tình hình chăn nuôi và tiêm phòng bệnh trên heo, gà, vịt ở huyện cờ đỏ, thành phố cần thơ từ năm 2010 đến năm 2013 - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

HỒ VĂN KHANH

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ TIÊM PHÒNG BỆNH
TRÊN HEO, GÀ, VỊT Ở HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH
PHỐ CẦN THƠ TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2013

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y Cần Thơ, 2014

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG


huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ từ năm 2010 đến năm 2013”; do sinh
viên Hồ Văn Khanh thực hiện từ tháng 02/2014 đến tháng 05/ 2014. Cần Thơ, ngày tháng năm 2014 Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Duyệt Bộ môn Duyệt Giáo viên hướng dẫn Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
ii LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin dâng lời cám ơn đến cha mẹ và gia đình, những người đã trải
qua biết bao khó khăn và gian khổ để nuôi tôi khôn lớn như ngày hôm nay, lòng
biết ơn sâu sắc.
Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy Cô Bộ Môn Thú Y Khoa Nông Nghiệp
và Sinh Học Ứng Dụng trường Đại Học Cần Thơ những người đã truyền đạt nhiều
kiến thức quí báu cho tôi trong suốt thời gian học tại trường.
Tôi xin gửi lời cám ơn đến cố vấn học tập cô Nguyễn Thu Tâm, người đã có
nhiều chỉ dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến trạm thú y huyện Cờ Đỏ đã có nhiều giúp đỡ
để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Cám ơn tất cả người thân, bạn bè trong cùng khóa học đã động viên giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập.
iii


2.2.7 Phòng và điều trị bệnh 21
2.3 Bệnh cúm gia cầm 22
2.3.1Tình hình bệnh cúm gia cầm trên thế giới và trong nước 23
2.3.2 Virus gây bệnh cúm gia cầm 25
2.3.3 Cơ chế sinh bệnh 26
2.3.4 Triệu chứng và bệnh tích 27
2.3.5 Chẩn đoán 29
2.3.6 Phòng bệnh cúm gia cầm 29
CHƯƠNG III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
3.2 Đối tượng nghiên cứu 31
3.3 Nội dung nghiên cứu 31
3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.4 Chỉ tiêu theo dõi 31
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ 32
4.2 Tình hình chăn nuôi của huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ từ năm 2010
đến năm 2013 32
4.3 Tình hình phòng bệnh trên heo ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ từ
năm 2010 đến năm 2013 34
4.4 Tình hình tiêm phòng bệnh trên gà, vịt ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần
Thơ từ năm 2010 đến năm 2013 36
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

DANH SÁCH BẢNG

Trang
Bảng 1 Tổng hợp tình hình dịch bệnh lỡ mồm long móng ở Việt Nam từ năm
1999 đến năm 2009 15
Bảng 2 Tổng đàn heo, gà, vịt của huyện Cờ Đỏ từ 2010 – 2013. 33
Bảng 3 Tỉ lệ tiêm phòng bệnh tai xanh, lỡ mồm long móng của huyện Cờ Đỏ
từ năm 2010 – 2013. 35
Bảng 4 Tỉ lệ tiêm phòng bệnh cúm gia cầm trên gà, vịt ở huyện Cờ Đỏ từ năm 2010
– 2013 37

DANH SÁCH SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1 Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của virus PRRS 7
Sơ đồ 2 Cơ chế sinh bệnh của virus LMLM 18

