thiết kế và sử dụng bài tập hóa học trong dạy học chương đại cương về kim loại và chương kim loại kiềm-kim loại kiềm thổ-nhôm chương trình 12 nâng cao thpt - Pdf 14

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các từ viết tắt 3
Danh mục các bảng, biểu 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lí do chọn đề tài 5
2. Mục đích nghiên cứu 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Giả thuyết khoa học 6
7. Đóng góp của đề tài 6
8. Cấu trúc luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1. Cơ sở lí luận 8
1.1.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam hiện nay 8
1.1.2. Phương pháp dạy học tích cực 8
1.1.3. Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic 10
1.1.4. Tư duy 11
1.1.5. Bài tập hóa học 11
1.1.6. Thiết kế và sử dụng BTHH trong dạy bài mới ở trường THPT 15
1.2. Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1. Thực trạng dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông hiện nay 17
1.2.2. Thực trạng sử dụng bài tập Hóa học trong dạy học bài mới ở trường THPT
hiện nay 18
Tiểu kết chương 1 20
1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
BTHH : Bài tập hoá học
ĐC : Đối chứng
ĐLBT : Định luật bảo toàn
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
HTBT : Hệ thống bài tập
NXB : Nhà xuất bản
PPDH : Phương pháp dạy học
PTHH : Phương trình hoá học
PA : Phương án
THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
TNSP : Thực nghiệm sư phạm
TSĐH : Tuyển sinh đại học
TSHS : Tổng số học sinh
3
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
STT Bảng, Đồ thị, Biểu đồ Trang
1 Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút 71
2 Bảng 3.2. Thống kê chất lượng bài kiểm tra 15 phút 72
3 Hình 3.1 Thống kê chất lượng bài kiểm tra 15 phút 72
5 Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 1 tiết chương kim loại
kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm.
72
6 Bảng 3.4. Thống kê chất lượng bài kiểm tra 1 tiết 73
7 Hình 3.2. Thống kê chất lượng bài kiểm tra 1 tiết 73
8 Bảng 3.5. Bảng phân phối tần suất bài kiểm tra số 1 73
9 Bảng 3.6. Bảng phân phối tần suất lũy tích bài kiểm tra 15 phút 73

Hóa học trong dạy học chương Đại cương về kim loại và chương Kim loại kiềm-
kim loại kiềm thổ-nhôm chương trình 12 nâng cao THPT”
2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học để dạy học chương Đại cương
về kim loại và chương Kim loại kiềm-kim loại kiềm thổ-nhôm chương trình 12
nâng cao nhằm giúp cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức, phát triển kĩ năng và
phương pháp học, góp phần nâng cao hứng thú học tập bộ môn.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận
5
-Nghiên cứu lí luận chung về phương pháp dạy và học Hóa học.
-Nghiên cứu phương pháp thiết kế và sử dụng bài tập Hóa học để dạy học bài
mới, củng cố kiến thức, nâng cao kiến thức.
-Thiết kế một số giáo án có sử dụng bài tập vào dạy học chương Đại cương
kim loại và chương Kim loại kiềm–kim loại kiềm thổ-nhôm ở chương trình Hoá 12
nâng cao
3.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
-Điều tra thực trạng dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông
-Điều tra cơ bản thực trạng sử dụng bài tập hoá học trong dạy học bài mới
3.3.Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của phương pháp dạy học thông
qua hệ thống bài tập Hóa học đã được thiết kế.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, trao đổi với các thầy cô giáo phổ thông và các em
học sinh.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Hóa học ở trường trung học
phổ thông.

