BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÌI NGUYỄN VĂN XUYÊN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT SINH VÀ LÂY LAN HỘI CHỨNG
RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số : 60.64.01.01 Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM HỒNG NGÂN
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagei
LỜI CAM ĐOAN
chuyên môn trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận v
ăn.
Ban Giám dốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, , Khoa Thú y cùng các
thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, các
anh chị em đồng nghiệp, những người luôn động viên, giúp đỡ tôi vượt qua
mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt bản luận
văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014.
Tác giả Nguyễn Văn Xuyên Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageiii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục biểu đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 33
2.4 Phân tích thống kê 33
2.5 Các công thức dịch tễ dùng trong nghiên cứu 33
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Kết quả hồi cứu tình hình dịch PRRS trên địa bàn huyện Quế
Võ tỉnh
Bắc Ninh năm 2010 35
1.6.1 Triệu chứng của lợn mắc PRRS 22
1.6.2 Bệnh tích đại thể 24
1.6.3 Bệnh lý vi thể 26
1.7.1 Chẩn đoán huyết thanh học: 27
1.7.2 Chẩn đoán virus học 27
1.8.1 Biện pháp phòng khi chưa có dịch 28
1.8.2 Biện pháp phòng chống khi có dịch xảy ra 29
1.8.3 Phòng bệnh bằng vacxin 30
2.2.1 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng rối loạn hô hấ
p và sinh sản trên
địa bàn huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh năm 2010 32
2.2.2 Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và
lây lan bệnh trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc Ninh 32
2.2.3 Biện pháp phòng chống PRRS ở lợn trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc
Ninh đã triển khai. 32
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học: 33
2.3.2 Các phương pháp tính tần số đo lường dịch bệnh: 33
2.5.1 Khoảng tin cậy 95%CI của m
ột ước lượng (Confidence Interval) 33
2.5.2 Tỷ suất chênh hay tỷ số chia (Odds Ratio = OR) 34
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagev
PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
PRRSV : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome virus
ELISA : Enzym Linked Immuno Sorbent Assay
PCR : Polymerase Chain Reaction
RT-PCR : Reverse Transcription Polymesase Chain Reaction
OIE : Office International des Epizooties
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations
PCV 2 : Porcine Circovirus 2
CSF : Classical Swine Fever
1.1 Bản đồ lịch sử xuất hiện bệnh PRRS trên thế giới 5
1.2 Sự lưu hành PRRS thể độc lực cao tại Đông Nam Á (2007 – 2010) 7
1.3 Hình thái và cấu trúc virus PRRS 11
1.4 Hình ảnh cấu trúc hệ gen của virus PRRS 11
1.5 Các phương thức truyền lây virus PRRS 19
1.6 Đại thực bào bệnh lý 20
1.7 Đại thực bào bình thường 20
1.8 Bệnh tích trên phổi lợn mắc PRRS 24
1.9 Viêm kẽ phổi, bệnh tích đặc trưng của PRRS (HE x 600) 27
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ STT Tên biểu đồ Trang
3.1 Mức độ dịch xảy ra theo cấp độ thôn, hộ của các xã có dịch 37
3.2 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết và tiêu hủy so với tổng đàn của các xã có dịch 42
3.3 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết và tiêu hủy của đàn lợn những hộ có dịch 43
3.4 So sánh mức độ ảnh hưởng của dịch giữa các đối tượng lợn 46
3.5 So sánh tỷ lệ m
ắc, tỷ lệ chết giữa các đối tượng lợn. 47 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page1
MỞ ĐẦU
phát triển. Bên cạnh đó, kinh tế chủ yếu dựa vào các sản phẩm trồng trọt,
chăn nuôi, thủy sản. Dịch bệnh xảy ra gây ảnh hưởng lớn tới đời sống và tâm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page2
lý cho các hộ chăn nuôi nói riêng và địa phương nói chung. Tuy nhiên, các
trang trại chăn nuôi chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ, thường là những trang trại
tổng hợp nên điều kiện về vật chất, trình độ kỹ thuật còn nhiều hạn chế từ đó
cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc khống chế dịch bệnh.
Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ ảnh hưở
ng đến quá trình
phát sinh và lây lan Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc phòng và điều trị bệnh đạt hiệu quả, nhằm hạn chế các
thiệt hại do bệnh gây ra.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây
lan Hội chứng rối lo
ạn hô hấp và sinh sản ở lợn trên địa bàn huyện Quế Võ
tỉnh bắc Ninh.”.
