TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ CẨM TÚ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH TỒN LƢU
KHÁNG SINH, HÓA CHẤT VÀ VI SINH CỦA SẢN PHẨM
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN 2014
VÀ NHIỄM VI SINH CỦA SẢN PHẨM NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VIỆT NAM
XUẤT KHẨU
Nguyễn Thị Cẩm Tú và Trần Minh Phú
Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Cần Thơ
ABSTRACT
The objective of this thesis is to investigate the antibiotic, chemical and microbiological
contamination in Vietnamese aquaculture products exported to Europe, US, Japan by
collecting data from the electronic information portal of the European Communities
(RASFF), the USA (U.S.FDA - U.S. Food and Drug Administration), Japan (Ministry of
Healthy, Labour and Welfare) and chemical residue control program in Vietnam. Results
showed that there was a reduction in antibiotic, chemical and microbiology contamination
from the export product alerts by importing countries. An increase on the contamination of
tetracycline and oxytetracyline in shrimp products could be due to the treatment use in
shrimp following Early Mortality Syndrom in shrimp aquaculture. In 2014, eight cases
contamination of oxytetracycline was found in shrimp imported to Japan, seven cases of
oxytetracycline residue in shrimp warned by RASFF (EU) and one case contaminated
enrofloxacin and two cases contaminated chloramphenicol in shrimp found by U.S. FDA.
Morover, residue monitoring control program done by NAFIQUAD showed that four cases
of oxytetracycline and doxycycline contaminated in shrimp, but below the maximum
residue limit. The findings implied that it is urgent need to enhance the training on
chemical use for aquaculture farmer in the prudent way which will prevent the residue of
antimicrobial and chemical in seafood products. Also, strengthening the control of residue
found in fish and shrimp ponds which detected during residue monitoring control program.
Keywords: antimicrobial, aquaculture, chemical, microbial, export, Vietnam.
Title: Investigation of antimicrobial, chemical and microbial contamination in Vietnamese
aquaculture products exported to Europe, US, Japan and domestic market.
TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích thống kê tình hình nhiễm tồn lưu kháng sinh, hóa
chất và vi sinh vật trên sản phẩm nuôi trồng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào các thị
xảy ra. Nhiều loại thuốc và hóa chất được sử dụng nhằm khử trùng nước ao nuôi, phòng và
trị bệnh. Hiện nay có tổng cộng 28 loại kháng sinh được phép sử dụng trong nuôi trồng
thủy sản Việt Nam (BNN&PTNT, 2014). Người nuôi sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh
trong nuôi trồng thủy sản và có 5% hộ nuôi sử dụng để phòng bệnh cho thủy sản (Rico et
al , 2013). Thuốc khử trùng được sử dụng nhiều nhất trong nuôi cá tra chiếm 78% trong
khi có 59% nông dân nuôi tôm của Việt Nam sử dụng thuốc khử trùng bao gồm các loại
hóa chất phổ biến như iodine, benzalkonium chloride, calcium hypochlorite và thuốc tím.
(Rico et al , 2013). Để điều trị ký sinh trùng, nấm nhiễm trùng có 13 hợp chất được sử
dụng. Đối với các chế phẩm sinh học, có 91% trang trại tôm và 38% người nuôi cá tra sử
dụng nhằm cung cấp chất dinh dưỡng và enzyme tiêu hóa (Bacillus spp. và nấm men), cải
thiện chất lượng nước (Nitrosomonas spp., Nitrobacter spp.) (Rico et al , 2013). Trong
những năm gần đây, dịch bệnh EMS (Early Mortality Syndrome) xuất hiện ở tôm nên đa
số người nuôi sử dụng các lọai hóa chất và kháng sinh để phòng và điều trị là điều không
thể tránh khỏi. Điều này dẫn đến nguy cơ tồn lưu kháng sinh hóa chất trong sản phẩm nuôi
trồng thủy sản. Năm 2012, Bộ nông Nghiệp ban hành quyết định số 1471/ QĐ- BNN-
QLCL về việc công bố danh mục các chỉ tiêu hóa học, kháng sinh cần kiểm nghiệm đối với
các lô hàng thủy sản xuất khẩu dựa vào các qui định các nhà nhập khẩu. Đối với các thị
trường nhập khẩu, các loại hóa chất và kháng sinh như malachite green, leucomalachite
green, enrofloxacin, chloramphenicol, các chất chuyển hóa nitrofurans không được phép
tồn lưu trên các sản phẩm thủy sản (Minnistry of Healthy, Labour and Welfare, 2011;
3
U.S.FDA, 2012). Ngoài ra, các loại hóa chất kháng sinh khác như oxytetracycline,
benzalkonium chloride ngày càng được kiểm tra với tần xuất nhiều hơn (Minnistry of
Healthy, Labour and Welfare, 2011; RASFF, 2012). Nhằm thực hiện quản lý sử dụng hóa
chất và tồn lưu hóa chất kháng sinh trong quá trình nuôi trồng thủy sản, Cục Quản Lý Chất
Lượng Thúy Y Thủy Sản (NAFIQUAD) thực hiện chương trình kiểm soát dư lượng hàng
tháng đối với các cơ sở nuôi tôm, cá (NAFIQUAD, 2014).