dạy học đã được ban hành trong luật giáo dục tại Điều 28.2: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS; phù hợp
với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho HS”.
Thật vậy, bản chất của việc đổi mới PPDH học là tổ chức cho người học được
học tập trong hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo, trong đó việc xây dựng phong
cách học tập sáng tạo là cốt lõi của đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và
PPDH nói riêng. Lí luận dạy học hiện đại củng khẳng định “Để bồi dưỡng cho học
sinh năng lực tự học, năng lực sáng tạo cần phải đưa học sinh vào vị trí chủ thể của
quá trình học tập trong hoạt động và bằng hoạt động”.
“Giáo dục không nhằm mục tiêu nhồi nhét kiến thức mà là thắp sáng niềm tin”
Thành công hay thất bại trong việc đổi mới PPDH được quyết định không nhỏ
ở động cơ học tập của học sinh củng như ở chữ “tâm” với chữ “tài” của người thầy.
1.1.2. Phương pháp dạy học tích cực
1.1.2.1. Một số khái niệm
Khái niệm tính tích cực nhận thức là một khái niệm biểu thị sự nổ lực, chủ
động của chủ thể trong quá trình học tập và nghiên cứu, là sự biểu hiện mức độ huy
động cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết nhiệm vụ nhận thức, góp phần làm
cho nhân cách của chủ thể phát triển.
Phương pháp tích cực để chỉ những phương pháp dạy học phát huy tính tích
cực, chủ động sáng tạo của người học.
1.1.2.2. Một vài PPDH tích cực
8
1. Dạy học lấy HS làm trung tâm.
Đây là một quan điểm được đánh giá là tích cực vì hướng việc dạy học chú
trọng đến người học để tìm ra những PPDH có hiệu quả. Dạy học lấy HS làm trung
tâm, đặt vị trí của người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình
dạy học, phát huy tối đa những tiềm năng của từng người học. Do vậy vai trò tích
cực, chủ động, độc lập sáng tạo của người học được phát huy. Người GV đóng vai

đã được phân công sẵn. Hơn nữa với phương pháp này người học thực thi nhiệm vụ
mà không cần sự giám sát trực tiếp, tức thời của giáo viên.
Một nhiệm vụ mang tính cộng tác là nhiệm vụ mà người học không thể giải
quyết một mình mà cần thiết phải có sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong
nhóm tuy nhiên vẫn phải đảm bảo tính độc lập giữa các thành viên. Người dạy cần
phải có yêu cầu rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa người học.
Trong quá trình hợp tác, công việc thường được phân công ngay từ đầu cho mỗi
thành viên. Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ
các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì
vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên, phương
pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của
tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và học sinh đã khá quen với
phương pháp này thì mới có kết quả.
1.1.3. Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic [10]
1.1.3.1. Khái niệm dạy học nêu vấn đề - ơrixtic
Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic không phải là một phương pháp dạy học cụ thể
đơn nhất. Nó là một tổ hợp phương pháp dạy học phức tạp, tức là một tập hợp nhiều
phương pháp dạy học liên kết với nhau, trong đó phương pháp xây dựng bài toán -
ơrixtic giữ vai trò trung tâm chủ đạo, gắn bó các phương pháp dạy học khác trong
tập hợp lại thành một hệ thống toàn vẹn. Như vậy ngoài phương pháp xây dựng bài
toán - ơrixtic (tạo ra tình huống có vấn đề) giữ vai trò trung tâm chủ đạo, còn có
một loạt những phương pháp dạy học quen thuộc khác như thuyết trình, thí nghiệm,
nghiên cứu v.v…
Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic có ba đặc trưng cơ bản sau:
10
- Giáo viên đặt ra trước HS một loạt những bài toán nhận thức có chứa đựng
mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm, nhưng chúng được cấu trúc lại một cách
sư phạm, gọi là những bài toán nêu vấn đề - ơrixtic.
- HS tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán ơrixtic như mâu thuẫn của nội tâm