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 So sánh tỉ lệ tiêm phòng bệnh tai xanh và lỡ mồm long móng ở heo của
huyện Cờ Đỏ từ 2010 đến năm 2013 36
Biểu đồ 2 So sánh tỉ lệ tiêm phòng cúm gia cầm ở gà và vịt của huyện Cờ Đỏ từ
năm 2010 đến năm 2013 38

vii TÓM LƯỢC

Bằng phương pháp điều tra hồi cứu số liệu lưu trữ của trạm thú y Cờ Đỏ về

Tỉ lệ tiêm phòng vaccine ở từng vùng, từng địa phương còn phụ thuộc vào đặc
điểm chăn nuôi là trang trại tập trung hay hộ nông dân nhỏ lẻ; ý thức của người
chăn nuôi trong việc phòng bệnh; lực lượng thú y, sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo
thú y địa phương. Do đó tỉ lệ tiêm phòng ở từng địa phương thường khác nhau và
khó có thể đạt tuyệt đối.
Để tìm hiểu về tình hình tiêm phòng vaccine ở địa phương và được sự hướng
dẫn của thầy cô bộ môn Thú Y tôi thực hiện đề tài: “tình hình chăn nuôi và tiêm
phòng bệnh trên heo, gà, vịt ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ từ năm 2010
đến năm 2013”.

2 CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Bệnh tai xanh trên heo
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (Porcine reproductive and
respiratory syndrome – PRRS) hay còn gọi là bệnh tai xanh là một bệnh truyền
nhiễm trên heo do virus gây ra, có mức độ lây lan nhanh và làm ảnh hưởng trên heo
ở mọi lứa tuổi. Bệnh đầu tiên được phát hiện ở Mỹ vào năm 1987 với các triệu
chứng đường hô hấp ở thể cấp tính. Bệnh gây sẩy thai ở heo chửa, làm cho heo
chậm động dục, tỉ lệ thai chết cao, heo con chết khi sinh, chậm lớn. Đặc biệt bệnh
gây trở ngại hô hấp trầm trọng trên heo con theo mẹ và heo sau cai sữa làm ảnh
hưởng đến số lượng và chất lượng đàn heo giống.
2.1.1Tình hình bệnh tai xanh trên thế giới và trong nước
- Tình hình dịch bệnh trên thế giới
Bệnh được phát hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ năm 1987 (Keffaber, 1989; Loula,
1991). Bệnh có tốc độ lây lan nhanh, đã có hơn 300 ổ dịch được ghi nhận tại Cộng
Hòa Liên Bang Đức vào 1992. Sau đó hội chứng tương tự cũng xuất hiện ở nhiều
nước chăn nuôi heo có quy mô công nghiệp như Canada (1987); các nước vùng

nhiều địa phương, làm tổn thất lớn cho nghành chăn nuôi thật sự bắt đầu từ tháng
3/2007 cụ thể.
+ Đợt dịch thứ nhất: bắt đầu ngày 12/03/2007 lần đầu tiên dịch tai xanh xuất
hiện tại nước ta trên đàn heo tại Hải Dương; sau đó lây lan nhanh và phát triển tại
146 xã, phường thuộc 25 huyện, thị xã của 9 tỉnh là: Hải Dương, Hưng Yên, Quảng
Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Nam Định, Hải Phòng. Số heo
mắc bệnh là 31.928 con, số con chết và xử lý là 7.464 con.
+ Đợt dịch thứ hai: ngày 25/06/2007 dịch bắt đầu xuất hiện tại tỉnh Quảng
Nam, sau đó dịch lây ra diện rộng: 178 xã, phường của 40 huyện, thị xã thuộc 14
tỉnh, thành phố: Cà Mau, Long An, Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế, Quảng Trị, Lạng
Sơn, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương…Tổng số heo bệnh là 57.017 con, số con chết
và xử lý là 11.753 con.
+ Năm 2008: tính từ ngày 20/03/2008 dịch khi xuất hiện ở nhiều xã thuộc tỉnh
Hà Tĩnh. Khi dịch đã xuất hiện Ở 949 xã, phường của 99 huyện, thị xã thuộc 28
tỉnh: Bạc Liêu, Lâm Đồng, Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, Hà Tĩnh, Nghệ An,
Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên… Tổng số heo mắc
bệnh là 298.095 con, số con chết và xử lý là 286.351 con.
+ Năm 2009 dịch xuất hiện xảy ra tại 69 xã, phường của 26 huyện, quận thuộc
13 tỉnh thành có dịch : Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Quảng Nam, Gia Lai,
Bạc Liêu, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk… Tổng số heo mắc bệnh là 7.030, số con
chết và tiêu hủy là 5.847 con (Cục Thú Y, 2010).
+ Năm 2010 đợt dịch đầu tiên đã xảy ra từ 23/03/2010 tại Hải Dương và lan
rộng sang các tỉnh miền Bắc. Đến hết tháng 6 năm 2010, cả nước có 461 xã, phường
của 71 huyện, quận thuộc 16 tỉnh có dịch gồm Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng,

