Phát huy vai trò của gia đình trong việc giáo dục trẻ em ở thái bình hiện nay - Pdf 30

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHÍ THI NGA PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG
VIỆC GIÁO DỤC TRẺ EM Ở THÁI BÌNH HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Dƣơng Minh Đức

Hà Nội - 2015
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
dướng dẫn của TS. Dương Minh Đức. Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận
văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo
có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

Phí Thị Nga
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. GIA ĐÌNH VỚI TƢ CÁCH LÀ CHỦ THỂ GIÁO DỤC
TRẺ EM 8
1.1. Tầm quan trọng của giáo dục gia đình đối với trẻ em. 8
1.1.1. Gia đình và chức năng giáo dục của gia đình 8
1.1.2. Trẻ em trong gia đình và trong phát triển xã hội 13
1.2. Nội dung của giáo dục gia đình đối với trẻ em 21
1.2.1. Giáo dục đạo đức 21
1.2.2. Giáo dục trí tuệ 25
1.2.3. Giáo dục thể chất 28
1.2.4. Giáo dục thẩm mĩ 29
1.3. Những yếu tố tác động đến việc giáo dục trẻ em trong các gia đình
ở Thái Bình hiện nay. 31
1.3.1. Vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa - xã hội và con ngƣời Thái Bình. 31
1.3.2. Tác động giáo dục của các thành viên trong gia đình tới trẻ em ở
Thái Bình 37
1.3.3. Tác động của chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc đến vai trò
của gia đình trong giáo dục trẻ em ở Thái Bình 42
1.3.4. Tác động của khoa học công nghệ và cơ chế thị trƣờng tới việc
giáo dục trẻ em ở Thái Bình. 45
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA Ở THÁI BÌNH HIỆN NAY 49
2.1.Thực trạng giáo dục trẻ em trong gia đình ở Thái Bình hiện nay. 49
2.1.1. Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ em trong các gia đình ở
Thái Bình 51

xã hội 83
3.1.4. Sự phát triển toàn diện của trẻ em là một trong những yếu tố cơ
bản của sự phát triển kinh tế- xã hội bền vững 84
3.1.5. Giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội mà trƣớc hết là
của gia đình 86
3.1.6. Tăng cƣờng sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng và chính
quyền các cấp đối với công tác giáo dục trẻ em 88
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của gia đình
trong việc giáo dục trẻ em ở thái Bình hiện nay 90
3.2.1. Xây dựng gia đình “ấm no, tiến bộ và hạnh phúc” 90
3.2.2. Tăng cƣờng sự phối hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và xã hội, tạo
môi trƣờng thống nhất cho việc giáo dục trẻ em 93
3.2.3. Giáo dục truyền thống gia đình, dòng họ, quê hƣơng, đất nƣớc
cho trẻ em 98
KẾT LUẬN 105
KIẾN NGHỊ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi cá nhân từ khi sinh ra, trưởng thành cho đến khi từ biệt cõi đời đều gắn
bó với gia đình. Tuy gia đình không phải là thiết chế duy nhất có vai trò trách nhiệm
giáo dục trẻ em nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng: Gia đình là môi trường đầu
tiên, có tầm quan trọng quyết định việc hình thành nhân cách của trẻ và có ảnh
hưởng lâu dài, toàn diện tới mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời. Trong mối quan hệ
với xã hội thì gia đình là tế bào của xã hội. Và khi so với các lực lượng giáo dục