thức. “Bài toán nhận thức là câu hỏi, bài tập hoặc bài toán mà chứa đựng vấn đề học
tập, bằng những hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo để giải bài toán đó. Sau khi
giải bài tập HS không chỉ hiểu được kiến thức mới mà cả cách thức tìm ra kiến thức
mới, từ đó phát triển tư duy, năng lực nhận thức của HS”.
Bất cứ bài tập nhận thức nào củng chứa đựng bên trong nó một tình huống
xung đột, một mâu thuẫn giữa cái đưa ra và cái cần tìm. Trong dạy học Hóa học, bài
tập nhận thức có một ý nghĩa quan trọng, nó làm cho học sinh có ham muốn tìm tòi
cách giải bằng cách phân tích các điều kiện và huy động những kiến thức vốn có
của mình.
1.1.5.2. Phân loại bài tập hóa học
Có nhiều cách phân loại BTHH, giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ
rệt. Dựa vào mục đích khác nhau người ta có các cách phân loại như sau:
- Dựa vào tích chất của bài tập: bài tập định tính và bài tập định lượng.
- Dựa vào mức độ kiến thức:bài tập cơ bản và bài tập nâng cao.
- Dựa vào mục đích dạy học: bài tập ôn tập, bài tập luện tập, bài tập kiểm tra.
- Dựa vào hoạt động của HS: bài tập lý thuyết và bài tập thực hành.
- Dựa vào cách trả lời: bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận.
- Dựa vào mức độ kiến thức: bài tập cơ bản và bài tập nâng cao…
1.1.5.3.Tác dụng của bài tập Hoá học
Bài tập Hóa học giữ một vai trò quan trọng trong quá trình dạy học. Hệ thống
bài tập được chọn lọc và xây dựng chất lượng nếu được GV khai thác có hiệu quả
thì sẽ phát huy tác dụng rất lớn đối với HS. Người GV sử dụng hệ thống bài tập hợp
lí không những nâng cao quá trình lĩnh hội kiến thức của HS mà còn tạo hứng thú
cho HS trong giờ học.
Bài tập Hóa học có những tác dụng trí dục và đức dục to lớn sau đây:
1.Thông qua BTHH HS tiếp thu được kiến thức bài mới.
12
Bài tập trong nghiên cứu bài mới chứa đựng mâu thuẩn giữa cái chưa biết và
cái đã biết, đòi hỏi người học phải dùng kiến thức đã học và bằng những hoạt động
tích cực tìm tòi sáng tạo để giải quyết vấn đề và tiếp thu kiến thức mới.

Thông qua BTHH, đặc biệt là bài tập thực nghiệm rèn luyện được nhiều kĩ
năng cho học sinh như: kĩ năng quan sát, kĩ năng dự đoán, kĩ năng lắp ráp dụng cụ,
kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng nhận biết hóa chất, kĩ năng cân bằng phương trình
hóa học, kĩ năng tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học Ngoài
ra còn rèn luyện được cho HS tính kiên nhẫn, cẩn thận, kĩ năng phân tích, kĩ năng
sống góp phần vào việc giáo dục kĩ năng tổng hợp cho HS.
13
Ví dụ: GV có thể hình thành các kĩ năng trên ở các bài như: dãy điện hóa của
kim loại, ăn mòn kim loại, điều chế kim loại
4. Giúp HS vận dụng Hóa học vào thực tiễn đời sống và sản xuất
Đây là tiêu chí rất quan trọng và cần thiết bỡi lẽ đó là những kiến thức phổ
thông mà sau khi học xong các em cần phải có được.
Ví dụ: Khi học xong bài pin điện hóa các em cần phải biết được điều kiện để
hình thành một pin điện hóa là gì, hoạt động của pin ra sao Từ đó các em có thể
hiểu được sự ăn mòn điện hóa là gì, cách bảo quản các đồ dùng hằng ngày như cửa
sắt, tôn, đồ dùng bằng nhôm như thế nào. Khi đi chiếc xe đạp điện ta phải sạc pin
như thế nào để giữ cho bình sạc lâu hỏng hay khi đi thăm quan các thắng cảnh
thiên nhiên các em hiểu được sự hình thành thạch nhũ trong các hang động, cách
bảo vệ các công trình kiến trúc như thế nào là tốt nhất hay khi đi xem pháo hoa
vào dip đón giao thừa các em hiểu được màu sắc của pháo hoa là do đâu
5. Phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện trí thông minh
Thông qua bài tập hóa học phát triển năng lực nhận thức và rèn luyện trí thông
minh cho HS. Để giải được các bài tập khó đòi hỏi HS phải có cái nhìn tổng thể,
phải biết phân tích đầy đủ, chính xác các hiện tượng, các tình huống xảy ra trong
nội dung bài tập. Một BTHH có thể có rất nhiều cách giải, làm thế nào để chọn ra
cách giải chính xác và ngắn gọn nhất.
Ví dụ 1: (Đề Hóa B-2011) Hỗn hợp X gồm Fe(NO
3
)
2

