CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam chiếm hơn 70% dân số nhưng chỉ
chiếm 17% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống tổ chức tín dụng. Kinh tế
thị trường phát triển thì làm cho nông nghiệp, nông thôn và đặc biệt là người nông
dân càng khó có cơ hội tiếp cận với các nguồn tài chính, tín dụng. Việc phân bổ vốn
đầu tư còn mất cân đối và chưa hợp lý, thiếu trọng điểm, trọng tâm còn biểu hiện tình
trạng ban phát, nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp - nông thôn có nhiều
kênh đáp ứng cho nhiều đối tượng, nhưng chưa được phối hợp đồng bộ để đầu tư, sử
dụng có hiệu quả mà còn trong tình trạng dàn trải, chồng chéo do thiếu nguồn vốn giá
rẻ nên lãi suất các khoản cho vay thương mại đối với nông nghiệp - nông thôn ở mức
rất cao (Ngọc Lan 2008, Nông nghiệp thiếu vốn để phát triển)... Đây là một trong
những lý do tại sao tình hình khu vực nông nghiệp Việt Nam chưa có những cải
thiện mạnh mẽ cả về mức sống và trình độ kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân làm cho khu vực nông thôn khó tiếp cận các nguồn tài
chính. Trước hết, do tích lũy của khu vực nông nghiệp rất thấp. Đặc biệt, từ năm
2007 đến nay, tỷ lệ lạm phát càng cao, mức tích lũy của người dân càng thấp trong
khi vốn cần để đầu tư sản xuất ngày càng nhiều. Trong khi đó, không có vốn huy
động thành thị chuyển về cho vay nông thôn mà lại có tình trạng vốn huy động từ địa
bàn nông thôn lại chuyển ra cho vay tại đô thị (Sơn 2009, Kinh tế nông thôn và sứ
mệnh giải cứu).
Giải bài toán về vốn cho thị trường tài chính nông thôn trong bối cảnh Việt Nam
gia nhập WTO là một vấn đề hết sức khó khăn. Việt Nam, cũng như các nước đang
phát triển trên thế giới, phải đối phó với vấn đề thiếu vốn nói chung, đặc biệt thiếu
vốn cho lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nông nghiệp giữ vai trò quan
trọng trong nước ta nhưng trong thời gian qua nông hộ vẫn còn phải đối mặt với vòng
luẩn quẩn nghèo khổ bởi vì thu nhập thấp, nông hộ cần vốn để có thể trang bị kỹ
thuật mới nhưng phần lớn vẫn còn phải áp dụng các phương thức canh tác truyền
thống dẫn đến kết quả là năng suất thấp và thu nhập cũng thấp (Ngọc Lan 2008,
Nông nghiệp thiếu vốn để phát triển)… vì thế cần có biện pháp nhằm cung cấp vốn
1
nông hộ.
2
(2) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng vốn vay trong
hoạt động sản xuất nông nghiệp.
(3) Phân tích hiệu quả sử dụng vốn vay của nông hộ.
(4) Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nguồn vốn và những
biện pháp sử dụng hiệu quả vốn vay cho hoạt động sản xuất của nông hộ.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
• Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn vay của người nông dân?
• Vốn vay đã có tác động như thế nào đến hoạt động sản xuất nông nghiệp?
• Nông hộ vay vốn có sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả không?
• Các giải pháp nào có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho hoạt động sản
xuất của nông hộ?
1.4 Nội dung nghiên cứu
1.4.1 Phân tích và đánh giá mục đích, nhu cầu vay vốn và sử dụng vốn vay của
nông hộ
• Điều tra một số đặc điểm về các thành viên trong hộ bao gồm: tuổi, giới tính,
trình độ học vấn…
• Bằng cách phỏng vấn trực tiếp chủ hộ để tìm hiểu về hoạt động vay vốn của
hộ, xác định nhu cầu vay vốn và mục đích sử dụng các nguồn vốn vay.
• Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá thực trạng hoạt động tiếp
cận vốn cũng như việc sử dụng vốn vay của hộ sản xuất lúa.
• Xác định các vấn đề thuận lợi, khó khăn về tình hình vay vốn của hộ .
1.4.2 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng vốn vay
trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
• Tiến hành thu thập thông tin về hoạt động sử dụng vốn vay của hộ thông qua
việc phỏng vấn trực tiếp từng nông hộ.
• Phân tích cụ thể bằng các phương pháp Logit, Thống kê mô tả để đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ trong hoạt động sản xuất đồng thời xác định
các yếu tố liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn vay.
Năm 2009
Năm
2010
T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12 T1 T2
1 Hoàn chỉnh đề
cương
2 Thu thập số liệu
thứ cấp
3 Thiết kế bản câu
hỏi
4 Thu thập số liệu sơ
cấp
5 Mã hoá, nhập và
phân tích dữ liệu
6 Các phân tích khác
7 Viết bản nháp đầu
tiên
8 Viết bản nháp lần 2
9 Hoàn chỉnh và nộp
báo cáo
1.6 Kết quả mong đợi
• Xác định được nhu cầu vay vốn của nông hộ.
• Đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn vay sản xuất lúa.
• Báo cáo kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin cho các tổ chức tài
chính trong việc đáp ứng vốn vay và đánh giá hiệu quả cho vay sản xuất
nông nghiệp.
1.7 Đối tượng thụ hưởng
Đối tượng thụ hưởng của nghiên cứu gồm:
• Hộ sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng.
• Các tổ chức tài chính, ngân hàng.
chức tín dụng chính thức
Các nghiên cứu ngoài nước
Thanh Hương (2002) nghiên cứu về đề tài Phân tích các hoạt động tài chính
doanh nghiệp chính thức và không chính thức của vùng nông thôn nghèo ở Việt Nam.
Luận văn Thạc sĩ, Dự án Việt Nam – Hà Lan,TP HCM.
Dương và Izumida (2002) nghiên cứu về Những yếu tố quyết định đến sự vay
mượn của hộ trong khu vực chính thức ở nông thôn Việt Nam. Bằng cách sử dụng mô
6
hình Tobit và phương pháp Maximum Likelihood, họ đã khảo sát khối lượng vốn vay
ở nguồn chính thức sẽ bị tác động bởi những biến số độc lập như tổng diện tích, tuổi
của chủ hộ, trình độ học vấn,…Và kết quả là họ tìm thấy rằng có mối quan hệ rất
quan trọng giữa những biến số phụ thuộc.
Bài nghiên cứu của Quách, Mulineux và Murinde (2005) ở trường Đại học
Birmingham. Họ đã áp dụng mô hình hai bước để phân tích ảnh hưởng tín dụng nông
thôn đến hộ nghèo ở Việt Nam. Họ đã tìm hiểu khả năng của quỹ chính thức và phi
chính thức ở xóm làng, tiết kiệm tài chính và phi tài chính, số người trong hộ, diện
tích đất và nếu hộ là hộ nông dân sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp cận tín dụng chính thứ.
7
CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận
2.1.1 Một số khái niệm
Danh từ “Tín dụng” xuất phát từ gốc La tinh “Creditium”, có nghĩa là một sự
tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác là lòng tin.
Theo K. Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ
người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một
lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Theo quan điểm này phạm trù tín dụng có
ba nội dung chủ yếu đó là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời
hạn và tính hoàn trả.
Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay
thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ
những trở ngại cho cả hai bên.
Tín dụng có thể chuyển hoá được: Điều này thể hiện rằng các đơn vị hàng hoá
khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau một cách hoàn hảo. Khi tín dụng được nhận
dưới hình thức tiền tệ thì nó có thuộc tính giống nhau như tiền tệ. Sự tiêu chuẩn hoá
có thể làm cho tiền phục vụ như là một trung gian của sự trao đổi và làm cho những
giao dịch bằng tiền trở nên hiệu quả hơn sự mua bán, đổi chác. Sự chuyển hoá chỉ ra
khó khăn để đánh giá hiệu quả của các chương trình tín dụng.