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng, Nhà nước đã có
nhiều chỉ thị, nghị quyết, chinh sách đề cập đến vấn đề này. Và thực tế Việt Nam là
quốc gia đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước
hành động quốc gia về quyền trẻ em. Ngay sau đó, chương trình hành động Quốc
gia vì trẻ em được thông qua và khẳng định dành ưu tiên cho trẻ em các quyền được
bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, vui chơi giải trí và phát triển văn hóa.
Thực trạng hiện nay, công tác giáo dục gia đình đã được quan tâm nhiều hơn
trước, không chỉ ở nước ta mà còn ở phần lớn các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên,
trước tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong
xu hướng toàn cầu hóa hiện nay ở nước ta. Sự giao lưu mở cửa hội nhập đã đem đến
cho gia đình Việt Nam nhiều cơ hội: Gia đình Việt Nam có điều kiện phát triển kinh
tế, giao lưu hội nhập với các nền văn hóa tiên tiến, văn minh của các nước. Song,
bên cạnh những mặt tích cực đó, mặt trái của cơ chế thị trường cũng nảy sinh nhiều
vấn đề tác động đến đời sống gia đình Việt Nam, làm cho gia đình Việt Nam đang
đứng trước những khó khăn thử thách, sóng gió chưa từng có trong cách dạy con. Ở
một góc độ nào đó đã phá vỡ nền nếp gia phong đạo đức của gia đình truyền thống
Việt Nam. Tình trạng ly hôn, ly thân, sống thử, ngoại tình, quan hệ tình dục trước
hôn nhân và việc nạo phá thai trong giới trẻ gia tăng, để lại hậu quả nặng nề về
nhiều mặt đối với gia đình và xã hội. Nhiều giá trị văn hóa gia đình truyền thống tốt
đẹp của người Việt Nam đang có biểu hiện xuống cấp, phai nhạt. Nhiều tệ nạn như
ma túy, cờ bạc, rượu chè, mại dâm, HIV/AIDS đã và đang xâm nhập vào từng gia
đình. Mâu thuẫn xung đột giữa các thế hệ về phép ứng xử, lối sống đang đặt ra
những thách thức mới, cùng với nó là tình trạng bạo lực gia đình, bạo lực học
đường cũng gia tăng mạnh mẽ đến mức báo động. 3
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng, dân số đông, trong đó chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao, không đồng đều và cũng chịu sự thay đổi
cùng với sự thay đổi của xã hội. Do đó công tác giáo dục trẻ em còn nhiều hạn chế,

hỗ trợ các gia đình phát huy tốt hơn vai trò của mình trong việc giáo dục trẻ và dành
cho trẻ em những điều kiện tốt nhất để phát triển toàn diện.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Gia đình và giáo dục gia đình luôn là những chủ đề hấp dẫn nhiều cá nhân,
tập thể không chỉ trong giới nghiên cứu khoa học xã hội mà trong cả các cơ quan, tổ
chức có liên quan. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chủ đề này, trong các
công trình ấy phải kể đến một số tác phẩm và công trình khoa học sau:
Tác phẩm “Nói chuyện về giáo dục Gia đình” của A. Ma-ca-ren-cô do Nxb
Kim Đồng, Hà Nội phát hành năm 1978. Với tâm huyết và năng lực vốn có, cùng
với kinh nghiệm của một nhà giáo dục Xô Viết nổi tiếng, A.Ma-ca-ren-cô đặc biệt
quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thời thơ ấu. Ông cho rằng điều đó
không phải là khó như nhiều người lầm tưởng, tất cả các bậc cha mẹ đều có thể làm
được, vả lại đó là một công việc lý thú, mang lại niềm vui và hạnh phúc, nó không
khó khăn ghê ghớm như nhiều người lầm tưởng. Nếu tuổi trẻ không được gia đình
giáo dục ngay từ đầu, thì công việc cải tạo sẽ tốn hơn rất nhiều công sức không chỉ
của gia đình, mà xã hội phải quan tâm. Những nguyên lý giáo dục đó cũng như kinh
nghiệm thực tiễn của ông cho đến nay vẫn được đông đảo độc giả tìm đọc và trân
trọng.
“Khoa học giáo dục con em trong gia đình” của Ủy ban Thiếu niên nhi
đồng Trung ương, xuất bản năm 1979, do Đức Minh chủ biên. Cuốn sách này đã
giới thiệu một số quan điểm về giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò, đặc
điểm của giáo dục gia đình, cung cấp những cơ sở lý luận, những nội dung và yêu
cầu của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ.
“Dạy con nên người” của Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Hà Nội, xuất bản
năm 1991. Tập thể tác giả ở đây đã cung cấp cho các bậc cha mẹ những hiểu biết
cần thiết về gia đình, về trách nhiệm làm cha, làm mẹ trong việc giáo dục con cái
nên người trên những mặt cơ bản về Đức, trí, thể , mỹ.
Sách “Chờ đến mẫu giáo thì đã muộn” của tác giả Ibuka Masaru, do nhà
xuất bản Văn học, phát hành tháng 10 năm 2013. Trong tác phẩm này, tác giả đã chỉ
ra bí quyết nuôi dạy con từ lúc lọt lòng của các bà mẹ Nhật, đồng thời là một trong