x 62
= 6,72 (đáp án D)
Ví dụ 2: (Đề Hóa B 2011). Cho m gam bột Cu vào 400 ml dung dịch AgNO
3
0,2M, sau một thời gian phản ứng thu được 7,76 gam hỗn hợp chất rắn X và dung
dịch Y. Lọc tách X, rồi thêm 5,85 gam bột Zn vào Y, sau khi phản ứng xảy ra hoàn
toàn thu được 10,53 gam chất rắn Z. Giá trị của m là
A.3,84 B. 6,40 C. 5,12 D. 5,76
Suy luận:
Trong bài tập này các em phải phân tích được hai cụm từ: “sau một thời gian
phản ứng” “khi phản ứng xảy ra hoàn toàn “ Từ đó các em thấy ngay tổng khối
lượng chất rắn X và chất rắn Z bằng khối lượng Cu, Ag và Zn còn dư.
n
Zn dư
=
2
2,04,0
65
85,5 x

= 0,05
m
Cu
+ m
Ag
+ m
Zndư
= 7,76 + 10,53
m
Cu

O , Al(OH)
3
, NaOH, Al, Zn
a. Có bao nhiêu chất trong dãy bị nhiệt phân?
A. 6 B. 3 C. 4 D. 5
b. Có bao nhiêu chất trong dãy có tính lưỡng tính?
A. 6 B. 3 C. 4 D. 5
c. Có bao nhiêu chất trong dãy vừa tác dụng được với dung dịch HCl, vừa tác
dụng được với dung dịch NaOH?
A. 7 B. 6 C. 8 D. 5
15
1.1.6. Thiết kế và sử dụng BTHH trong dạy bài mới ở trường THPT
1.1.6.1. Một số vấn đề cần lưu ý khi thiết kế BTHH để dạy học bài mới ở trường
THPT
- Bài tập Hóa học phải được xây dựng trên cở sở kiến thức đã học và GV phải
xây dựng đường dẫn đến kiến thức mới.
- Những thông tin đưa ra phải mang một tình huống để HS phải suy nghĩ, hạn
chế đưa ra những bài tập quá đơn giản có tính nhắc lại hoặc xem sách để trả lời.
- Bài tập Hóa học ở đây có thể là bài trắc nghiệm khách quan hay tự luận: Câu
hỏi trả lời, bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thực nghiệm, bài tập thực
tiễn
- Bài tập thực nghiệm cần phải có đầy đủ dụng cụ hóa chất cần thiết để HS
tiến hành không nên đưa ra dưới dạng lí thuyết.
- Bài tập định lượng thì các dữ kiện phải rõ ràng các con số phải dễ tính nhẩm.
- Bài hình thành khái niệm mới như “chương đại cương về kim loại” dạng bài
này kiến thức mới và khó hiểu do đó bài tập thường dùng là bài tập thực nghiệm
như một công cụ để tìm kiến thức mới kết hợp với bài tập định lượng đơn giản để
rút ra công thức tính toán, ngoài ra còn dùng các câu hỏi bằng lời mang tính suy
luận logic giúp chúng ta giải thích các hiện tượng xảy ra.
- Bài học về chất cụ thể “chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm”