Tín dụng đổ dồn về phía những hoạt động ưu tiên của người đi vay: Những
nguồn vay nhận được thông qua tín dụng có khuynh hướng chảy về phía các hoạt
động mà người đi vay dành nhiều ưu tiên nhất. Những vấn đề cần thiết của người đi
vay, mà họ đã hình dung ra, vượt qua những điều khoản qui định của các tổ chức cho
vay. Điều này khiến cho sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào thị trường tín dụng
thông qua sắc lệnh quản lý trở nên hiệu quả. Đó cũng là một lý do tương tự làm cho
các tổ chức tài chính chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu tín dụng của nông dân và
không gây được sự ảnh hưởng nào cả.
9
Đòi hỏi sự tin tưởng lẫn nhau: Sự tin tưởng là nhân tố chính yếu cho tài trợ tín
dụng. Nếu không có sự tin tưởng lẫn nhau giữa người vay và người cho vay sẽ làm
gia tăng chi phí giao dịch. Sự tác động càng hữu hiệu giữa người vay cho vay làm gia
tăng niềm tin lẫn nhau hơn, và kết quả sẽ làm giảm tỷ lệ nợ không trả được, giảm chi
phí giao dịch.
Giá giảm đẩy nhu cầu tăng: Giá là lãi suất phải trả. Cũng như những hàng hoá
khác, khi giá giảm thì nhu cầu tín dụng sẽ tăng lên, nhưng nhiều hơn những hàng hoá
khác. Bởi vì tiền có thể chuyển đổi được và có nhiều công dụng hơn những hàng hoá
khác, hậu quả là giá cả tín dụng đã ảnh hưởng rộng hơn trong nền kinh tế.
Tín dụng được các nhà kinh tế công nhận là có vai trò quan trọng trong phát
triển nông nghiệp và nông thôn. Lịch sử phát triển nông nghiệp nông thôn nhiều nước
trên thế giới đã chứng minh vai trò không thể thiếu của yếu tố đầu vào quan trọng
này. Tín dụng là điều kiện cần thiết và là trung gian phân bổ nguồn lực cho phát triển
nông nghiệp và giảm nghèo ở nông thôn. Vai trò của tín dụng có thể tập trung vào
- Các báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, kế
hoạch kinh doanh… Những báo cáo tài chính này phải là của các kỳ gần nhất.
- Phương án sản xuất kinh doanh.
- Các tài liệu liên quan đến tài sản đảm bảo nợ vay.
Phân tích và thẩm định khách hàng để ra quyết định cho vay:
Việc thẩm định hồ sơ trên các mặt sau:
- Kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ pháp lý
- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Tính khả thi và hiệu quả của dự án
- Thẩm định tài sản đảm bảo
Ngân hàng thỏa thuận và ký hợp đồng tín dụng với khách hàng
Khi quyết định cho vay, Ngân hàng cho vay vốn phải ký hợp đồng tín dụng sau
đó ký hợp đồng thế chấp, cầm cố dựa trên các nội dung được thỏa thuận bao gồm:
- Hạn mức tín dụng là số tiền tối đa mà NH có thể cho khách hàng sử dụng
trong một khoảng thời gian nhất định.
11
- Thời hạn tín dụng chu kỳ sản xuất kinh doanh của đơn vị vay vốn là cơ sở để
Ngân hàng xác định thời hạn tín dụng cho khách hàng.
- Lãi suất tín dụng được NH thỏa thuận với khách hàng phù hợp quan hệ cung
cầu vốn trên thị trường và phù hợp với quy định của pháp luật.