4

Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Nan Định, Hà
Nam, Nghệ An, Quảng Bình, Hòa Bình, Cao Bằng, Sơn La. Tổng số heo mắc bệnh
là 146.051 con, số heo chết và tiêu hủy là 65.911 con (Cục Thú Y, 2010).

gây bệnh nhưng có thể duy trì ở nồng độ gây nhiễm thấp ít nhất trong 30 ngày. Ở
nhiệt độ 20 - 21
o
C virus trữ độc lực trong 1-6 ngày, ở 37
o
C trong 24 giờ, ở 56
o
C
trong 24 phút. Virus hoạt động tốt ở pH 6-7,5 (Bloemraad và cs, 1994; Benfield và
cs, 1992). Virus đề kháng kém ở pH<6 hoặc pH>7,5. Virus bị bất hoạt khi xử lý
bằng các dung môi hòa tan lipid như chloroform và ether. Ngoài ra, virus cũng bị vô
hoạt bởi các thuốc sát trùng ở nồng độ thấp. Virus PRRS không có đặc tính ngưng
kết hồng cầu.
- Đặc tính nuôi cấy
Một số nhà phân lập virus PRRS tại Bắc Mỹ đã nhận thấy virus PRRS phát
hiện trong những đại thực bào phế nang và tế bào CL-2621 (Bautisa và cs, 1993;
Goyal, 1993). Tại Châu Âu, hầu hết các chủng được phân lập đều phát triển tốt
trong đại thực bào phế nang (Benfeild, 1998). Các mẫu tổ chức học và các mẫu dịch

5

thể dùng để phân lập virus như: huyết thanh và dịch rửa phổi, dịch rửa phế nang,
hạch lympo, hạch hạnh nhân (Nelsson và cs, 1993).
2.1.3 Miễn dịch học
Kháng thể kháng virus PRRS trong huyết thanh heo bị nhiễm được tìm thấy từ
7-14 ngày sau khi bị nhiễm virus và kháng thể đạt mức cao nhất sau 30-50 ngày và
sau đó giảm dần và có thể không phát hiện được sau khi được nhiễm 4-6 tháng.
Sự đáp ứng kháng thể được phát hiện bằng sự xuất hiện của kháng thể IgM
sau 7 ngày và IgG sau 14 ngày kể từ khi nhiễm virus (Vezina và cs, 1996).
Kháng thể đạt mức cao nhất ở 5-6 tuần sau khi nhiễm bệnh. Kháng thể trung

