Lựa chọn, thiết kế và sử dụng bài tập theo hướng tiếp cận pisa trong dạy học chương 9, hóa học 12 - Pdf 30

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ THỊ THU GIANG LỰA CHỌN, THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
BÀI TẬP THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG 9, HÓA HỌC 12
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Mã số: 60.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Trung Ninh

HÀ NỘI – 2015

iii

Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Trần Trung Ninh, người đã trực
tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để Tôi hoàn thành luận văn này.

Trong quá trình thực hiện đề tài Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều
kiện của quý thầy cô trường Đại học giáo dục Hà Nội. Đặc biệt là những thầy cô đã tận
tình dạy bảo cho Tôi suốt thời gian học tập tại trường. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân
thành về sự giúp đỡ đó.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và toàn thể các em
học sinh trường THPT Đan Phượng, trường THPT Vạn Xuân - thành phố Hà Nội đã
tạo điều kiện cho Tôi điều tra, khảo sát, thực nghiệm để có dữ liệu viết luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ, tạo điều
kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014

Bảng 3.2. Số HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng
Bảng 3.3. Tần suất (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng
Bảng 3.4. Tỉ lệ (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Đan Phượng
Bảng 3.5. Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT
Đan Phượng
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT
Đan Phượng
Bảng 3.7. Số HS đạt điểm Xi của trường THPT Vạn Xuân
Bảng 3.8. Tần suất (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Vạn Xuân
Bảng 3.9. Tỉ lệ (%) HS đạt điểm Xi của trường THPT Vạn Xuân
Bảng 3.10. Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT
Vạn Xuân
Bảng 3.11. Bảng tổng hợp phân loại kết quả bài kiểm tra lần 1 của HS trường THPT
Vạn Xuân
Bảng 3.12. Tổng hợp các tham số đặc trưng
Bảng 3.13. Bảng tổng hợp thăm dò ý kiến HS sau thực nghiệm
Bảng 3.14. Bảng tổng hợp thăm dò ý kiến GV sau thực nghiệm
vi

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Đường lũy tích điểm kiểm tra – Lần 1 – trường THPT Đan Phượng
Hình 3.2. Đường lũy tích điểm kiểm tra – Lần 2 – trường THPT Đan Phượng
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS – Lần 1– trường THPT Đan
Phượng
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS – Lần 2– trường THPT Đan
Phượng
Hình 3.5. Đường lũy tích điểm kiểm tra – Lần 1 – trường THPT Vạn Xuân
Hình 3.6. Đường lũy tích điểm kiểm tra – Lần 2 – trường THPT Vạn Xuân
Hình 3.7. Đồ thị biểu diễn kết quả bài kiểm tra của HS – Lần 1– trường THPT Vạn
Xuân

1.2.4. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy
học 9

viii

1.2.5. Đổi mới việc kiểm tra – đánh giá 10
1.3. Bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT 10
1.3.1. Ý nghĩa của bài tập hóa học 10
1.3.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới 11
1.4. Tìm hiểu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA 12
1.4.1. Đặc điểm của PISA 12
1.4.2. Mục tiêu đánh giá theo PISA 13
1.4.3. Nội dung đánh giá theo PISA 16
1.4.4. Cách đánh giá trong bài tập PISA 17
1.4.5. Đối tượng đánh giá 18
1.5. Ý nghĩa của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận
PISA trong dạy học Hoá học ở trường THPT 18
1.6. Thực trạng mức độ biết, hiểu và sử dụng câu hỏi và bài tập hoá học theo
hướng tiếp cận PISA của giáo viên ở trường THPT hiện nay 18
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2: Lựa chọn, thiết kế và sử dụng bài tập theo hướng tiếp cận Pisa
trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12 22
2.1. Phân tích chương trình hóa học 12 22
2.1.1. Mục tiêu cơ bản của chương trình hóa học lớp 12 22
2.1.2. Cấu trúc nội dung chương trình 23
2.2. Cơ sở, nguyên tắc và quy trình xây dựng bài tập theo hướng tiếp cận PISA
trong dạy học hóa học chương 9 lớp 12 26
2.2.1. Cơ sở và nguyên tắc 26
2.2.2. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA 28
2.3. Hệ thống bài tập hóa học chương 9 lớp 12 theo hướng tiếp cận PISA 31