Giải ngân
Cách giải ngân có thể thực hiện như sau:
- Phát vay bằng tiền mặt
- Tiền vay được chuyển trả trực tiếp cho đối tác bán hàng cho người đi vay
- Chuyển vào tài khoản tiền gửi của khách hàng
Kiểm tra và xử lý nợ vay
Trong quá trình phát tiền vay CBTD phải kiểm tra giám sát chặt chẽ việc sử
dụng vốn của khách hàng, nếu phát hiện những sai lệch trong quá trình sử dụng vốn,
sử dụng vốn sai mục đích, ngưng ngay việc phát tiền vay và thu hồi nợ trước hạn.
Thu nợ gốc và lãi
- HD đảm bảo tiền vay
- Chữ ký
KHÁCH HÀNG
- Hồ sơ pháp lý
- Hồ sơ kinh tế
- Tài sản thế cháp
- Giấy đề nghị vay vốn
- Phương án vay vốn
NGÂN HÀNG
TỪ CHỐI
NGÂN HÀNG + KHÁCH HÀNG
TRÍCH RỦI RO
RỦI RO
BÁN TÀI SẢN
CƠ CẤU
DẤU HIỆU BẤT THƯỜNG
QUẢN LÝ DANH MỤC HỒ SƠ
GIẢI NGÂN
THU NỢ
Kiểm tra trước
05 ĐK vay
vốn
Kiểm tra
trong khi cho
vay
XỬ LÝ
13
2.1.4 Một số học thuyết về tiếp cận tín dụng
a) Phương pháp tiếp cận thị trường vốn cổ điển ở các nước đang phát
triển
khả năng tín dụng của khách hàng đồng thời giảm chi phí, khả năng đổ vỡ tín dụng
thấp hơn.
Trường phái kinh tế có tổ chức mới chỉ ra rằng: thị trường tài chính nông thôn
thường bị phân đoạn và hoạt động không hoàn hảo. Sự cố gắng của chính phủ trong
mở rộng mạng lưới của tổ chức tài chính, tín dụng nông thôn trong nhiều trường hợp
vẫn không thể bao phủ và đáp ứng hết nhu cầu dịch vụ tài chính, tín dụng đa dạng của
dân chúng ở nông thôn. Họ còn cho rằng hạn chế tín dụng tồn tại ngay cả thị trường
cạnh tranh tự do, chỉ tính riêng cơ chế lãi suất đã không đủ khả năng cân bằng giữa
cung và cầu tín dụng. (Ngân & Ninh, 2005)
c) Phương pháp tiếp cận kìm hãm tài chính
Trường phái này chống lại những luận điểm của trường phái truyền thống.
Trong khi cả hai trường phái đều cho rằng thị trường tín dụng bị “phân đoạn” và
không hoàn hảo, nhưng trường phái này lại cho rằng chính các chính sách của Chính
phủ đã kìm chế sự phát triển của thị trường nhiều hơn là do những thuộc tính cố hữu
của nó gây ra. Những sự bóp méo đặc thù, mà đã hình thành nên những đặc điểm của
thị trường tài chính ở những quốc gia đang phát triển, phần lớn là do sự lôi kéo giá cả
thị trường của Chính phủ. Lãi suất thấp, mà phổ biến là cho vay chính thức, đã phá vỡ
phía cung quỹ cho vay của hệ thống tài chính và xuyên tạc nhu cầu đi vay, hướng
dòng chảy nguồn vốn tín dụng vào những người đi vay lớn và những người có thế lực
chính trị.