Sự tồn lưu các kháng sinh, hóa chất và vi sinh vật không những ảnh hưởng đến sức khỏe
người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề nuôi và chế biến thủy sản,
4
Các chỉ tiêu hóa chất, kháng sinh tồn lƣu trên sản phẩm bao gồm
Thống kê theo phụ lục 1, phụ lục 3 trong Thông tư số 15/2009/TT-BNN và Thông tư số
20/2010/TT-BNNPTNT bổ sung, sửa đổi Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành Danh mục thuốc, hoá chất,
kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng, cụ thể (bổ sung hoạt chất trifluralin vào Danh
mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản). Thông tư số
03/2012/TT-BNNPTNT sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng
sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng (đưa các chất cypermethrim, celtamethrin và
enrofloxacin ra khỏi Danh mục hoá chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh
doanh thuỷ sản, bổ sung các chất cypermethrin, deltamethrin và enrofloxacin vào Danh
mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản).
Các chỉ tiêu vi sinh vật tồn lƣu trên sản phẩm bao gồm
- Tổng vi sinh vật hiếu khí.
- Tổng số Coliform.
- Echerichia coli.
- Staphylococus aureus.
- Salmonella spp.,.
- Shigella.
- Vibrio spp.,.
- Listeria spp.
- Sulphite reducing anaerobes.
2.3. Phƣơng pháp đánh giá số liệu
Số liệu được xử lý bằng thống kê mô tả, sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010.
3. KẾT QUẢ
3.1 Tình hình nhiễm tồn lƣu kháng sinh, hóa chất và vi sinh của cá tra và tôm Việt
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Số lƣợt cảnh báo
Năm
Oxytetraxycline
cefalexin
Sulfadiazine
sulphite
trifluralin
nitrofuran metabolites
(AOZ, AMOZ, AHD,
SEM)
tetraxycline
chloramphenicol
6
Hình 2. Biểu đồ thống kê tình hình nhiễm tồn lƣu kháng sinh và hóa chất trên sản
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Số lƣợt cảnh
báo
Năm
chlorpyriphos
neomycin
malachite green and
leucomalachite green
doxycycline
quinolone
(enrofloxacin, ciprofloxac
in)
ivermectin
trifluralin
nitrofuran metabolites
7 Hình 4. Kết quả thống kê tình hình nhiễm vi sinh trên sản phẩm cá tra Việt Nam xuất
khẩu vào thị trƣờng Châu Âu từ năm 2000 đến năm 2014. (Nguồn: the Rapid Alert
System for Food and Feed, RASFF, 0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Số lƣợt cảnh báo
Năm
aerobic mesophiles
escherichia coli
nnterobacteriaceae
listeria monocytogenes
listeria spp
coagulase-positive
Staphylococcus
staphylococcal
enterotoxin A
salmonella Newport
salmonella welshimeri
salmonella spp
salmonella nottingham
salmonella Weltevreden
salmonella enteritidis
Năm
Cá tra
Tôm
Tôm
2002
-
-
1
2004
-
-
1
2005
2
-
1
2009
-
1
-
2010
-
-
1
2012
1
-
-
2013
-
chloramphenicol, nitrofuran là khá phổ biến và số lượng nhiễm đáng chú ý. Năm 2007, có
48 lượt nhiễm chloramphenicol, 37 lượt nhiễm nitrofuran bị phát hiện trên tôm. Bên cạnh
đó, những năm gần đây từ năm 2012 đến 2014 thì nhóm oxytetracycline, ethoxyquin và
trifluralin, quinolone lại có số lượt nhiễm tăng dần. Năm 2012 số lượng nhiễm quinolone là
37 lượt và ethoxyquin có 17 trường hợp. Nửa đầu năm 2014 có 8 trường hợp nhiễm
oxytetracyline, 2 trường hợp phát hiện tồn lưu chất chuyển hóa của nitrofuran và 1 trường
hợp tồn lưu enrofloxacin và 1 trường hợp tồn lưu chloramphenicol. Như vậy, sản phẩm
tôm nhập khẩu vào Nhật có số lượng nhiễm oxytetracycline tăng dần thay thế cho tồn lưu
enrofloxacin.
