4.5 Thời gian lưu trú của du khách nội địa đến Hà Tiên 39
Bảng 4.6 Dự định quay lại Hà Tiên du lịch của du khách nội địa 39
Bảng 4.7 Thời gian lưu trú tại Hà Tiên của nhóm du khách có nơi cư trú khác


1

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Thương mại dịch vụ đã và đang phát triển trong những thập kỷ gần đây và
nhiều quốc gia trên thế giới cả những nước phát triển và đang phát triển xem nó
như là một lĩnh vực quan trọng hàng đầu trong việc đóng góp vào GDP của quốc
gia. Bởi vì ngoài việc góp phần vào tăng trưởng kinh tế mà sự tăng trưởng lĩnh
vực dịch vụ còn làm cho lĩnh vực hàng hóa phát triển, giải quyết các vấn đề liên
quan đến việc làm của lao động trong nước ở lĩnh vực này. Trong những năm
vừa qua, ngành du lịch Việt Nam có những thành tựu vượt bậc du lịch đã có
những đóng góp lớn trong GDP với 9,4% năm 2012 (Rochelle Turner, 2013),
lượng khách du lịch ở Việt Nam tăng mạnh và doanh thu đạt được rất lớn. Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại
giao từ những năm 80 của thế kỷ 20 đến nay. Từ đó Việt Nam đã có thể khẳng
định được vị thế của mình trên trường quốc tế. Các sự kiện quốc tế lớn như SEA
Games 22, Hội nghị APEC, hoa hậu Hoàn vũ mà Việt Nam đã đăng cai và tổ
chức thành công đã minh chứng rằng Việt Nam đủ khả năng đảm đương những
trọng trách lớn. Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO
đã mở rộng cánh cửa ra với nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam phát triển,
đời sống người dân ngày được nâng cao. Điều này cũng cho thấy rằng nhu cầu
du lịch ngày càng trở nên phổ biến hơn trong cộng đồng dân cư.
Việt Nam được biết đến với tài nguyên thiên nhiên phong phú, văn hóa
lịch sử lâu đời, khí hậu và địa hình đa dạng với tám vùng sinh thái khác nhau.
Đặc biệt với đường bờ biển dài hơn 3 ngàn km, Việt Nam đã tạo nên sự thu hút
đặc biệt đối với du khách bằng những bãi biển hấp dẫn. Một trong số các bãi

việc bảo vệ cảnh quan du lịch; các cơ sở phục vụ cho du lịch như lưu trú và ăn
uống vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng dịch vụ cũng như số lượng.
Hơn nữa, nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao và đa dạng và đó là một nhân
tố quan trọng để góp phần phát triển du lịch Hà Tiên. Để có thể nắm bắt được
nhu cầu cũng như sự cảm nhận của khách du lịch đối với hoạt động du lịch nơi
đây, tác giả đã quyết định chọn đề tài tốt nghiệp là: “Phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến nhu cầu du lịch Hà Tiên – Kiên Giang của du khách nội địa”. Từ
đó có thể đưa ra những giải pháp làm cho hoạt động du lịch ở Hà Tiên phát triển
thông qua việc phân tích nhu cầu và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch
của du khách nội địa ở Hà Tiên.
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn
1.1.2.1 Căn cứ khoa học
Mô hình khái quát về nhu cầu của Abraham Maslow được đưa ra vào năm
1943 gồm có 5 bậc:
- Nhu cầu sinh lý: nhu cầu cơ bản của con người về thức ăn, nước uống,
nghỉ ngơi.
- Nhu cầu về an toàn, an ninh cho tính mạng.
- Nhu cầu hòa nhập và tình yêu.
- Nhu cầu tự tôn trọng và được tôn trọng.
- Nhu cầu tự hoàn thiện, được thể hiện bản thân.