Khi có bệnh xảy ra số heo mắc bệnh gia tăng nhanh chóng, sự lây lan trong
đàn heo chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp, sau 2-3 tháng có đến 95% heo trong đàn có
đáp ứng kháng thể. Thời gian kháng thể duy trì trong cơ thể heo nái và heo đực
chưa được nghiên cứu kỹ nhưng hầu hết các thí nghiệm cho thấy thời gian miễn
dịch tương đối ngắn.
Virus tồn tại lâu dài trong tổ chức cơ thể dẫn đến heo bị mang trùng lâu dài.
Đặc biệt virus tồn tại lâu trong các mô lâm ba và hạch hạnh nhân có thể đến 157
ngày, do đó sự lây truyền bệnh diễn ra liên tục từ những heo mang trùng sang
những heo mẫn cảm (Hồ Thị Việt Thu, 2012).
2.1.5 Cơ chế sinh bệnh
Sau khi xâm nhập vào cơ thể (qua đường mũi, miệng, sinh dục, vết cắn hay
tiêm chích,… ) virus nhân lên trong các đại thực bào của niêm mạc, phế nang và
một số vùng trong cơ thể và vào máu gây nhiễm trùng huyết khoảng 12 giờ sau khi
nhiễm virus (Rossow và cs, 1995). Kháng nguyên virus PRRS được tìm thấy trong
đại thực bào của niêm mạc mũi, phổi và hạch lâm ba (Rossow, 1996). Sau đó virus
lan ra toàn thân nhưng phát triển chủ yếu trong các tế bào đơn nhân, các hạch lâm
ba, đại thực bào ở các mô. Biến đổi bệnh lý tùy thuộc vào chủng virus, tuổi, sức đề
kháng của heo, sự nhiễm trùng kế phát các yếu tố gây tress của môi trường.
Bệnh thường xảy ra trên heo nái mang thai ở 1/3 giai đoạn cuối, với triệu
chứng đặc trưng là xảy thai hoặc đẻ non. Ngoài ra bệnh còn làm cho tỷ lệ chết cao ở
heo con sơ sinh. Heo hậu bị, nái chưa phối hoặc heo nọc có thể sốt, ăn ít, giảm dục
tính, tinh dịch bị biến đổi và có thể tìm thấy virus trong tinh dịch (Hồ Thị Việt Thu,
2012).

7

- Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của virus PRRS

Virus PRRS
Lây lan trực tiếp qua tiêu hóa, gieo tinh và hô hấp

Những triệu chứng điển hình có thể quan sát được là heo nái và hậu bị có thể
bỏ ăn, lười uống nước có thể sốt (39
o
C-41
o
C) và mệt lã trong vòng 1 đến 7 ngày,
heo nái mất sữa, sẩy thai vào giai đoạn cuối, tai, âm hộ, vùng mõm có màu tím tái
(thường thấy trong trường hợp nhiễm với các chủng Châu Âu), đẻ non động dục
không bình thường, ho và viêm phổi nặng.
Với các bệnh ở thể cấp tính gây sẩy thai 1-3% tổng số nái trong đàn, bệnh
thường xảy ra trong thời gian mang thai 21-109 ngày (Hopper và cs, 1992; White,
1992). Tỷ lệ giảm, heo không động dục trở lại và khó đậu thai. 8

+ Ở heo con theo mẹ
Heo con sinh ra thể trạng gầy yếu, nhanh chóng rơi vào trạng thái hạ đường
huyết do không bú được, yếu ớt, kém phát triển, chân bẹt run cơ, viêm kết mạc mắt,
mí mắt ứ nước, sốt cao, ho, thở nhanh, thở khó, gầy ốm tiêu chảy có triệu chứng
thần kinh, có thể có những vết thâm tím xuất huyết.
Hầu như heo con sinh ra chết sau vài giờ, một số heo con sơ sinh có thể sống
đến tuần thứ nhất, một số sống đến cai sữa thường chúng có triệu chứng khó thở và
tiêu chảy, tỷ lệ chết từ 10-40% và có thể lên đến 80%.
+ Ở heo cai sữa và heo lứa
Heo từ 3-10 tuần tuổi trở lên có triệu chứng thay đổi. Heo có thể sốt, chán ăn
chậm lớn, viêm phổi thở nhanh thở khó. Thường thấy xuất huyết dưới da, tai thường
tím tái. Nếu có sự kế phát của vi khuẩn khác thì tỷ lệ chết cao.
+ Ở heo nọc
Heo nọc thường sốt trong thời gian ngắn, bỏ ăn, hôn mê và có biểu hiện hô