Tình hình nhiễm vi sinh của tôm Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật có xu hướng
giảm từ năm 2006 đến năm 2014 (Bảng 3). Các loại vi sinh vật thường nhiễm vào sản
phẩm tôm như là E. Coli, Total bacteria, Coliform bacteria. Trong đó loại E. Coli có số
lượng nhiễm khá cao trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013, tuy nhiên số lượng
nhiễm giảm dần. Năm 2007 có 11trường hợp đến năm 2013 có 3 trường hợp nhiễm E.coli.
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Hóa chất
Oxytetraxycline
-
-
-
-
-
-
61
37
20
1
Sodium sulfite
-
-
-
-
-
2
-
-
-
Nitrofuran metabolite
(AOZ, SEM,
AMOZ,…)
2
37
16
7
6
5
2
1
2
Ethoxyquin
có 4 trường hợp nhiễm kim loại nặng được phát hiện nhưng đều dưới mức giới hạn cho
phép. Từ năm 2013 đến 2014, không có phát hiện mẫu tôm nhiễm kim loại nặng. Tuy
nhiên, năm 2013 phát hiện 2 trường hợp cua thương phẩm, 4 trường hợp cá rô phi nhiễm
kim loại nặng vượt mức giới hạn cho phép. Năm 2014 có 3 trường hợp tôm bị nhiễm thuốc
trừ sâu gốc chlor nhưng dưới mức cảnh báo. Nhóm dư lượng kháng sinh, hóa chất hạn chế
sử dụng (tetracycline, oxytetracycline, sulfonamides, trimethoprim) nhìn chung từ năm
2009 đến năm 2014 tình hình tôm, cá tra nhiễm nhóm chất này khá phổ biến nhưng số
lượng không cao. Năm 2009 phát hiện có 3 trường hợp nhiễm sulfonamides (1 mẫu tôm, 2
mẫu cá tra), năm 2014 vẫn còn 1 trường hợp nhiễm sulfonamides trên tôm. Tồn lưu
oxytetracyclin và tetracycline trên cá, tôm phổ biến trong giai đoạn năm 2012 đến năm
2013. Năm 2012 có 2 trường hợp nhiễm oxytetraxycline trên cá tra và không có phát hiện
nhiễm trên mẫu tôm phân tích, năm 2013 phát hiện 4 mẫu nhiễm tetracycline (1 mẫu cá và
3 mẫu tôm). Năm 2014 có 4 mẫu tôm thẻ chân trắng nhiễm oxytetracycline, doxycyline
nhưng đều dưới mức giới hạn cho phép. Năm 2014 phát hiện 1 mẫu cá rô phi đỏ nhiễm
trimethoprim vượt mức giới hạn cho phép. Năm
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Vi sinh vật
E. coli
5
Bảng 4. Kết quả thống kê tình hình nhiễm tồn lƣu kháng sinh và hóa chất trên tôm
của Việt Nam theo kết quả kiểm soát của NAFIQUAD từ năm 2009 đến năm 2014.