khó hơn còn lớp yếu thì bài tập dễ hơn.
1.2. Cở sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng dạy học Hóa học ở trường THPT hiện nay
Thời gian gần đây, chúng ta tốn không ít thời gian và kinh phí trong việc đổi
mới phương pháp dạy học. Song thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học thực
hiện ở mỗi địa phương, do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, thực trạng
dạy học nói chung và dạy học hoá học nói riêng còn nhiều hạn chế, chất lượng
chưa đều.
- Đối với các môn học thực nghiệm như môn hóa thì việc đổi mới phương
pháp dạy học là thực sự cần thiết. Tuy nhiên, phương pháp GV đang sử dụng còn
nặng về thuyết trình, hoạt động của HS còn thụ động, ít hoạt động tư duy, chủ yếu
là nghe giảng, ghi bài.
- Trong các giờ thực hành hóa với số lượng HS đông, không ít trường có
phòng thực hành rất nhỏ nên chất lượng giờ thực hành chưa cao. Có HS tâm sự là
17
học cả học kỳ nhưng chưa biết phòng thực hành ở đâu, chưa nhìn thấy GV biểu diễn
TN bao giờ.
- Trong giờ học, HS ít vận động tư duy dẫn đến HS thường chỉ chú ý tới việc
tiếp thu rồi tái hiện lại những điều GV giảng hoặc đã viết sẵn trong sách giáo khoa
nên có thể trả lời đúng các câu hỏi ở mức độ thấp nhất là những câu hỏi ở mức độ
biết, trong khi đó lại lúng túng ở những câu hỏi ở mức độ cao hơn như những câu
hỏi yêu cầu hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá.
- Số học sinh trong một lớp quá đông (khoảng trên dưới 50 HS thậm chí
các trường tư thục còn cao hơn nhiều) trong khi mô hình đổi mới thì khoảng 30
đến 35 học sinh. Cơ sở vật chất ở một số trường chưa đáp ứng cả về số lượng và
chất lượng.
- Một số không ít bộ phận học sinh còn chưa có ý thức chủ động tìm hiểu bài
học trước khi đến lớp. Một số không ít trường hợp học sinh mất kiến thức cơ bản ở
cấp dưới nên rất khó khăn trong việc chủ động khai thác và nắm bắt thông tin từ
sách giáo khoa hoặc bài thí nghiệm biểu diễn…

- Đối với các dạng bài học sau khi HS đã được học lý thuyết chủ đạo như bài
học về chất GV thường sử dụng phương pháp vấn đáp, tái hiện, rất ít GV sử dụng
hệ thống bài tập để tạo ra được tình huống có vấn đề, chưa tạo được nhu cầu nhận
thức, động cơ, hứng thú hập tập của HS.
- Bài tập hóa học được GV sử dụng nhiều đối với các dạng bài ôn tập củng cố
tuy nhiên củng chỉ ở mức độ sử dụng các bài tập có sẵn trong SGK nên vẫn chưa
đem lại hiệu quả cao đối với từng đối tượng HS. Đối với HS yếu thì việc giải hết
các bài tập SGK rất khó khăn còn đối với HS giỏi thì hệ thống bài tập này chưa đáp
ứng đủ nhu cầu cho các em
- Đối với các bài thực hành đa số GV rất ngại bởi lẽ rất ít trường có gáo viên
phòng thí nghiệm chuẩn bị hóa chất dụng cụ Phòng TN chật mà lớp đông. Hầu hết
GV củng chỉ cho HS làm các TN đơn giản theo SGK, rất ít GV ra thêm các bài tập
thực tế như một bài tập nhận biết nhỏ chẳn hạn.
- Bài tập Hóa học để dạy bài mới theo phương pháp hoạt động nhóm củng
đang được vận dụng nhưng chỉ ở một bọ phận GV hoặc một số tiết dạy mẫu như
sinh hoạt cụm, hội giảng
- Hiện nay, GV có sử dụng phiếu học tập để dạy trong các tiết ôn tập, luyện
tập, theo hình thức hoạt động nhóm nhưng do điều kiện (lớp học quá đông, phòng
19
học nhỏ ) nên chỉ hai em ngồi cạnh nhau hợp thành nhóm. Còn trong tiết dạy bài
mới thì rất ít sử dụng.
- Theo đa số GV, nếu sử dụng được hệ thống bài tập chất lượng cao trong dạy
học bài mới thì chất lượng giờ dạy củng như không khí học tập sẽ cải thiện hơn nhiều.
- Thật ra việc đầu tư hệ thống bài tập để sử dụng trong dạy học bài mới tốn
nhiều thời gian và công sức, thậm chí các bài tập thực nghiệm rất độc hại mà tiền
độc hại cho GV lại không có, đồng lương quá ít so với nhu cầu thực tế, nhất là trong
giai đoạn hiện nay nên không mấy GV mặn mà trong việc đầu tư chuyên môn. Việc
thay đổi chương trình ở SGK làm cho một bộ phận GV đặc biệt là GV lớn tuổi gặp
nhiều khó khăn về kiến thức mới, phương pháp mới trong khi họ củng chỉ dạy vài
năm nữa thôi. Theo chúng tôi một yếu tố rất quan trọng nữa là một bộ phận không ít