2. Mục tiêu của đề tài
Làm rõ tình hình dịch bệnh và đặc điểm dịch tễ của Hội chứng rối
loạn hô hấp và sinh sản ở lợn trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Xác định tỷ lệ các đối tượng lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh
sản trên địa bàn huyệ
n Quế Võ - Bắc Ninh.
Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và
lây lan bệnh trên địa bàn huyện Quế Võ - Bắc Ninh.
Đề xuất biện pháp phòng chống dịch Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh
sản ở lợn có hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
giới trong đó có Việt Nam.
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản được gọi dưới nhiều tên gọi khác
nhau ở mỗi quốc gia. Tại Hà Lan có tên gọi là: New Pig disease (NPD). Tại
Mỹ có các tên gọi là: Mystery disease syndrom (MDS); Swine Reproductive
and Respiratory syndrom (SRRS); Swine Infertility and Respiratory syndrom
(SIRS); Mistrey swine disease. Tại Cộng đồng các nước Châu Âu và T
ổ chức
Dịch tễ thế giới có tên gọi là: Porcine Reproductive and Respiratory
syndrome (PRRS).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page4
1.2. Tình hình dịch bệnh
1.2.1. Lịch sử và tình hình dịch PRRS ở lợn trên thế giới
Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ tại vùng bắc của bang California,
bang Iowa và Minnesota vào khoảng năm 1987, vào thời điểm đó những báo
cáo về bệnh khởi đầu chỉ nói đến triệu chứng lâm sàng (Keffaber, 1992). Lúc
đó, những nhà thú y và người nghiên cứu cho rằng hội chứng này khác thường
vì tính trầm trọng, kéo dài, kết hợp triệu ch
ứng sinh sản, hô hấp và không biết
được những trường hợp ở thể ẩn tính. Rất nhanh chóng, năm 1988 bệnh lan
sang Canada và vào tháng 11 năm 1990 một hội chứng tương tự đã được báo
cáo ở Munster-Đức. Sau đó, những thông tin về bệnh này ở Châu Âu bắt đầu
tăng lên nhanh chóng: ở Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh năm 1991 và ở Pháp
năm 1992 (OIE, 2009). Năm 1998, bệnh cũng được phát hiện ở châu Á như
Hàn Quốc, Nhật Bản.
Lúc đầ
u do căn nguyên chưa được biết nên hội chứng được đặt tên là
“bệnh thần bí ở lợn” Mistery Swine disease (MSD). Về sau, bệnh lan trên
toàn thế giới và được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Hội chứng hô hấp và
Các nước trong khu vực Châu Á cũng có tỷ lệ PRRS lưu hành rất cao,
ví dụ ở Trung Quốc là 80%, Đài Loan 94,7-96,4%, Philippine 90%, Thái Lan
97%, Malaysia 94%, Hàn Quốc là 67,4-73,1%. Có thể khẳng định rằng PRRS
là nguyên nhân gây tổn thất kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn ở nhiều quốc gia
trên thế giới (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2007).
Tại Trung Quốc, theo báo cáo của đoàn chuyên gia quốc tế và chuyên
gia củ
a Trung Quốc được phát hành vào tháng 12/2007, kể từ năm 2006 đàn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page6
lợn của Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi Hội chứng sốt cao ở
lợn do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là virus PRRS và các loại mầm
bệnh khác gồm: virus Dịch tả lợn, PCV-2 chiếm 96,5% Trong vòng hơn 3
tháng của năm 2006, dịch đã lây lan ở hơn 10 tỉnh phía Nam làm hơn 2 triệu
lợn ốm, trong đó có hơn 400.000 lợn mắc bệnh đã chết (Kegong Tian, 2007).
Tính từ đầu n
ăm đến tháng 7/2007, dịch bệnh đã xảy ra ở trên 25 tỉnh, với
trên 180.000 lợn mắc bệnh và 45.000 con chết. Điều đáng chú ý là virus gây
ra đại dịch PRRS vào năm 2006 ở Trung Quốc đã cho thấy những thay đổi,
tăng tính cường độc so với các chủng virus PRRS cổ điển được phân lập tại
nước này từ năm 1996-2006 (Gao và cs, 2004). Kết quả nghiên cứu toàn diện
của Trung Quốc đã khẳng định ch
ủng virus PRRS gây bệnh tại nước này là
chủng độc lực cao, đặc biệt có sự biến đổi của virus (thiếu hụt 30 acid amin
trong gen). Năm 2007, các tỉnh Anhui, Hunan, Guangdong, Shandong,
Liaoning, Jilin và một số tỉnh khác bị ảnh hưởng nặng buộc Trung Quốc phải
tiêu huỷ tới 20 triệu lợn để ngăn chặn dịch lây lan.