Lý thuyết trường phái này đề cập đến cả hai phía: phía cung quỹ tiết kiệm và
phía cầu quỹ tín dụng của thị trường. Về phía cung, sở dĩ các cá nhân tiết kiệm và cho
vay là do những “phần thưởng” nhận được từ việc nắm giữ những tài sản tài chính
này, những điều kiện rủi ro là tỷ lệ lạm phát..., do đó lãi suất thực cao và giá cả ổn
định được xem như là phương tiện kêu gọi tiết kiệm. Tín dụng rẻ, ngược lại, làm cản
trở sự phát triển của những tổ chức tài chính chính thức bởi vì lãi suất trần khiến cho
15
các ngân hàng không thể tham gia tăng nguồn vốn của họ thông qua huy động các
nguồn vốn tiết kiệm. Họ phụ thuộc khá nhiều vào nguồn quỹ có thể cho vay thông
qua cửa sổ tái chiết khấu của ngân hàng trung ương. Như thế, họ gần giống nhau như
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp tiếp cận
- Tham khảo các số liệu thứ cấp
- Phỏng vấn trực tiếp các hộ trồng lúa ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ
- Mô tả, phân tích, so sánh
2.2.2 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu của đề tài là 4 xã thuộc huyện Cờ Đỏ - Thành phố Cần
Thơ. Lý do chọn các khu vực này vì nơi đây tập trung tương đối nhiều nông hộ sản
xuất lúa, mang tính đại diện cao nhằm tiết kiệm thời gian trong quá trình khảo sát và
thu thập dữ liệu.
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
• Thu thập số liệu thứ cấp từ: Cục thống kê, Sở (Phòng) Nông nghiệp, các Ngân
hàng trong huyện và các bài báo, tạp chí.
• Thu thập số liệu sơ cấp: tiến hành phỏng vấn trực tiếp 200 hộ sản xuất nông
nghiệp trong đó 100 hộ có vay vốn và 100 hộ không có vay vốn.
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu:
a. Phương pháp thống kê mô tả (mục tiêu 1)
Để mô tả và thống kê các số liệu về mục đích vay vốn, nhu cầu vay vốn và
việc sử dụng vốn vay của nông hộ như thế nào từ đó lập bảng phân phối tần số. Kết
quả được trình bày trên biểu bảng hay biểu đồ.
b. Phương pháp phân tích Logit và Tobit (mục tiêu 2)
Để đánh giá khả năng tiếp cận vốn của nông hộ đề tài sử dụng mô hình kinh tế
lượng phân tích có dạng hàm Logarit với biến phụ thuộc trong mô hình là tình trạng
vay vốn của nông hộ.
Thể hiện như sau:
Y = 1 khi nông hộ có vay vốn.
17
= 0 nếu hộ không có vay vốn.
Mô hình lý thuyết tổng quát có dạng
+
==
...
...
22110
2211
1
)(
Mô hình Logit tổng quát trong đề tài nghiên cứu như sau:
( )
)
9876543210
(
1
98
7
6
5
4321
ocTylephuthuChitieuThunhapTSanBKoanDTichTuoiHVanGtinh
e
ocTylephuthuChtieuThunhapTaisanBkhoanDientichTuoiHvanGtinh
o
e
P
ββββββββββ
ββββββββββ
+++++++++
+
+++++++++
18
Diễn giải các biến sử dụng trong mô hình
Mục tiêu là xác định tình hình tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn vay hiệu
quả, các yếu tố ảnh hưởng như giới tính chủ hộ, tuổi chủ hộ, trình độ học vấn, diện
tích đất, thu nhập hộ và chi tiêu hộ, tổng giá trị tài sản, hộ có bằng khoán đất hay
không, tỷ lệ phụ thuộc…mỗi biến độc lập trên có mức độ ảnh hưởng đến biến phụ
thuộc ở những mức độ khác nhau.
Những biến độc lập được diễn giải như sau:
Giới tính là giới tính của chủ hộ. Đây là biến giả, nhận giá trị 0 nếu chủ hộ là
nữ, nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam.
Trình độ học vấn thể hiện trình độ học vấn hay số năm đi học của chủ hộ. Kỳ
vọng mang dấu dương. Chủ hộ có trình độ học vấn càng cao thì càng dễ tiếp cận với
nguồn vốn vay từ ngân hàng, ngược lại nếu trình độ học vấn thấp làm cho chủ hộ khó
nhận biết được thủ tục vay nên việc tiếp cận Ngân hàng gặp nhiều khó khăn.