của Gia đình Việt Nam hiện nay trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay”
Hà Nội. 2001; Luận án TS của Dương Thị Minh “Gia đình Việt Nam vai trò người
phụ nữ hiện nay” Hà Nội. 2003; và rất nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ có liên quan 6
của học viên trường Đại học Quốc gia Hà Nội do nhiều PGS.TS nổi tiếng, có trình
độ chuyên môn sâu rộng hướng dẫn như: Luận văn “Thực hiện và phát huy chức
năng giáo dục trẻ em của gia đình nông dân ở huyện Hoa Lư - tỉnh Ninh Bình hiện
nay” Hà nội. 2011; “Gia đình và vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em ở nước ta hiện nay” Hà nội. 2010; Luận văn “Vai trò giáo dục
của gia đình đối với trẻ em hư ở thành phố” Hà nội. 2011; “Vấn đề giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay” Hà Nội.2012;
“Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn
thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay” Hà Nội. 2014; “Những biến đổi của đạo
đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay” Hà Nội. 2014; vv
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần làm rõ hơn mặt lý luận cũng
như thực tiễn về vai trò của gia đình trong việc giáo dục con người nói chung,
trẻ em nói riêng. Tuy nhiên căn cứ vào điều kiện thực tiễn ở tỉnh Thái Bình
hiện nay, vai trò giáo dục của gia đình còn nhiều hạn chế. Tôi thấy rằng việc
phát huy vai trò của gia đình trong giáo dục trẻ em ở Thái Bình hiện nay là
một vấn đề bức xúc và cấp thiết, không trùng lặp với các luận văn, luận án sau
đại học hay các công trình nghiên cứu đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ thực trạng việc giáo dục trẻ em của các gia đình ở tỉnh
Thái Bình hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy tốt
hơn vai trò của gia đình trong công tác giáo dục trẻ em ở tỉnh Thái Bình hiện nay.
* Nhiệm vụ:

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chương, 6 tiết.

8
CHƢƠNG 1
GIA ĐÌNH VỚI TƢ CÁCH LÀ CHỦ THỂ GIÁO DỤC TRẺ EM

1.1. Tầm quan trọng của giáo dục gia đình đối với trẻ em.
1.1.1. Gia đình và chức năng giáo dục của gia đình
*) Khái niệm gia đình:
Trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội với nhiều vấn đề
mới nảy sinh, trong đó vấn đề gia đình cũng có những biến đổi rất phức tạp. Những
chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa
học không chỉ ở Việt nam mà cả trên thế giới. Vậy gia đình là gì? Để trả lời câu hỏi
này cho đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau, bởi đây là một phạm trù rộng,
không ngừng biến đổi dưới tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội.
Trong thời đại của mình, Các Mác cho rằng gia đình là tổ chức đặc biệt quan
trọng để duy trì nòi giống, các thành viên của gia đình có mối quan hệ tình cảm ruột
thịt với nhau. Điều này được thể hiện rõ qua quan niệm: “Hàng ngày tái tạo ra đời
sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở.

những hình thức, vai trò khác nhau thay đổi từ nền văn minh này sang nền văn minh
khác, dân tộc này so với dân tộc kia. Do đó, không thể đưa ra một định nghĩa chung
có thể áp dụng cho toàn cầu [13,tr 5].
Tuy nhiên, từ những định nghĩa trên chúng ta có thể nhận thấy: có ba mối
quan hệ thường được nhắc tới khi đề cập đến gia đình đó là: quan hệ hôn nhân,
quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên.
Quan hệ hôn nhân là sự liên kết giữa một nam và một nữ theo quy định của
pháp luật nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình hạnh phúc. Đây là quan
hệ cơ bản, đầu tiên cần phải có của mỗi gia đình, nó là tiền đề cho các mối quan hệ
khác. Trong xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang
tính giai cấp. Mỗi hình thái kinh tế- xã hội có các kiểu hôn nhân đặc trưng và các
giai cấp thống trị dùng luật để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý
chí và lợi của giai cấp mình. 10
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người cùng trực hệ dòng máu, là
sự tiếp tục và là hệ quả tất yếu của quan hệ hôn nhân. Nó chỉ phát triển tốt đẹp dựa
trên quan hệ tình yêu và hôn nhân chính đáng, hợp pháp.
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa chủ thể nuôi dưỡng và đối tượng được
nuôi dưỡng, họ gắn bó với nhau không chỉ vì trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi được
họ hàng ủng hộ và pháp luật thừa nhận, bảo vệ mà cao hơn là tình thương yêu, đùm
bọc, sẻ chia những vui buồn trong cuộc sống.
Có lẽ, nghiên cứu về gia đình nói chung, định nghĩa gia đình nói riêng còn
nhiều vấn đề cần tìm hiểu thêm và còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học. Nhìn nhận gia đình từ phương diện chuyên ngành, tôi cho rằng: Gia đình
là một hình thức cộng đồng xã hội đặc thù, được hình thành, duy trì và củng cố chủ
yếu trên cơ sở các mối quan hệ cơ bản là hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng được
xã hội thừa nhận. Các thành viên của gia đình có những giá trị vật chất, tinh thần
chung, gắn bó với nhau bởi trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ nhằm mục tiêu cao