Năm
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Tên hóa chất, kháng sinh
Kim loại nặng (Hg, Cd, pb)
1
1
1
1
-
-
Chloramphenicol
-
5
-
2
1
-
Tetracycline
-
-
1
2
1
Sulfonamides
1
-
-
-
1
1
Quinolones (enrofloxaxin+cipro)
1
-
1
-
1
-
(Nguồn: National Agro Forestry – Fisheries Quality Assurace Department, NAFIQUAD,
Đối với tồn lưu enrofloxacin và ciprofloxacin, năm 2009 có 3 trường hợp nhiễm (1 mẫu
tôm, 2 mẫu cá tra), số lượng nhiễm có xu hướng tăng. Trong năm 2012 phát hiện 1 mẫu cá
tra, 1 mẫu cá rô phi bị nhiễm nhưng dưới mức giới hạn cho phép và có 2 trường hợp nhễm
enrofloxacin + ciprofloxacin vượt mức giới hạn cho phép (1 mẫu cá lóc thương phẩm, năm
2012 và 1 mẫu cá rô thương phẩm, năm 2013). Năm 2013 vẫn phát hiện 7 trường hợp
nhiễm enrofloxacin (1 mẫu tôm, 6 mẫu cá tra). Đầu năm 2014, một trường hợp nhiễm
quinolone trên mẫu cá tra thương phẩm bị phát hiện (enro 499,8 + cipro 10,02).
Bảng 5. Kết quả thống kê tình hình nhiễm kháng sinh, hóa chất trên cá tra Việt Nam
theo kết quả kiểm soát của NAFIQUAD từ năm 2009 đến năm 2014.
Năm
2009
-
7
1
-
-
Malachite green and leucomalachite
green
-
-
-
-
1
-
Sulfonamides
2
1
-
-
-
-
Quinolones (enrofloxaxin+cipro)
2
4
3
1
6
1
(Nguồn: National Agro Forestry – Fisheries Quality Assurace Department, NAFIQUAD,
12
các loài vi khuẩn gây bệnh thuộc nhóm vibrio không chỉ ở Việt Nam mà còn các nước
Đông Nam Á khác như Thái Lan, Trung Quốc (Rico et al., 2013). Sự tồn lưu kháng sinh
nhóm oxytetracycline (8 trường hợp, năm 2014) và enrofloxacin (20 trường hợp) trên sản
phẩm tôm nhập khẩu vào thị trường Nhật năm 2013 (Bảng 2) và oxytetracycline (7 trường
hợp, năm 2014) cảnh báo bởi thị trường Châu Âu có liên hệ chặt chẻ với việc sử dụng
kháng sinh trong quá trình nuôi. Vì lý do này, cơ quan quản lý Nhật quyết định tăng cường
kiểm soát 100% tôm nhập khẩu đối với chỉ tiêu trifluralin từ ngày 21/10/2010 và từ
9/6/2011, Nhật áp dụng kiểm tra dư lượng chất enrofloxacin đối với 100% các lô tôm nhập
khẩu từ Việt Nam. Trong khi đó, ngày 18/5/2012, Nhật đột ngột quyết định kiểm tra
ethoxyquin đối với 100% số lô tôm nhập khẩu từ Việt Nam đến ngà y 21/1/2014 thì dừ ng
việ c kiể m soá t dư lượ ng e thoxyquin của tôm Việt Nam xu ất khẩu sang nướ c nà y đ ồng
thời, cơ quan quản lý Nhật nâng mức dư lượng ethoxyquin cho phép trong tôm nhập khẩu
13
vào nước này từ 0,01 ppm lên mứ c 0,2 ppm (VASEP, 2014). Đối với tồn lưu
oxytetracycline, Nhật đã bắt đầu kiểm tra chỉ tiêu oxytetracyline với 100% lô tôm nhập
khẩu từ Việt Nam từ tuần đầu tháng 3/2014. Thông tin trên đã được văn phòng VASEP
kiểm tra từ đại diện các nhà nhập khẩu Nhật Bản tại website của cơ quan có thẩm quyền
của Nhật (Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản - Minnistry of Healthy, Labour
and Welfare, 2014), theo đó thì mặt hàng tôm Việt Nam được nhận diện và chỉ định kiểm
soát trong chương trình hàng năm với 2 chất kháng sinh chloramphenicol (từ 21/2/2014)
và oxytetracycline (từ 27/2/2014), (VASEP, 2014). Về phía cơ quan quản lý chất lượng
của Việt Nam, Bộ Nông Nghiệp cũng đã ban hành Quyết Định số 1471/ QĐ- BNN-QLCL
ngày 20 tháng 6 năm 2012 về danh mục các chỉ tiêu hóa học, kháng sinh cần kiểm nghiệm
đối với các lô hàng thủy sản xuất khẩu dựa vào qui định của các nhà nhập khẩu. Nhằm tăng