tập sao cho phù hợp với các đối tượng HS. Để hình thành một khái niệm mới có thể
sử dụng bài tập thực nghiệm, bài tập định tính.v.v Ví dụ để hình thành các khái
niệm như: “pin điện hóa”, “sự điện phân”, “sự ăn mòn kim loại” có thể dùng bài
tâp thực nghiệm. Thí nghiệm dùng trong trường hợp này chủ yếu là thí nghiệm
nghiên cứu nhằm giúp HS dẫn đến khái niệm mới, kiến thức mới. Khi sử dụng TN
theo phương pháp nghiên cứu cần hướng dẫn HS quan sát và gợi ý để HS tự rút ra
được kiến thức mới. Cần khai thác triệt để các hiện tượng quan sát được trong TN
để khắc sâu kiến thức cho HS.
Ví dụ 1: Để hình thành khái niệm đồng vị, GV có thể sử dụng bài tập sau:
Cho các nguyên tử sau với số electron, proton, nơtron tương ứng lần lượt là:
H (Hiđro): 1; 1; 0.
D (Đơtơri): 1; 1; 1
T (Triti): 1; 1; 2
a. Hãy viết kí hiệu nguyên tử và so sánh số proton, nơtron và số khối của 3
nguyên tử trên?
b. H, D, T là 3 đồng vị của nguyên tử hiđro. Vậy đồng vị là gì?
Ví dụ 2: Để hình thành khái niệm về sự điện phân GV có thể dùng bài tập sau:
21
GV cho HS xem phim TN điện phân nóng chảy hoặc điện phân dung dịch NaCl.
a. Quan sát hiện tượng xảy ra ở các điện cực và viết các bán phản ứng xảy ra ở
các điện cực đó.
b. Quá trình xảy ra như trên gọi là quá trình điện phân hay sự điện phân. Vậy
sự điện phân là gì? ( phản ứng điện phân thuộc loại phản ứng gì? xảy ra ở đâu? điều
kiện xảy ra phản ứng điện phân là gì?)
2.1.2. Sử dụng BTHH trong dạy học nhằm hình thành kiến thức mới.
Để HS tự phát hiện được kiến thức mới là điều rất quan trọng trong dạy học.
Tùy theo nội dung khái niệm được hình thành mà GV có thể chọn các đường dẫn
khác nhau. Đối với bộ môn thực nghiệm như môn hóa nếu dùng thí nghiệm nghiên
cứu hình thành kiến thức mới hay khái niệm mới thì kiến thức được khắc sâu hơn,
độ bền kiến thức củng tốt hơn. Xây dựng các giả thuyết cho việc nghiên cứu có tác