3 Sau này do nhu cầu của con người ngày càng trở nên phong phú và đa
dạng hơn nên tháp nhu cầu đã được bổ sung thêm 2 thang bậc đó là:
- Nhu cầu về thẩm mỹ, cảm nhận cái đẹp.
- Nhu cầu hiểu biết.
cảm nhận cái đẹp
Nhu cầu tôn trọng
Nhu cầu về hòa nhập và tình yêu
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu sinh lý

4

thể tồn tại. Nếu du khách thỏa mãn các nhu cầu ở nhóm 3 thì làm cho du khách
thuận tiện hơn khi du lịch.
1.1.2.2 Căn cứ thực tiễn
Mỗi người đều có nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí nên mỗi
người đều có nhu cầu du lịch. Nhu cầu du lịch ngày càng tăng và trở nên quan
trọng trong tình hình kinh tế - xã hội phát triển, khi hàng ngày mỗi người phải
đối mặt với những áp lực của công việc, của gia đình và xã hội.
Du lịch ở Hà Tiên đã có sự phát triển trong những năm gần đây. Tuy nhiên,
những con số ấy cũng chưa thể cho thấy rằng nó sẽ còn tăng tiếp tục nếu không
nắm rõ tình hình du lịch, đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu, các từ đó khắc
phục được những yếu kém, sai sót của nó. Vì thế việc nghiên cứu nhu cầu của
du khách là vô cũng cần thiết để có thể biết được những nhân tố nào ảnh hưởng
đến nhu cầu của du khách khi đến với Hà Tiên. Từ việc đó đề ra các giải pháp
nhằm đáp ứng được tối đa nhu cầu đó tương ứng với tiềm lực du lịch của nơi
đây.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch Hà Tiên – Kiên Giang
của du khách nội địa, từ đó đưa ra những giải pháp đáp ứng cũng như nâng cao
nhu cầu của du khách nội địa, làm cho hoạt động kinh doanh du lịch ở Hà Tiên
ngày càng phát triển xứng với tiềm năng vốn có của nó.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài là những số liệu thu thập trong thời
gian từ năm 2010 đến tháng 6/2013. Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm
2013.
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là du khách nội địa đang du lịch tại Hà
Tiên.
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Trong bài nghiên cứu “A Review of Micro Analyses of Tourist
Expenditure” (2010), Ying Wang và Michael C.G. Davidson. Theo như tác giả
thì việc phân tích nhu cầu du lịch có hai mức độ, đó là mức độ vĩ mô và mức độ
vi mô. Nếu việc nghiên cứu mà tập trung vào các đối tượng là cá nhân thì thuộc
về nghiên cứu ở mức độ vi mô. Ưu điểm của nghiên cứu đối tượng này là các
đặc điểm cá nhân của từng du khách được phân tích sâu hơn như đặc điểm tâm
lý của du khách vì nó ảnh hưởng đến sự lựa chọn của du khách trong quá trình
ra quyết định của họ. Ở mức độ vĩ mô, nhu cầu du lịch được coi như là tổng nhu
cầu và sử dụng các loại dữ liệu để phân tích: dữ liệu theo chuỗi thời gian (năm,
mùa), không gian (các quốc gia khác nhau) và dữ liệu bảng. Ở dữ liệu bảng có
thể giải quyết được vấn đề mẫu quan sát nhỏ. Vì nó làm tăng mẫu quan sát, từ

6

đó tăng độ tin cậy trong việc phân tích dữ liệu. Bằng cách xem xét 27 nghiên
cứu mô hình về chi tiêu du lịch ở mức vi mô tác giả đưa ra đặc điểm của mô
hình, cũng như các biến phụ thuộc và độc lập. Tác giả cho rằng chi tiêu du lịch
là sự đo lường quan trọng cho nhu cầu du lịch của du khách quốc tế. Về mô hình
nghiên cứu, mô hình hồi qui đa biến được sử dụng khá nhiều trong nghiên cứu
chi tiêu du lịch, có 17 nghiên cứu sử dụng mô hình này trong tổng số 27 nghiên
cứu được xem xét. Sau khi xem xét các mô hình nhu cầu du lịch thì tác giả đã
đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch thường được sử dụng trong
các mô hình nhu cầu du lịch là:

trú tại điểm đến). Mô hình nhu cầu du lịch trong bài nghiên cứu này sử dụng hồi
qui tuyến tính logarit với biến phụ thuộc là sự chi tiêu của du khách, biến độc
lập: thu nhập, giá cả, khả năng về nơi lưu trú (đo lường bằng số giường phục vụ
du lịch), tỉ lệ đầu tư công cộng (cơ sở hạ tầng), biến giả tác động hội nhập (0:
lúc chưa gia nhập EEC, 1: gia nhập EEC- từ 1986). Kết quả nghiên cứu cho thấy
tỉ lệ đầu tư công cộng và tác động hội nhập không có ý nghĩa, thu nhập, giá cả,
khả năng lưu trú có ý nghĩa và tác động tích cực đến nhu cầu du lịch của du
khách ở Bồ Đào Nha. Trong đó, thu nhập (thu nhập trên đầu người) là nhân tố
quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định di du lịch của du khách. Sự tăng mức
giá ở điểm đến làm giảm khả năng mua của khách hàng tiềm năng và vì thế làm
giảm nhu cầu của họ về du lịch. Mặt khác, sự tăng giá ở điểm đến cũng không
khuyến khích du khách đến nơi này du lịch mà sẽ khiến họ lựa chọn một điểm
đến khác có giá cả rẻ hơn. Nhìn chung, du khách chống lại sự rủi ro, thích đi
nghỉ ở những nơi đã quen thuộc với họ hoặc họ đã nghe một cái gì đó tích cực
về những nơi đó.
Bài nghiên cứu “Review of international tourism demand models”
(1997), Christine Lim. Trong việc xem xét 100 mô hình đánh giá nhu cầu du
lịch thì tác giả cho thấy có không ít các mô hình sử dụng dữ liệu không gian (9
mô hình sử dụng dữ liệu không gian, 9 mô hình sử dụng dữ liệu bảng, còn các
mô hình còn lại sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian). chi tiêu của du khách là một
trong những biến phụ thuộc được đưa vào mô hình nhiều nhất. Những biến giải
thích thường được sử dụng trong mô hình nhu cầu du lịch theo như trong bài
nghiên cứu là: thu nhập, giá cả, chi phí vận chuyển.
Bài nghiên cứu “Factors Affecting Travel Expenditure of Visitors to
Macau” (2011), Woody G. Kim, Yumi Park, Gabriel Gazzoli, Taegoo Terry
Kim, Robert S. Brymer. Bài nghiên cứu này với mục đích kiểm tra các nhân tố
có ảnh hưởng đến chi tiêu của du khách đến Ma Cao. Trong đó thì chi tiêu của
du khách được tính bao gồm chi tiêu cho: đánh bạc; lưu trú; ăn uống; vui chơi
giải trí; ngắm cảnh, tham quan; phương tiện vận chuyển địa phương. Số liệu thu
được bằng cách phỏng vấn trực tiếp 807 du khách tại những địa điểm như: sân

Theo luật Du lịch Việt Nam (điều 4, 2005): “Du lịch là các hoạt động có
liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định”.
2.1.1.1 Khách du lịch
* Định nghĩa của các tổ chức quốc tế về khách du lịch
Năm 1963 Hội nghị do Liên hiệp quốc tổ chức tại Rome (Ý) để thảo luận
về Du lịch đã đưa ra khái niệm về khách viếng thăm quốc tế là người đến một
nước khác với nơi cư trú thường xuyên của họ do nhiều mục đích, ngoại trừ lao
động và kiếm sống. Theo đó thì khách viếng thăm quốc tế được chia ra làm 2
loại, đó là khách du lịch quốc tế và khách tham quan quốc tế (Nguyễn Văn Đính
và cộng sự, 2006).