cường quản lý tồn lưu kháng sinh hóa chất trong sản phẩm thủy sản xuất khẩu, Bộ Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cũng đã ban hành cập nhật các quy định về thuốc và hóa
chất cấm và hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản như Quyết Định 26/2005/QĐ-BTS
và Thông Tư số 15/2009/TT-BNN về việc ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử
dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản, Thông Tư số 20/2010/TT-BNNPTNT và Thông
loại kháng sinh cấm sử dụng như chloramphenicol và nitrofuran, mặc dù có xu hướng giảm
nhưng vẫn còn phát hiện một số trường hợp nhiễm trong quá trình nuôi tôm cá. Theo khảo
sát của Rico et al. (2013) người nuôi cá tôm ở Việt Nam không sử dụng chloramphenicol
và chuyển hóa nitrofuran trong quá trình nuôi. Vì vậy việc tồn lưu các loại kháng sinh cấm
này có thể từ các nguồn khác như thức ăn, chế phẩm dinh dưỡng, hóa chất, thuốc kháng
sinh…
Tồn lưu oxytetracycline, doxycycline và các loại kháng sinh hạn chế sử dụng khác được
phát hiện trên các loài cá tôm nuôi cho thấy người nuôi chưa tuân thủ quy trình sử dụng
thuốc hóa chất, thời gian cách ly sử dụng thuốc trước khi bán sản phẩm chưa tuân theo chỉ
dẫn của nhà sản xuất. Việc sử dụng thuốc hóa chất trong điều trị bênh tôm cá là điều không
thể tránh khỏi tuy nhiên, việc sử dụng thuốc và hóa chất không đúng cách sẽ dẫn đến nguy
cơ tồn lưu kháng sinh trong sản phẩm thủy sản xuất khẩu cũng như tiêu dùng nội địa. Theo
Phu et al. (2013) cá rô phi nuôi bè khi xuất bán cho thị trường nội địa thì không có kiểm
tra tồn lưu kháng sinh trong khi cá xuất khẩu thì 100% sản phẩm được kiểm tra kháng sinh
trước khi thu hoạch và xuất khẩu. Điều này dẫn đến mối nguy người sử dụng sản phẩm nội
địa sẽ sử dụng các sản phẩm tôm cá có tồn lưu kháng sinh và hóa chất.
Chương trình quản lý sử dụng thuốc hóa chất và tồn lưu kháng sinh của NAFIQUAD mặc
dù thực hiện tương đối hiệu quả tuy nhiên số lượng mẫu kiểm soát tương đối ít (khoảng
120 mẫu/tháng cho 15 tỉnh, thành phố phía Nam). Trong trường hợp có phát hiện trường
hợp nhiễm kháng sinh, hóa chất thông báo được gửi cho cơ quan kiểm soát chất lượng thủy
sản ở địa phương để tìm biện pháp khắc phục hiệu quả, đồng thời theo dõi, kiểm soát khu
vực ao nuôi đó, không thu mua chế biến nguyên liệu có nguồn gốc từ cơ sở nuôi bị phát
hiện có dư lượng quá mức cho phép. Trường hợp đã thu mua, sơ chế, chế biến cần cô lập
hàng lấy mẫu gửi phòng kiểm nghiệm Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chỉ định
kiểm tra chỉ tiêu đã phát hiện, chỉ được xuất lô hàng khi kết quả kiểm tra tăng cường đúng
yêu cầu. Tuy nhiên, cần thiết phải tăng cường việc giám sát thực hiện cơ sở nuôi bị nhiễm
nhằm tăng hiệu quả quản lý tồn lưu kháng sinh hóa chất trên sản phẩm thủy sản không chỉ
cho xuất khẩu mà còn tiêu dùng nội địa.
Tình hình nhiễm vi sinh trên sản phẩm tôm và cá tra của Việt Nam xuất khẩu vào Châu Âu
và sản phẩm tôm xuất khẩu vào thị trường Nhật có xu hướng giảm đáng kể từ năm 2000
6. ĐỀ XUẤT
Tăng cường tập huấn, giáo dục, nâng cao ý thức của người nuôi thủy sản trong việc sử
dụng hóa chất kháng sinh đúng cách và hiệu quả. Tuyên truyền rộng rãi các văn bản liên
quan đến sử dụng thuốc hóa chất đến người nuôi cá tôm và thực hiện việc quản lý hiệu quả
đối với các hộ nuôi cá tôm mà phát hiện tồn lưu kháng sinh trong quá trình nuôi.