trẻ còn nhỏ. Điều này đã được nhà giáo dục học nổi tiếng A.Ma-ca-ren-cô khẳng
định: Những gì mà cha mẹ đã làm cho con trước 5 tuổi, đó là 90% kết quả của quá
trình giáo dục.
Nội dung của giáo dục gia đình tương đối toàn diện, cả giáo dục tri thức và
kinh nghiệm, giáo dục đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, ý thức
cộng đồng. Phương pháp giáo dục của gia đình cũng rất đa dạng, song chủ yếu là
phương pháp nêu gương, thuyết phục và chịu ảnh hưởng không ít của tư tưởng, lối
sống, tâm lý, gia phong của truyền thống gia đình .
Giáo dục gia đình được thực hiện ở mọi chu trình sống của con người: Lúc
còn ẵm ngửa, giai đoạn tuổi thơ, khi trưởng thành, lúc già cả Ở từng chu trình ấy
có những nội dung và hình thức giáo dục cụ thể như: lời ru của mẹ, tấm gương sống
và làm việc của người thân, những nhắn nhủ của cha mẹ, giảng giải của ông bà,
Do đó, dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng, có ý nghĩa quyết định,
nhưng có những nội dung và phương pháp lại được giáo dục gia đình mang lại hiệu
quả lớn không thể thay thế. Giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục. Vì vậy,
chủ thể giáo dục gia đình chủ yếu vẫn là thế hệ cha mẹ, ông bà đối với con cháu.
Giáo dục gia đình là một bộ phận và có quan hệ hỗ trợ, bổ sung hoàn thiện thêm cho 12
giáo dục nhà trường và xã hội. Cho nên, dù giáo dục nhà trường và xã hội có phát
triển lên trình độ nào, giáo dục gia đình vẫn được coi là một thành tố của nền giáo
dục nói chung, phục vụ các lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị trong bất cứ thời đại
nào khi xã hội còn giai cấp và phân chia giai cấp.
Trong điều kiện hiện nay, chất lượng giáo dục con người không ngừng được
nâng cao. Môi trường tạo ra chất lượng đó là gia đình, nhà trường và xã hội, nhưng
chủ yếu vẫn là gia đình- cái nôi nuôi dưỡng, phát triển nhân cách đạo đức, tình cảm
thẩm mĩ Tuy nhiên, với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và sự phát
triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, sự đa dạng và nhiều màu sắc của văn
hóa thì giáo dục gia đình cũng có nhiều thay đổi. Bên cạnh những bậc phụ huynh

Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ (năm 1924), Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
(năm 1959), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1968), Công ước quốc
tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966), Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị (năm 1966), Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm
1989), Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc
(năm 1976), Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em (năm 1990).
Theo điều 1 của Công ước quốc tế về quyền trẻ em: “Trẻ em được xác định là
người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
“Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm người trong xã hội thuộc một độ
tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người”. Trẻ em là những
người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần
được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp
lý trước cũng như sau khi ra đời[15, tr.3].
Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 ở nước ta quy
định: Trẻ em là “Công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”[20,tr. 1]. Đây là những người
chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và
kinh nghiệm sống còn nhiều hạn chế, thiếu những điều kiện để tự lập và khả năng
kìm chế chưa cao nên dễ bị kích động lôi kéo vào những hoạt động phưu lưu mạo
hiểm. Mọi suy nghĩ về cuộc sống của các em thiên về tình cảm, dễ xúc động, dễ
hành động cảm tính. Điều này đòi hỏi các bậc phụ huynh phải hết sức khéo léo, am 14
hiểu tâm lý của trẻ nhỏ, uốn nắn nhẹ nhàng sao cho có hiệu quả vì trẻ ở mỗi độ tuổi
lại có những đặc điểm không giống nhau.
*) Đặc điểm trẻ em:
- Đặc điểm về tâm lý của trẻ em:
Tâm lý (của con người) là toàn bộ sự phản ánh của hiện thực khách quan vào
ý thức con người, bao gồm nhận thức, tình cảm, ý chí, biểu hiện trong hoạt động
và cử chỉ của mỗi người. Tâm lý người bao giờ cũng là “cái riêng” của từng người,