9

Ở hội nghị này đã đưa ra khái niệm về khách du lịch quốc tế như sau:
“Khách du lịch là công dân của một nước sang thăm và lưu trú tại nước khác
trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ mà ở đó họ không có nơi ở thường
xuyên, nhưng cũng không công nhận những người nước ngoài ở quá một năm
hoặc những người đi ra nước ngoài thực hiện hợp đồng, hoặc tìm nơi lưu trú của
mình cũng như những người ở vùng biên giới, sống nước này sang làm việc
nước khác”. Như vậy, khách du lịch quốc tế là những người rời khỏi đất nước,
nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian trên 24 giờ đến một
năm, với những động cơ:
- Thời gian rỗi (du lịch nhằm giải trí, học tập, chữa bệnh, du lịch thể thao
hoặc tôn giáo).
- Du lịch có liên quan đến việc làm ăn, ký kết; thăm gia đình, họ hàng, bạn
bè; tham gia hội nghị,…
Khách tham quan quốc tế là người lưu lại tạm thời ngoài nơi cư trú thường
xuyên trong thời gian dưới 24 giờ.

Phân loại khách du lịch theo Luật du lịch Việt Nam (điều 34, chương 5,
2005) thì khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
- “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
- “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
Trong bài này sử dụng thuật ngữ du khách được định nghĩa bao gồm cả
khách tham quan (khách tham quan trong ngày, không ở lại qua đêm tại điểm
đến du lịch) và khách du lịch (có ở lại qua đêm tại điểm đến). Du khách nội địa
là những du khách là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, trong bài nghiên cứu này
là trong phạm vi ở Hà Tiên – Kiên Giang. Du khách nước ngoài là người nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài du lịch đến Việt Nam, cụ thể là
đến Hà Tiên.
2.1.1.2 Các loại hình du lịch
Có nhiều cách để phân chia loại hình du lịch thành nhiều loại khác nhau.
Trong đó có những loại hình du lịch được phân loại dựa vào các căn cứ (Nguyễn
Văn Đính và cộng sự, 2006):
 Căn cứ theo môi trường tài nguyên
- Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên. Hình thức du
lịch này đảm bảo gìn giữ môi trường tự nhiên và cải thiện phúc lợi cho người
dân địa phương. Loại hình du lịch này phát triển dưới dạng các khu bảo tồn và
vườn quốc gia.
- Du lịch văn hóa: là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc cùng
với sự tham gia của cộng đồng địa phương không những có thể có doanh thu du
lịch mà còn góp phần vào bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.
 Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ
- Du lịch quốc tế: là loại hình du lịch có điểm xuất phát và điểm đến thuộc
lãnh thổ của các quốc gia khác nhau.

nước.
 Căn cứ vào đối tượng khách du lịch:
- Du lịch thanh, thiếu niên.
- Du lịch người cao tuổi.
- Du lịch phụ nữ, du lịch gia đình.
 Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi:
- Du lịch theo đoàn: các thành viên tham gia sẽ đi theo đoàn và sẽ có những
lịch trình trước về thời gian, địa điểm tới thăm, nơi ăn uống và nơi lưu trú.
- Du lịch cá nhân: du khách tự chọn cho mình một chương trình tham quan
nghỉ ngơi trong những chương trình du lịch do nhà tổ chức kinh doanh ấn định
hoăc tự lên kế hoạch cho chuyến hành trình, nơi lưu trú, nơi ăn uống.