Dựa vào lịch sử bệnh, dịch tễ, triệu chứng lâm sàng (hô hấp và sinh sản) và
bệnh tích đại thể, vi thể. Trong phòng thí nghiệm có thể chẩn đoán bệnh bằng các
phương pháp ELISA và RT-PCR cho độ chính xác cao.
- Chẩn đoán lâm sàng
Có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng và chia thành hai loại triệu chứng chính.
Triệu chứng rối loạn sinh sản: trong giai đoạn đầu của bệnh có thể thấy hiện
tượng sẩy thai ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai, đẻ non và có các thai yếu, thai
chết lưu, đồng thời thai gỗ, heo con sinh ra yếu chết trước khi cai sữa.
Triệu chứng đường hô hấp: thường thấy viêm phổi ở heo con và heo vỗ béo.
- Chẩn đoán virus học
Để thực hiện các phản ứng chẩn đoán virus học, quá trình chọn và lấy mẫu là
bước đầu tiên quan trọng quyết định kết quả. Mẫu bệnh phẩm thường là huyết
thanh, huyết tương, phổi, hạch phổi, dịch rửa phổi, hạch hạnh nhân, hạch lâm ba.
Virus được tìm thấy trong huyết thanh trong vòng 4-6 tuần ở heo con theo mẹ,
heo cai sữa và heo lứa sau khi nhiễm bệnh (Mengeling và cs, 1996), từ 1-2 tuần ở
heo nọc và heo lứa (Mengeling và cs, 1996). Để kết quả phân lập chính xác khâu
chọn mẫu và bảo quản mẫu rất quan trọng. Virus PRRS dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ
môi trường, có khả năng tồn tại lâu ở nhiệt độ lạnh (Benfield và cs, 1992; Van
Alistine và cs, 1993). Do đó mẫu cần phải bảo quản lạnh, tránh để mẫu ở nhiệt cao.
Một số kỹ thuật dùng để xác định kháng nguyên virus PRRS có thể tìm thấy
bằng các phản ứng huyết thanh học bao gồm các phản ứng miễn dịch huỳnh quang
gián tiếp (Indirect fluorescent antibody-IFA) (Yoon và cs, 1992; Lager, Ackrmann
và cs, 1994), phương pháp phân lập virus (Virus Isolasion-VI), phản ứng PCR
(polymerase chain reaction) (Benfield và cs, 1992).
10

- Chẩn đoán huyết thanh học

Thực hiện tiêm phòng vaccine đầy đủ.
Hiện nay có 5 loại vaccine phòng bệnh PRRS được sử dụng ở nước ta.

11

Porcilis PRRS của Intervet- Hà Lan.
BSL-PS 100 của Besta - Singapore.
Amervac PRRS của Hipra - Tây Ban Nha.
JAX1-R- Trung Quốc.
Ingelvac PRRS của Boehringer (Đức).
Quy trình tiêm phòng cho heo:
Heo cai sữa: từ 3-6 tuần tuổi.
Heo nái hậu bị: 18 tuần tuổi, sau 3-4 tuần lặp lại.
Heo nái chửa: tiêm phòng lúc 60-70 ngày của thời kỳ mang thai.
Heo nọc: tiêm phòng lúc 18 tuần tuổi, lặp lại sau 6 tháng.
Tiêm phòng vaccine sẽ có miễn dịch sau một tuần và kéo dài 6 tháng.
- Điều trị bệnh
Không có thuốc đặc hiệu để điều trị bệnh. Chủ yếu là dùng các kháng sinh để
điều trị hoặc phòng các vi khuẩn kế phát như penicillin, ampicillin, terramycin,
enrofloxacin, tulathromycin, sulfamide….
Tiêm urotropine, các thuốc hạ sốt, thuốc trợ hô hấp, thuốc bồi dưỡng.
Các thuốc trị cúm trên người như amatadine, tamiflu cho thấy có hiệu quả
trong điều trị thực nghiệm (Hồ Thị Việt Thu, 2012).
2.2 Bệnh lỡ mồm long móng (LMLM)
Bệnh LMLM là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm cho các loài động
vật móng guốc, do virus thuộc họ Picornaviridae gây nên. Bệnh có đặc điểm sốt,
nổi mụn nước ở niêm mạc miệng, vành móng, kẽ móng và trên đầu vú, bầu vú con
cái (Nguyễn Tiến Dũng, 2000).
2.2.1 Tình hình bệnh LMLM trên thế giới và trong nước
- Tình hình bệnh lở mồm long móng trên thế giới