một cách chu đáo. Các nhà tâm lý học gọi đây là giai đoạn của sự lựa chọn giữa độc
lập và tự ti. Nếu trẻ học được cách biết nghe lời chỉ dẫn, biết tuân theo kỷ luật
(trước hết là tập đi vệ sinh đúng chỗ quy định chẳng hạn) thì sau này trẻ sẽ phát
triển tính tự lập. Trong trường hợp người lớn không hướng dẫn, giảng giải cụ thể,
trẻ không hiểu và không biết kỷ luật, khi gặp các trường hợp nguy hiểm (bị bỏng do
nghịch nước sôi, đưa tay vào ổ điện…) thì sau này, trẻ em cảm thấy tự ti, không
mạnh dạn phát triển tính độc lập của mình.
Giai đoạn mẫu giáo
Trẻ em từ 36 tháng tuổi đến dưới 60 tháng tuổi. Trong độ tuổi này, trẻ em bắt
đầu hình thành năng lực tự chủ, có sự định hướng những hành vi công việc của
mình. Nếu cha mẹ cười hoặc giễu cợt, phê phán con trước những nỗ lực chưa thực
hiện được của nó thì trẻ sẽ luôn cảm thấy điều mình làm là có lỗi. Ngược lại, nếu
được cổ vũ, khích lệ thì trẻ rất sung sướng và nỗ lực hơn nữa. Tình cảm hồn nhiên,
dễ yêu, dễ hờn giận, muốn được tự chủ là một trong những nét tâm lý nổi bật của trẻ
giai đoạn này. Tương ứng với giai đoạn này là sự lựa chọn giữa mong muốn được
chủ động, sáng tạo và cảm giác có lỗi, xấu hổ và đang dần hình thành ý thức, tính
cách.
Giai đoạn nhi đồng - thiếu nhi
Trẻ em từ 6 tuổi đến 12 tuổi. Độ tuổi này trẻ rất háo hức và sẵn sàng học nhiều
điều mới. Tất cả các nước trên thế giới đều qui định đây là độ tuổi cho trẻ đến
trường phổ thông.
Lứa tuổi nhi đồng - thiếu nhi, trẻ em bắt đầu làm quen với những khái niệm
khoa học ở trường tiểu học. Các em học tuân theo những yêu cầu "lao động" học
tập. Cần quan tâm giáo dục tính chăm chỉ, cần cù cho trẻ để sau này trẻ có được 16
phẩm chất chăm chỉ, cần cù. Phẩm chất cần cù là điều kiện thiết yếu nuôi dưỡng
ham muốn học hỏi, lao động của người lớn, những kỹ xảo hành động đặc trưng cho
người lớn và chuẩn bị để nắm bắt vai trò của người lớn. Nhiều thí nghiệm tâm lý