12

 Căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng:
- Du lịch bằng xe đạp.
- Du lịch bằng xe máy.
- Du lịch bằng ô tô.
- Du lịch bằng tàu thủy.
- Du lịch bằng tàu hỏa.
- Du lịch bằng máy bay.
 Căn cứ vào vị trí vào vị trí của điểm đến du lịch:
- Du lịch nghỉ núi.
- Du lịch nghỉ biển, sông, hồ.
- Du lịch thành phố.
- Du lịch đồng quê.
2.1.1.3 Chương trình du lịch
Chương trình du lịch hay còn gọi là tour du lịch là lịch trình, các dịch vụ
và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi
xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi (Luật du lịch, 2005).

d) Khách sạn bên đường (motel) là khách sạn được xây dựng gần đường
giao thông, gắn với việc cung cấp nhiên liệu, bảo dưỡng, sửa chữa phương tiện
vận chuyển và cung cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch.
- Làng du lịch (tourist village) là cơ sở lưu trú du lịch gồm tập hợp các biệt
thự hoặc một số loại cơ sở lưu trú khác như căn hộ, băng-ga-lâu (bungalow) và
bãi cắm trại, được xây dựng ở nơi có tài nguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên
đẹp, có hệ thống dịch vụ gồm các nhà hàng, quầy bar, cửa hàng mua sắm, khu
vui chơi giải trí, thể thao và các tiện ích khác phục vụ khách du lịch.
- Biệt thự du lịch (tourist villa) là biệt thự có trang thiết bị, tiện nghi cho
khách du lịch thuê, có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú. Có từ ba biệt thự
du lịch trở lên được gọi là cụm biệt thự du lịch.
- Căn hộ du lịch (tourist apartment) là căn hộ có trang thiết bị, tiện nghi
cho khách du lịch thuê, có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú. Có từ mười
căn hộ du lịch trở lên được gọi là khu căn hộ du lịch.
- Bãi cắm trại du lịch (tourist camping) là khu vực đất được quy hoạch ở
nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có kết cấu hạ tầng, có cơ sở vật chất kỹ thuật
du lịch và dịch vụ cần thiết phục vụ khách cắm trại.
- Nhà nghỉ du lịch (tourist guest house) là cơ sở lưu trú du lịch, có trang
thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch như khách sạn nhưng không
đạt tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn.
- Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay) là nơi sinh sống của
người sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú du lịch,
có trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác
theo khả năng đáp ứng của chủ nhà.
- Các cơ sở lưu trú du lịch khác gồm tàu thủy du lịch, tàu hỏa du lịch, ca-
ra-van (caravan), lều du lịch. 14


Không có sự đo lường nào là hoàn toàn thỏa đáng ở tất cả các khía cạnh mà tiêu
biểu cho nhu cầu về du lịch ở một vị trí cụ thể”. Trong nghiên cứu về nhu cầu
du lịch ở Bồ Đào Nha, các nhà nghiên cứu này đã dùng chi tiêu du lịch để tiếp
cận nhu cầu du lịch của du khách. Ở một nghiên cứu về nhu cầu du lịch của
Song và cộng sự (2010) cũng cho rằng chi tiêu du lịch thường được sử dụng để

15

đo lường nhu cầu du lịch trong nghiên cứu thực tiễn. Vì thế, việc sử dụng chi
tiêu du lịch của du khách để đo lường nhu cầu du lịch là có thể. Mức độ chi tiêu
của du khách cung cấp những thông tin giúp các nhà quản lý đưa ra các hoạch
định tiếp thị bởi vì theo Kim và cộng tác (2011) thì chi tiêu là chìa khóa quan
trọng trong việc thấu hiểu được hành vi của du khách.
Theo Omerzel (2011, p.4) “điểm du lịch là sự pha trộn của sự hấp dẫn, các
hoạt động dịch vụ và hệ thống giao thông”. Vì thế để phân tích nhu cầu du lịch
của du khách nên dựa vào sự đánh giá của du khách về các hoạt động dịch vụ
du lịch, hệ thống giao thông và các nhân tố khác có ảnh hưởng trực tiếp với nhu
cầu du lịch cũng như chi tiêu của du khách.
* Chi tiêu du lịch
Theo định nghĩa của tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) thì chi tiêu du
lịch là tổng số tiền đã trả cho việc mua hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, cũng như
các vật có giá trị, để sử dụng riêng hoặc cho đi, trong các chuyến đi du lịch (tổ
chức Du lịch Thế giới, 2007).
Ở nghiên cứu của Kim cùng các cộng sự (2011), tác giả đã cho thấy các
khoản chi tiêu cho các hạng mục: ăn uống, lưu trú, vui chơi giải trí, đánh bạc,
mua sắm, tham quan và giao thông vận tải địa phương chiếm 95% tổng chi tiêu
của du khách khi đến Ma Cao.
Trong bài nghiên cứu này, chi tiêu du lịch sẽ được tính bằng tổng chi tiêu
của các khoản:
1. Chi tiêu vận chuyển (tại điểm đến du lịch)