này đã có cố gắng đáng ghi nhận trong công tác phòng chống dịch bệnh LMLM.
Thái Lan tuy chưa thanh toán được bệnh LMLM nhưng đã có 7 trên 9 vùng kinh tế
sạch đã sạch bệnh và ở 7 vùng này vẫn xuất khẩu động vật, sản phẩm động vật và
các nông sản đi nhiều nước trên thế giới với một số lượng lớn. Indonesia đã thanh
toán được bệnh này từ 1983, Philippines đã được OIE công nhận an toàn ở vùng
Mindanao, Visay và Luzon (Thái Thị Thủy Phượng, 2000).
Tháng 10 năm 2000 ở Campuchia, Bộ trưởng các nước Đông Nam Á đã phê
duyệt kế hoạch phòng chống bệnh LMLM khu vực giai đoạn 2001-2004. Trong đó,
Indonesia tuy đã thanh toán được bệnh nhưng cũng đã gia nhập trở lại từ 1999 vì sợ
nguy cơ mắc bệnh. Như vậy kế hoạch phòng chống bệnh LMLM trong khu vực có 8
nước: Lào, Campuchia, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Myanmar, Indonesia, Việt
Nam (Bùi Quang Anh, 2003).
13

- Tình hình bệnh LMLM ở Việt Nam
Theo chương trình khống chế và thanh toán bệnh LMLM giai đoạn 2006-2010
của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.
Bệnh LMLM đã xuất hiện ở Việt Nam hơn một thế kỷ. Năm 1898, bệnh
LMLM được phát hiện đầu tiên ở Nha Trang và nhanh chống lan rộng ra cả ba
miền: Bắc, Trung, Nam, theo báo cáo của Cục thú y (2002) trong 2 năm 1921-1922
ở các tỉnh phía Bắc có đến 690 ổ dịch, làm 13.018 con trâu, bò và heo bị bệnh, 446
con chết.
Năm 1954, bệnh lại phát ra ở miền Bắc và lây lan khắp cả nước, đến 1960,
nhờ các biện pháp phòng chống dịch triệt để, bệnh này hầu như đã bị tiêu diệt ở một
số tỉnh miền Bắc, tiếp sau đó năm 1969-1970, ở miền Nam dịch bệnh lại xảy ra
nghiêm trọng trên đàn trâu ở khu vực Sài Gòn- Chợ Lớn; từ đó lây ra các tỉnh lân
cận và lây sang các trại công nghiệp ở Nam Bộ. Đến năm 1975, dịch bệnh lại xảy ra