PHỤLỤC 104
1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển nhanh
chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên
nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới. Thực chất cạnh tranh
giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học – công
nghệ. Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỉ XXI là các nước tiến hành đổi mới
mạnh mẽ hay cải cách giáo dục. Vì vậy, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định
“đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục quốc dân”.[2, tr. 15]
Năm 2012, giáo dục Việt Nam có một dấu ấn quan trọng khi lần đầu tiên nước ta
có khoảng 5.100 HS ở độ tuổi 15 của 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố, cùng với
hơn 65 quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới tham gia vào cuộc khảo sát chính
thức của PISA 2012 - (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Program for International
Student Assessment”, được dịch là “Chương trình đánh giá HS quốc tế” do tổ chức
Hợp tác và phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and
Development”, thường được viết tắt là OECD) khởi xướng và triển khai từ ngày 12 đến
ngày 14 tháng 4 năm 2012. Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho hay, việc tham gia
PISA được cho là để có được cái nhìn đúng đắn về những mặt mạnh, yếu của hệ thống
giáo dục trong nước và rút ra được những bài học cải tổ cần thiết.
Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA có quy mô toàn cầu, được tổ chức
định kì 3 năm một lần, nhằm đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS ở tuổi 15. Mục tiêu
của chương trình PISA nhằm đánh giá khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục bắt buộc,
HS đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào.
Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng

phổ thông”. Nxb ĐH Sư Phạm, 2009
- PGS.TS.Trần Trung Ninh và các cộng sự, “18 chủ đề trọng tâm thường gặp và
phương pháp giải đề thi đại học – cao đẳng môn Hóa học”, NXB Hà nội, 2012
Các công trình và các tài liệu nghiên cứu liên quan đến PISA như:
- Luận văn thạc sĩ: “Tiếp cận đánh giá PISA bằng phương pháp giải quyết vấn đề
3

qua dạy học các bài toán thực tiễn phần khối đa diện và khối tròn xoay (hình học
không gian lớp 12 – Ban cơ bản” của Tăng Hồng Dương – lớp Cao học lý luận và
phương pháp dạy học môn Toán K5 – Trường đại học Giáo dục, đại học Quốc gia Hà
Nội.
- Luận văn thạc sĩ: “Dạy học phát triển năng lực cho HS trung học phổ thông với
các bài toán tiếp cận chương trình HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn Quốc Trịnh – lớp
Cao học lý luận và phương pháp dạy học môn Toán K5 – Trường đại học Giáo dục, đại
học Quốc gia Hà Nội.
- “Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) (Mục đích, tiến trình thực hiện, các
kết quả chính” của Nguyễn Thị Phương Hoa trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia
Hà Nội số 25/2000.
- “Góp phần tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn
Ngọc Sơn trên Tập san Giáo dục - Đào tạo số 3/2010
- “Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA” của Đỗ Tiến Đạt trên Kỷ yếu Hội
thảo Quốc gia về giáo dục Toán học phổ thông năm 2011.
- Khai thác tiêu chuẩn của PISA nhằm rèn luyện khả năng toán học hóa (“Rèn
luyện HS trung học phổ thông khả năng toán học hóa theo tiêu chuẩn của PISA” của
Nguyễn Sơn Hà trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội số 4/2010…
Về Hóa học đã có các luận văn: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hướng
tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9”- Trần Thị Nguyệt Minh –
Trường ĐHGD – Đại học Quốc Gia Hà nội, năm 2012. Luận văn: “Thiết kế và sử dụng
hệ thống bài tập hóa học 10 phần phi kim tiếp cận PISA theo định hướng phát triển
năng lực cho học sinh THPT”- Hoàng Thị Phương – Trường ĐHSP Hà Nội, năm 2013.

6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6. 1. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học Hóa học ở trường phổ thông Việt Nam.
6. 2. Đối tượng nghiên cứu
5

- Quá trình sử dụng bài tập Hóa học trong dạy và học môn Hóa học chương 9 lớp
12 đã và đang tiến hành ở trường THPT.
- Thiết kế, đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong
dạy học Hóa học chương 9 lớp 12.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng một hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy
học Hóa học chương 9 lớp 12 thì sẽ làm cho việc dạy học Hóa học gắn với thực tiễn
cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học, từ đó nâng cao hiệu quả
dạy học môn Hóa học ở trường THPT.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận dạy học, chủ trương, chính sách giáo dục của
Đảng và nhà nước có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc sử dụng bài tập trong
dạy học Hóa học ở trường THPT.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc thiết kế bài tập mới
trong dạy học Hóa học ở trường THPT.
- Nghiên cứu các tài liệu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học lớp 12.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát:
Tiến hành quan sát các hoạt động dạy và học có sử dụng bài tập Hóa học tiếp cận
PISA tại trường THPT nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu.
8.2.2. Phương pháp đàm thoại:

tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học Hóa học phần chương 9 lớp 12.
Chương 2: Thiết kế và đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận
PISA trong dạy học Hóa học chương 9 lớp 12.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
7