Tuổi số tuổi tính từ năm sinh của chủ hộ. Các chủ hộ lớn tuổi thường quản lý
nhiều tài nguyên, có nhiều kinh nghiệm, có uy tín nên thường dễ dàng tiếp cận được
với Ngân hàng so với chủ hộ trẻ tuổi, những người theo đánh giá của Ngân hàng là
thiếu kinh nghiệm và uy tín.
Bằng khoán hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là biến giả. Nó nhận giá
trị 0 nếu chủ hộ không có bằng khoán và nhận giá trị 1 nếu chủ hộ có bằng khoán.
Các Ngân hàng thường đòi hỏi hộ vay vốn phải có vật thế chấp để làm vật đảm bảo
vốn vay. Nếu chủ hộ có bằng khoán thì sẽ dễ dàng tiếp xúc với Ngân hàng hơn là
không có bằng khoán hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Diện tích tổng diện tích đất mà chủ hộ đang sở hữu, bao gồm đất vườn, đất
ruộng, đất hoa màu, đất ở và một số đất khác…Các hộ có diện tích đất nhiều thì sẽ
hoạt động sản xuất nhiều nên khả năng chi trả vốn vay sẽ cao hơn. Ngân hàng sẽ cho
các hộ có diện tích nhiều hơn vay nhiều tiền hơn vì họ cho rằng các hộ có độ rủi ro
thấp và có sự đảm bảo tốt. Đơn vị tính là mét vuông.
Tỷ lệ phụ thuộc, biến này được tính theo tỷ lệ giữa số người không có hoạt
động tạo thu nhập, hay sống phụ thuộc vào các thành viên lao động khác chia cho
20
Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để đánh giá những
yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn vay của nông hộ.
Phương pháp hồi quy đa biến
Mục tiêu của mô hình là giải thích biến phụ thuộc Y bị ảnh hưởng bởi nhiều biến
độc lập X
i
. Phương trình tổng quát như sau:
Y = a + b
1
X
1
+
b
2
X
2
+.......+ b
k
X
k
Các tham số a, b được ước lượng bằng phần mềm xử lý.
Y là thu nhập từ lượng vốn vay.
Hệ số xác định R
2
: được định nghĩa là tỷ lệ biến động của biến phụ thuộc Y giải
thích bởi các biến độc lập X
i
(0≤ R
1
: Tổng lượng vốn vay (ngàn đồng)
X
2
: Kỳ hạn vay vốn (tháng)
X
3
: Lãi suất (%)
21
X
4
: hộ được hướng dẫn sau khi vay vốn, biến giả nhận giá trị 1 khi hộ nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn của các tổ chức khuyến nông, HTX và nhận giá trị 0 khi hộ
không được hướng dẫn.
X
5
: trình độ học vấn của chủ hộ, thể hiện số năm đi học của chủ hộ (lớp).
X
6
: Diện tích đất (m
2
).
X
7
: Tỷ lệ vốn sử dụng cho sản xuất, biến thể hiện tỷ lệ % số vốn vay hộ sử dụng
cho mục đích chính là sản xuất nhằm tạo ra thu nhập cho gia đình, đơn vị tính %.
X
8
: Số lượng lao động (người).
X
55'08"- 10
o
19'38" vĩ độ Bắc.
Với vị trí địa lý trung tâm và quá trình phát triển thành đô thị lớn của vùng, thành
phố Cần Thơ là cửa ngõ giao lưu chính của vùng Tây Nam sông Hậu với vùng Tứ
giác Long Xuyên, vùng Bắc sông Tiền và vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, là giao
điểm của nhiều tuyến giao thông thủy bộ quan trọng. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện
tại, cầu Cần Thơ qua sông Hậu đang triển khai xây dựng, sân bay quốc tế đang được
nâng cấp, tình trạng bồi lắng cửa Định An là những hạn chế trong phát huy tiềm năng
vị trí của Cần Thơ.