297.808 trâu, bò và 36.530 heo bị bệnh. Đặc biệt lần này dịch phát ra ở các tỉnh
Đồng Bằng Sông Hồng sau gần 40 năm an toàn dịch bệnh, gây ảnh hưởng lớn đến
vùng nguyên liệu xuất khẩu (Cục Thú Y, 2007).
Đặc biệt vào năm 2000, dịch bệnh đã xảy ra trên khắp cả nước, xuất hiện
1.708 ổ dịch ở 60 tỉnh, làm 351.284 con trâu, bò mắc bệnh với tổng số chết là
15.136 con và có đến 42.999 con heo mắc bệnh với số con chết là 14.968 con.
Năm 2001, bệnh LMLM chỉ xảy ra ở 16 tỉnh, thành phố với 3.976 con trâu, bò
mắc bệnh và năm 2002 bệnh LMLM đã xảy ra ở 26 tỉnh, thành với 10.287 con trâu,
bò, mắc bệnh, đến năm 2003 bệnh LMLM xảy ra trên 38 tỉnh, thành, với tổng số
20.303 trâu, bò; 1.178 dê và 3.533 heo mắc bệnh. Các tỉnh có trâu, bò mắc bệnh
nhiều nhất là Quảng Trị, Phú Yên, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Gia Lai, Hà Giang. Đến
tháng 8/2004 dịch xảy ra ở 577 xã phường thuộc 169 huyện, thị của 45 tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương (32 tỉnh có dịch LMLM trâu, bò; 22 tỉnh có dịch ở heo,
và 16 tỉnh có dịch xảy ra ở cả trâu, bò, heo) với tổng số 25.658 trâu, bò; 1.555 heo
và 127 dê mắc bệnh (Cục Thú Y, 2007).
Năm 2005, dịch LMLM đã xảy ra ở 408 xã, phường của 160 quận, huyện
thuộc 38 tỉnh, thành phố với 28.241 con trâu, bò; 3.976 con heo và 81 con dê mắc
bệnh.
Năm 2006, dịch bệnh bùng phát dữ dội với 63 tỉnh, thành xảy ra dịch, tổng số
trâu, bò mắc bệnh là 90.708 con, với 2.913 con chết; số heo mắc bệnh là 37.850, với
số con chết và xử lý là 23.876 con.
Năm 2007, dịch bệnh có chiều hướng giảm, có 36 tỉnh, thành có dịch, có
7.443 con trâu, bò mắc bệnh, với tổng số xử lý là 1.047 con; số heo mắc bệnh là
10.851 con, số heo xử lý là 10.763 con. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
đã chỉ đạo các địa phương thực hiện các biện pháp phòng chống đồng bộ và quyết
liệt như tiêm phòng vaccine tỉ lệ cao, công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết
mổ được kiểm tra chặt chẽ, nên ở những tháng cuối năm 2007 số gia súc mắc bệnh
đã giảm so với cùng kỳ năm trước (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn,
2008).
Năm 2008, dịch LMLM trên trâu, bò xảy ra ở 128 xã của 47 huyện thuộc 14

Số
tỉnh
Số
huyện
Số ổ
dịch
Số mắc
(con)
Số
chết,
xử lý
1999
55
347
1.912
112.597
1.309
52
217
958
22.820
3.270
2000
48
126
1.708
351.284
15.136
51
266

116
28
67
123
3.533
712
2004
32
134
490
25.658
189
22
35
87
1.555
725
2005
26
160
408
28.241
582
25
-
-
3.976
1.024
2006
52

39
2009
5
11
-
1.027
188
-
-
-
-
-
Cục Thú Y, 2002. Cục Thú Y, 2009.

16

2.2.2 Virus gây bệnh LMLM
- Hình thái
Theo Phạm Sỹ Lăng (2006) thì bệnh lây lan do 2 nhóm virus: nhóm
Picornavirus (họ Picornaviridae) và nhóm virus LMLM. Nhóm Picornavirus có 4
giống: Enterovirus, Cardiovirus, Rhinnovirus và Aphthovirus.
Virus LMLM là loại virus nhỏ nhất trong các virus qua lọc, hạt virus gồm
phần trung tâm là acid nucleic chiếm 31%, được bao bọc bởi một capside gồm 60
capsomere, không có vỏ bọc. Dưới kính hiển vi điện tử, virus thường có dạng hình
cầu hay hình dâu, đường kính 20-28nm, gồm 20 mặt đối xứng, 30 cạnh và 10 đỉnh
(Trần Thanh Phong, 1996).
- Cấu trúc
Virus LMLM có cấu trúc di truyền là ARN sợi đơn, nhỏ, đây chính là yếu tố
có vai trò trong gây nhiễm. Tuy nhiên, sợi ARN này không có đặc tính kháng
nguyên và không có tính sinh kháng thể.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status