em có thể có sự tự giáo dục. Ở độ tuổi này trẻ đã chú ý đánh giá hành vi, thái độ của
người lớn và có thái độ phê phán, xem xét, bình luận về các hành vi, thái độ của
người lớn.
Trong khi cần sự giúp đỡ của cha mẹ hơn bao giờ hết, các em lại muốn tỏ ra
độc lập hoàn toàn. Điều này đôi khi gây lúng túng cho người lớn. Để củng cố lòng
tự trọng cho các em, người lớn cần tôn trọng ước muốn không phụ thuộc của trẻ
đồng thời cần cho các em biết giới hạn của mọi hành vi nhằm giữ an toàn cho
chúng. Sự trung thực và bao dung của cha mẹ ở giai đoạn này là vô cùng cần thiết
để giúp cho trẻ độc lập trong suy nghĩ, có quan hệ tốt với người khác, hình thành
trong con người trẻ một con người có cá tính, một người lao động thực thụ, một
người bố hay người mẹ trong tương lai.
Nếu trẻ không được dạy dỗ đúng mực, thiếu tự chủ, trẻ dễ có những hành
động lệch lạc với chính mình hay với người khác và đó thường là nguy cơ đưa trẻ
tới những hành vi sai trái như: trộm cắp, quấy phá, chán học, bỏ học, uống rượu,
đánh bạc, sử dụng ma tuý
Đây cũng là giai đoạn trẻ đang phải tách ra độc lập khỏi gia đình, những người
thân một cách tự nhiên để chuẩn bị bước vào cuộc sống độc lập của một người
trưởng thành, thiết lập những quan hệ xã hội mới như quan hệ bạn bè khác giới.
Đây là giai đoạn rất khó khăn trong tâm lý của trẻ và để làm được điều này, trẻ
thường hồi tưởng lại thời thơ ấu của mình. Những trẻ em có giai đoạn đầu đời thuận
lợi, có niềm tin vào các mối quan hệ xã hội thường giải quyết khó khăn của mình
bằng những cách tích cực như tìm đến thơ ca, văn nghệ, thể thao, thậm chí cả chính
trị và thường tìm thấy những người bạn cùng giới hoặc khác giới có cùng sở thích
để chia sẻ. Ngược lại, các em có khó khăn trong quan hệ xã hội thường khó khăn
trong tìm bạn để thay thế các mối quan hệ gia đình và thường có cách giải quyết
khó khăn của mình theo hướng tiêu cực.
- Đặc điểm về sự phát triển của trẻ em 18


19
phù hợp với những chuẩn mực giá trị đạo đức, mạnh dạn nói lên suy nghĩ của mình
đồng thời lắng nghe và tôn trọng ý kiến của các em.
1.1.2.2 Trẻ em trong gia đình và trong sự phát triển của xã hội
*) Trẻ em trong gia đình:
Trẻ em là sự nối dài cuộc đời của cha mẹ, là thành phần quan trọng cấu thành
gia đình. Mỗi đứa trẻ được sinh ra là kết quả tình yêu của cha mẹ, là hạnh phúc
tương lai của gia đình, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng chính là hai
trong ba quan hệ cơ bản tạo nên gia đình. Chính vì vậy trẻ em luôn là nguồn vui,
nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là người kế tục sự nghiệp của cha ông, dòng họ,
đồng thời là đối tượng cần được chăm sóc giáo dục đặc biệt của các thành viên, nhất
là từ các bậc cha mẹ. Phần lớn các bậc cha mẹ luôn coi con cái là niềm hy vọng lớn
lao, là tương lai của gia đình nếu chúng khôn lớn, khỏe mạnh, trưởng thành, giúp
ích được cho đời, hiếu thảo với ông bà cha mẹ và biết sống hòa thuận. Ngược lại, họ
thấy bất hạnh lớn nếu như con cái bị tật nguyền, và nhất là chúng hư đốn, bất hiếu,
ích kỷ, hại nước, hại dân. Họ sẵn sàng hy sinh cho con, dành tất cả những gì tốt nhất
có thể để cho con họ có một tương lai tốt đẹp hơn, bất kể cuộc sống hôn nhân của
bản thân có hạnh phúc hay không, với tinh thần “Cha mẹ nhận một đời bão tố để
cho con mãi được bình yên”. Nói như vậy để thấy rằng trong các tài sản của gia
đình, trẻ em luôn được coi là tài sản quý báu nhất, không gì có thể mua đổi được;
trong các tình cảm của mỗi bậc cha mẹ thì đây là tình cảm gần gũi sâu nặng nhất;
trong các trách nhiệm của gia đình thì đây là trách nhiệm trực tiếp nhất; trong các
hy vọng của cha mẹ thì đây là hy vọng lớn lao nhất.
- Trẻ em trong xã hội:
Trẻ em là lớp công dân đặc biệt, là lực lượng lao động và là chủ nhân tương
lai của đất nước. Giáo dục trẻ em không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà còn là
trách nhiệm của Nhà nước và của toàn xã hội. Khẩu hiệu “Trẻ em hôm nay- thế giới
ngày mai” đã và đang trở thành phương châm hành động của nhiều quốc gia trên
thế giới, trong đó có Việt nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status