Tổ chức hành chính, thành phố Cần Thơ gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng,
Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện ( Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh
Thạnh) với 67 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn (4 thị trấn, 33 xã, 30
phường).
3.1.1.2 Về tài nguyên thiên nhiên
Khí hậu - thời tiết, thành phố Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu của đồng bằng
sông Cửu Long với các đặc điểm chung: nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày - đêm
nhỏ, các chỉ tiêu khí hậu (ánh sáng, lượng mưa, gió, bốc hơi, ẩm độ không khí...) phân
hóa thành hai mùa tương phản mùa mưa và mùa khô. Địa mạo, địa hình, địa chất, bao
gồm 3 dạng địa mạo: đê tự nhiên ven sông Hậu, đồng lũ nửa mở và đồng bằng châu
thổ. Cao trình phổ biến từ + 0,8 - 1,0 m, thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Địa
bàn được hình thành chủ yếu từ quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông
Cửu Long. Thổ nhưỡng, có hai nhóm đất chính là nhóm đất phù sa (chiếm 84% diện
tích tự nhiên, bao gồm 5 loại đất) và nhóm đất phèn (chiếm 16% diện tích tự nhiên,
bao gồm 3 loại đất).
23
Tóm lại, tài nguyên đất đai khá đa dạng, phần lớn là nhóm đất phù sa có độ phì
từ khá đến cao, phổ thích nghi khá rộng, nguồn nước mặt ngọt quanh năm và chịu ảnh
hưởng triều cường với trên 40% diện tích có thể tưới tiêu tự chảy, địa hình thuận lợi
cho bố trí các hệ thống canh tác nông nghiệp, mạng lưới sông rạch thuận lợi cho giao
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp ước đạt 15.160 tỷ đồng, tăng 17,1% 2007.
Giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản ước đạt 4.354 tỷ đồng, tăng 6,5% so năm
2007. Diện tích lúa cả năm là 218.589 ha, sản lượng 1.199 ngàn tấn (tăng 67.498 tấn).
Diện tích cây ăn trái 17.650 ha sản lượng 130.500 tấn. Diện tích nuôi thủy sản 12.870
ha (giảm 1.155ha), sản lượng 183.236 tấn trong đó chủ yếu là sản lượng cá tra nuôi
177 ngàn tấn.
Tăng mức hàng hoá bán ra và doanh thu dịch vụ ước đạt 42.113 tỷ đồng, tăng
33,23% so năm 2007. Các hoạt động của năm du lịch quốc gia “Mekong - Cần Thơ
2008” đã mang lại hiệu quả thiết thực, thành phố đã đón tiếp và phục vụ 848 ngàn
lượt du khách lưu trú, tăng 22,45%, doanh thu ước đạt 451 tỷ đồng.
Tỷ lệ hộ nghèo ước thực hiện 7,00%( khoảng 17.262 hộ), giảm 1,46% so năm
2007, tỷ lệ hộ sử dụng điện 99,2% (tăng 0,2%), tỷ lệ hộ dân dùng nước sạch tại thành
thị 94,5% (tăng 2,5%), nông thôn là 79% (tăng 1%).
3.1.2 Tổng quan về Huyện Cờ Đỏ
3.1.2.1 Vị trí địa lý
Huyện Cờ Đỏ có vị trí tiếp giáp như sau: Đông giáp huyện Phong Điền, quận
Ô Môn, Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh Kiên Giang, Nam giáp huyện Phong
Điền, tỉnh Hậu Giang, Bắc giáp huyện Vĩnh Thạnh.
Tổng diện tích đất tự nhiên là: 40.187,90 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 36.222,30 ha.
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 35.906,3 ha.
+ Đất lâm nghiệp: 227,1 ha.
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: 88,82 ha.
- Đất phi nông nghiệp: 3.812,00 ha
+ Đất ở: 1.038,81 ha.
+ Đất chuyên dùng: 2.270,51 ha
+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng: 14,98 ha
25