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC HÓA
HỌC CHƯƠNG 9 LỚP 12

1.1. Đổi mới phương pháp dạy học
1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình mà trong đó sử dụng năng lực,
kinh nghiệm, trí tuệ, bản lĩnh của con người để tạo ra và sử dụng các thành tựu khoa
học kĩ thuật, công nghệ hiện đại kết hợp với giá trị truyền thống của dân tộc để đổi mới
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại.
Chính vì vậy mà công nghiệp hóa, hiện đại hoá đòi hỏi phải có một lực lượng nhân lực
có chất lượng cao. [15]
Sự phát triển nguồn nhân lực do tích hợp nhiều nhân tố: giáo dục và đào tạo; sức
khoẻ và dinh dưỡng; môi trường việc làm và cả sự giải phóng con người. Trong đó,
giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng nhất. Bởi vì, giáo dục đào tạo là động lực thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Vì vậy, các quốc gia từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển
đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục
để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu
của sự phát triển đất nước.
Như vậy, ta thấy đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh
trên tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo

công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con
người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo
của mỗi cá nhân, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu
quả.
Xác định nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệm, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có
cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các
điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội
nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và
9

bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực.
1.2.2. Đổi mới hoạt động của GV
Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa
dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm trình độ HS, với
điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS được tham gia một cách tích
cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến
thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của HS; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái
độ tự tin trong học tập cho HS; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng.
Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn
luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; tổ chức có hiệu quả các giờ
thực hành; hướng dẫn HS có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề
thực tiễn.
Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh
hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm
và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.
1.2.3. Đổi mới hoạt động học tập của HS
Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và
lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.

loại hình giáo dục cộng đồng.
1.3. Bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THPT
1.3.1. Ý nghĩa của bài tập hóa học
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, bài tập hoá học giữ vai trò rất quan
trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo. Bài tập hoá học vừa là mục đích, vừa là
nội dung lại vừa là phương pháp dạy học hiệu quả, nó không chỉ cung cấp cho HS kiến
thức, con đường giành lấy kiến thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình khám phá,
tìm tòi, phát hiện của việc tìm ra đáp số. Đặc biệt, bài tập hoá học còn mang lại cho
người học một trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức.
Bài tập hoá học có ý nghĩa và tác dụng to lớn:
11

+ Làm chính xác những khái niệm hoá học; củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một
cách sinh động, phong phú, hấp dẫn; chỉ khi vận dụng kiến thức vào giải bài tập học
sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
+ Giúp HS ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực.
+ Rèn luyện các kĩ năng hoá học như cân bằng phương trình hóa học, tính theo
công thức và phương trình, …
+ Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản
xuất và bảo vệ môi trường.
+ Rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy.
+ Phát triển các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh
và sáng tạo.
+ Là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của HS.
+ Giáo dục đạo đức, tính chính xác, kiên nhẫn, trung, lòng say mê khoa học.
1.3.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới
Xu hướng phát triển của bài tập hoá học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng
vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hoá học cho HS ở các mặt: lí thuyết,
thực hành và ứng dụng. Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thuyết
sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi.

PISA được thực hiện đều đặn theo chu kỳ ba năm một lần tạo điều kiện cho các
quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các
mục tiêu giáo dục cơ bản. Cứ sau một năm kể từ ngày điều tra, vào lúc 10 giờ sáng -
giờ Paris, ngày 04 tháng 12, kết quả điều tra sẽ được công bố trên toàn thế giới.
Cho đến nay, PISA là khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá về năng lực phổ thông
của HS độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. PISA là
một trong những nỗ lực đầu tiên xây dựng một hệ thống đánh giá mang theo triết lý
giáo dục, đường hướng và phương pháp giảng dạy đáp ứng những nhu cầu của thời đại.
PISA thu nhập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh được trên
bình diện quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về năng lực đọc hiểu, năng
lực Toán học và khoa học của HS độ tuổi 15, từ đó giúp chính phủ các nước tham gia
PISA rút ra những bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông.
PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:
13