- Câu (d) khẳng định lại kiến thức phần bảo toàn khối lượng.
22
Ví dụ 2: Khi biểu diễn TN điện phân dung dịch NaCl GV có thể sử dụng hệ
thống câu hỏi sau để hình thành kiến thức về thứ tự điện phân
a. Tại sao cần lọc dung dịch muối trước khi điện phân? (HS hiểu ý nghĩa của
giai đoạn tinh chế muối ăn)
b. Tại sao cần dùng ống nghiệm hình chữ U làm bình điện phân? (HS hiểu rõ
tác dụng của cái màng ngăn)
c. Có thể dùng chất gì để nhận biết sản phẩm của sự điện phân thoát ra ở anot
và catot? (HS hiểu rõ sản phẩm tạo thành)
d. Viết phản ứng điện phân nóng chảy và điện phân dung dịch NaCl. Giải
thích vì sao có sự khác nhau về sản phẩm tạo thành trong hai trường hợp trên? (HS
hiểu rõ thứ tự điện phân ở các điện cực)
2.1.3. Sử dụng BTHH trong dạy học nhằm xây dựng công thức mới.
Có thể sử dụng BTHH trong dạy học để hình thành công thức mới cho HS như
công thức tính toán trong hóa vô cơ hoặc công thức cấu tạo của hợp chất hữu cơ
Bài tập chủ yếu được sử dụng trong trường hợp này là bài tập định lượng hoặc bài
tập thực nghiệm. Khi xây dựng bài tập định lượng cần đảm bảo các yếu tố sau:
- Nội dung ngắn gọn, đơn giản.
- Số liệu đơn giản, dễ nhẩm, đẹp.
- Đảm bảo tính chính xác, khoa học.
Ví dụ 1: Để xây dựng công thức tính số mol OH
-
theo số mol kết tủa Al(OH)
3
ta có thể sử dụng bài tập định lượng sau:
Nhỏ từ từ V mL dung dịch NaOH 1M vào cốc đựng 100 mL dung dịch AlCl
3
1M. a. Tính khối lượng kết tủa thu được (nếu có) trong các trường hợp sau:
+ TH1: V = 300 mL + TH2: V = 400 mL

- n

Ví dụ 2: Để hình thành công thức cấu tạo của glucozơ ta có thể dùng bài tập
thực nghiệm :
a. Em hãy làm các TN sau:
- TN1: Cho glucozơ tác dụng với dung dịch Cu(OH)
2
.
- TN2: Cho glucozơ tác dụng với dung dịch AgNO
3
/NH
3
, đun nhẹ.
Hiện tượng xảy ra ở 2 TN trên cho phép em có kết luận gì về cấu tạo của glucozơ?
b. Người ta tiến hành thêm một số TN và có kết quả như sau:
- TN3: Glucozơ tác dụng với anhiđrit axetic [CH
3
CO)
2
O] tạo este 5 chức.
- TN4: Khử hoàn toàn glucozơ thì thu được hexan.
Từ 4 TN trên em hãy đề nghị cách viết công thức cấu tạo mạch hở của glucozơ?
2.1.4. Sử dụng BTHH trong dạy học phần cấu tạo và tính chất vật lý
Ví dụ 1: Để dạy học phần vị trí, cấu tạo của kim loại kiềm GV có thể sử dụng
bài tập:
Cho bảng dữ liệu sau:
Nguyên tố: Li Na K Rb Cs Al
Số điện điện tích hạt nhân: 3 11 …. …. ….
Cấu hình electron: [He]2s
1

C. Crom là kim loại khó nóng chảy ( t
0
nc

= 1890
0
C)
D. Crom thuộc kim loại nặng (d = 7,2 g/cm
3
)
2.1.5. Sử dụng BTHH trong dạy học phần ứng dụng
Ví dụ: Để HS hiểu được ứng dụng của kim loại kiềm GV có thể sử dụng bài
tập sau:
a. Dựa vào SGK em hãy cho biết kim loại kiềm có những ứng dụng nào? Giải
thích vì sao kim loại kiềm lại có các ứng dụng đó?
b. Giải thích việc dùng Na
2
O
2
làm chất cung cấp O
2
và hấp thụ khí CO
2
cho các
thủy thủ trong tàu ngầm? Viết PTHH liên quan.
2.1.6. Sử dụng BTHH trong dạy học phần điều chế
Ví dụ: Để dạy học phần điều chế kim loại kiềm GV có thể sử dụng bài tập sau:
a. Trong các phương pháp điều chế kim loại đã học thì phương pháp nào có thể
dùng để điều chế kim loại kiềm? Vì sao?
b. Trong công nghiệp, Na được điều chế bằng phương pháp điện phân nóng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status