p: tỉ lệ xuất hiện của các phần tử trong đơn vị lấy mẫu (0≤ p ≤1)
MOE: tỉ lệ sai số
Z: biến chuẩn tắc trong phân phối chuẩn tắc
(1) Độ biến động của dữ liệu V=p(1-p), trong trường hợp bất lợi nhất thì
độ biến động của dữ liệu ở mức tối đa thì:
V=p(1-p)→max →V’= 1 – 2p = 0→ p = 0,5
(2) Chọn độ tin cậy ở mức 90 % nên sai lầm tối đa là 10 %. Từ bảng phân
phối chuẩn với độ tin cậy 90% thì Z
α/2
= 1,96
(3) Sai số cho phép với cỡ mẫu nhỏ là 5%
Từ (1), (2), (3) ta tính có: n = (1,96)
2
x(0,25)/(0,1)
2
= 96
Để bài nghiên cứu có ý nghĩa thì cỡ mẫu phải lớn hơn 96. Vì vậy, thu thập
số liệu sơ cấp bằng việc phỏng vấn 100 du khách nội địa đang du lịch tại Hà
Tiên – Kiên Giang.
- Xác định tổng thể nghiên cứu: Vì số lượng du khách nội địa chiếm phần
lớn trong tổng số du khách (87,78% năm 2011, 99,04% trong 6 tháng đầu năm
2013 theo phòng Văn hóa thông tin và du lịch Hà Tiên, 2013) và do thời gian
có hạn nên đề tài sẽ chọn tổng thể là du khách nội địa.
- Phương pháp chọn mẫu: mẫu được chọn theo phương thức ngẫu nhiên
phân tầng theo nơi đến, sau đó sẽ tiến hành phỏng vấn du khách theo trong mỗi
nhóm theo phương thức chọn mẫu phi xác suất theo kiểu thuận tiện.
- Thiết kế bảng câu hỏi: gồm 3 phần

17


+ β
7
x
7
+ β
8
x
8

Trong đó:
β
0
: tham số tự do hay tham số chặn
β
i
: tham số của biến (i = 1,2,3,4,5,6,7,8)
Bảng 2.1 Bảng diễn giải các thông số trong mô hình hồi quy nhu cầu du lịch
Biến
Ý nghĩa
Kỳ vọng về
dấu đối với β
i

Y
Tổng chi tiêu du lịch của du khách
(đồng/người/ngày)
X
x
1
Thu nhập (đồng/người/tháng)

Giá cả tại điểm đến
(1 = hợp lý, 0 = không hợp lý)
+
2.2.2.2. Các giả thuyết cần kiểm định
Giả thuyết 1: Nơi thường trú của du khách nội địa khác nhau thì có sự khác
nhau về thời gian lưu trú tại Hà Tiên.
Giả thuyết 2: Thời gian ở lại qua đêm tại Hà Tiên giữa du khách nội địa
đến có độ tuổi khác nhau thì khác nhau.

Trích đoạn Phân tích thực trạng du lịch Hà Tiên của du khách nội địa PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU DU CÁC GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status