Thực hiện khảo sát tình hình nhiễm vi sinh ở nhà máy chế biến nhằm cung cấp thông tin về
hiện trạng và đề ra giải pháp quản lý nguồn nhiễm vi sinh trong nhà máy chế biến mà chủ
yếu góp phần làm nhiễm vi sinh trên sản phẩm xuất khẩu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2009. Thông tư số 15/2009/TT-BNN ban
hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2010. Thông tư số 20/2010/TT-BNNPTNT
Bổ sung, sửa đổi Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp và PTNT ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng,
hạn chế sử dụng.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2011. Quyết định số 2654 QĐ – BNN-
QLCL Ban hành biện pháp kiểm tra tăng cường về chất lượng an toàn thực phẩm lô
hàng thủy sản xuất khẩu vào Canada và Nhật Bản.
16
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2012. Thông tư số: 03/2012/TT-
BNN&PTNT Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 15/2009/TT-BNN ngày 17/3/2009 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hoá chất, kháng
sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng.
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2013. Tình hình phát triển ngành nuôi
trồng thủy sản Việt Nam. Truy cập tại
ngày
truy cập 28/07/2014.
6. Bộ Thuỷ sản, 2005. Quyết định 26/2005/QĐ-BTS bổ sung Fluoroquinolones vào
2013. Use of veterinary medicines, feed additives and probiotics in four major
internationally traded aquaculture species farmed in Asia. Aquaculture 412-413, 231-
243.
15. Thống kê của Cục Quản lí Dược phẩm và Thực Phẩm Hoa Kì. Truy cập tại
ngày truy cập
25/07/2014.
16. Tran, L., L.H., Nunan, L., Redman, R.M., Mohney, L.L., Pantoja, C.R.,
Fitzsimmons, K.,.Lightner, D.V., 2013. Determination of the infectious nature of the
agent of acute hepatopancreatic necrosis syndrome affecting penaeid
shrimp.U.S.FDA, 2014. Diseases of aquatic organisms 105: 45–55.
17. Uddin, G. M. N., Larsen, M. H., Guardabassi, L., & Dalsgaard, A. (2013). Bacterial
flora and antimicrobial resistance in raw frozen cultured seafood imported to
Denmark. Journal of Food Protection, 76(3), 490-499. 10.4315/0362-028X.JFP-12-
402.
18. VASEP, 2014. Bản tin thủy sản của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt
Nam. Truy cập tại />luong-ca-tra-mot-so-tinh-giam.htm, truy cập ngày 28/07/2014.
19. VASEP, 2014. Công văn số 51/2014/CV-VASEP: Nhật Bản kiểm tra chỉ tiêu
Oxytetracyline với 100% lô tôm nhập khẩu từ Việt Nam, ww.vasep.com.vn/Thu-
Vien-Van-Ban/73_34789/Cong-van-so-512014CV-VASEP-Nhat-Ban-kiem-tra-chi-
tieu-Oxytetracyline-voi-100-lo-tom-NK-tu-Viet-Nam.htm, truy cập ngày 17/11/2014.
khâu sản xuất giống, nuôi
trồng động thực vật dưới
nước và lưỡng cư, dịch vụ
nghề cá và bảo quản, chế
biến.
2
Chloramphenicol
3
Chloroform
4
Chlorpromazine
5
Colchicine
6
Dapsone
7
Dimetridazole
8
Metronidazole
9
Nitrofuran (bao gồm cả Furazolidone)
10
Ronidazole
11
Green Malachite (Xanh Malachite)
12
Ipronidazole
13
Các Nitroimidazole khác
14
Amoxicillin
50
2
Ampicillin
50
3
Benzylpenicillin
50
4
Cloxacillin
300
5
Dicloxacillin
300
6
Oxacillin
300
7
Oxolinic Acid
100
8
Colistin
150
9
Cypermethrim
50
10
Deltamethrin
10
11
Spectinomycin
300
22
Chlortetracycline
100
23
Oxytetracycline
100
24
Tetracycline
100
25
Sulfonamide (các loại)
100
26
Trimethoprim
50
27
Ormetoprim
50
28
Tricainemethanesulfonate
15-330
29
Danofloxacin
100
30
Difloxacin
300
31