+ Chính sách công: “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những
người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống trưởng thành chưa ?”, “Phải chăng
một số loại hình học tập và giảng dạy của những nơi này hiệu quả hơn những nơi khác
?”…
+ Hiểu biết phổ thông: Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo
dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kĩ năng trong
các lĩnh vực chuyên môn và khả năng phân tích, lý giải, truyền đạt một cách có hiệu
quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề.
+ Học suốt đời: HS không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà trường. Để
trở thành những người học suốt đời có hiệu quả, HS không những phải có kiến thức và
kỹ năng mà còn có cả ý thức về lý do và cách học. PISA không những khảo sát kỹ
năng của HS về đọc hiểu, Toán và Khoa học mà còn đòi hỏi HS cả về động cơ, niềm
tin về bản thân cũng như các chiến lược học tập.
1.4.2. Mục tiêu đánh giá theo PISA
- Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu, lĩnh

- Kêt nối, tích hợp thông tin để giải quyết các vấn để đơn giản.
- Tạo những kết nối trong các cách biểu đạt khác nhau.
- Đọc và giải thích được các kí hiệu và ngôn ngữ hình thức
(Toán học) và hiểu mối quan hệ của chúng với ngôn ngữ tự
nhiên.
Cấp độ 3
Khái quát hoá,
toán học hoá
- Nhận biết nội dung toán học trong tình huống có vấn đề phải
giải quyết.
- Vận dụng kiến thức toán học để giải quyết các vấn đề thực
tiễn.
- Biết phân tích, tổng hợp, suy luận, lập luận, khái quát hoá
trong chứng minh toán học.
1.4.2.2. Lĩnh vực Đọc hiểu
Năng lực đọc - hiểu có ý nghĩa thiết thực và tầm quan trọng lớn với sự trưởng
thành của con người. Nó không chỉ là một yêu cầu trong suốt thời kỳ trẻ thơ ở nhà
trường phổ thông mà nó còn trở thành nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở
rộng những kiến thức, kỹ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi
họ tham gia vào các hoạt động ở những tình huống khác nhau trong mối quan hệ với
người xung quanh, cũng như trong cả cộng đồng rộng lớn.
Đánh giá đọc hiểu PISA được xây dựng dựa trên ba đặc tính chủ yếu: văn bản,
khía cạnh và tình huống. Ba đặc tính này là phương tiện hữu ích để phân tích và mô tả
15

phậm vi, ngay cả khi công nhận việc phân loại văn bản và nhiệm vụ chưa tuyệt đối, kể
cả khi các yếu tố đọc không tồn tại độc lập với nhau.
* Khung đánh giá năng lực Đọc hiểu 2009
Định nghĩa
và các chức

- Cá nhân
- Giáo dục
- Việc làm
16

- Phổ thông
1.4.2.3. Lĩnh vực Khoa học
Năng lực khoa học phổ thông là năng lực của một cá nhân biết sử dụng kiến thức
khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ để hiểu và đưa ra
quyết định về thế giới tự nhiên thông qua hoạt động của con người thực hiện việc thay
đổi thế giới tự nhiên
* Khung đánh giá năng lực Khoa học PISA 2006
- Ngữ cảnh: Xác định được các bối cảnh, tình huống trong cuộc sống có liên quan
đến khoa học và công nghệ.
- Kiến thức: Hiểu được thế giới tự nhiên, bao gồm cả công nghệ, trên nền tảng
của kiến thức khoa học, bao hàm cả kiến thức về thế giới tự nhiên và kiến thức về bản
thân các ngành khoa học.
- Thái độ: Ứng đáp trước các vấn đề trong khoa học với một thái độ thích thú, ủng
hộ nghiên cứu khoa học và động lực để hành động một cách có trách nhiệm đối với
môi trường và các tài nguyên thiên nhiên.
- Năng lực: Các năng lực biểu đạt bao gồm xác định các câu hỏi khoa học, giải
thích hiện tượng một cách khoa học và đưa ra các kết luận dựa trên những căn cứ và lí
lẽ mang tính thuyết phục.
1.4.3. Nội dung đánh giá theo PISA
- Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kỹ
năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo
dục quốc gia. Đây chính là điều mà PISA gọi là “năng lực phổ thông” (về làm toán, về
khoa học, về đọc hiểu) - những năng lực cần thiết chuẩn bị cho cuộc sống trong một xã
hội hiện đại.
- Mỗi chu kì đánh giá tập trung vào một lĩnh vực chính. Thời gian đánh giá dành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status