Trước diễn biến phức tạp của dịch PRRS, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc
đang thực hiện ch
(Nguồn: FAO, 2010)
1.2.2. Lịch sử và tình hình dịch bệnh PRRS ở Việt Nam
Ở Việt Nam, PRRS lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1997 trên đàn
lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam, kết quả kiểm tra huyết thanh học cho
thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu đó có huyết thanh dương tính với PRRS. Sau đó
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page8
các kết quả điều tra huyết thanh học tại một số trại lợn giống phía Nam đã phát
hiện có sự lưu hành PRRS do chủng virus cổ điển độc lực thấp gây ra với một tỷ
lệ nhất định lợn giống có huyết thanh dương tính với bệnh (Cục thú y, 2007).
Điều tra huyết thanh học của các tác giả Akemi Kamakawa và Hồ Thị
Viết Thu từ năm 1999-2003 cho thấy t
ỷ lệ lợn có kháng thể kháng virus
PRRS tại Cần Thơ là 7,7% (37/478 mẫu dương tính với virus PRRS).
Như vậy, có thể thấy virus đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trong
một thời gian dài. Tuy nhiên, sự bùng phát thành dịch và gây tổn thất lớn cho
ngành chăn nuôi lợn thực sự mới bắt đầu từ tháng 3/2007. Dịch tai xanh đã xảy
ra thành nhiều đợt tại 3 miền Bắc, Trung, Nam và gây thiệt hại đáng kể cho
chă
n nuôi lợn, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phát triển đàn giống.
Trong các ổ dịch, ngoài virus PRRS đã được xác định là nguyên nhân
chính, hàng loạt các loại mầm bệnh thứ phát khác như: Dịch tả lợn, PCV2, Tụ
huyết trùng, Phó thương hàn, Liên cầu khuẩn, Suyễn lợn cũng có mặt và
đây chính là nguyên nhân dẫn đến chết nhiều lợn mắc bệnh (Trung tâm Chẩn
đoán Thú y TW, 2007).
+ Đợt dịch đầu tiên: dấu ấ
n quan trọng của PRRS tại Việt Nam được
bắt đầu từ ngày 12/3/2007, hàng loạt đàn lợn tại Hải Dương có những biểu
hiện ốm khác thường. Ngày 23/3/2007, lần đầu tiên Chi cục Thú y tỉnh đã báo
tại Thanh Hóa và Nghệ An cũng xảy ra dịch. Tạ
i tỉnh Thanh Hóa, số lượng
các xã bị dịch tăng lên từng ngày với tốc độ chóng mặt. Đến ngày 22/4/2008,
dịch đã xuất hiện tại 11 tỉnh, thành: Bạc Liêu, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng
Nam, Nghệ An, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Thái Nguyên, Ninh
Bình và Nam Định.
+ Đợt dịch thứ 4: tái xuất hiện bắt đầu từ ngày 14/2/2009 tại tỉnh
Quảng Ninh. Sau đó dịch tiếp tục xảy ra tại các tỉnh Hưng Yên, Bạc Liêu, Gia
Lai, B
ắc Giang Đắc Lắc, Bà Rịa-Vũng Tàu và đặc biệt là tỉnh Quảng Nam
dịch xảy ra trầm trọng và kéo dài. Đến ngày 15/7/2009 có 4.313 con lợn mắc
bệnh, chết và tiêu huỷ 4.210 con. Tình hình dịch đợt này có giảm so với năm
2008 cả về phạm vi, quy mô dịch và số lượng gia súc phải tiêu huỷ [5].
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page10
+ Đợt dịch thứ 5: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2010 xảy ra dịch ở
hầu hết các tỉnh phía Bắc. Theo kết quả điều tra từ tháng 4/2010 đến tháng
5/2010, cả nước có 15 tỉnh là Hải Dương, Thái Bình, Thái Nguyên, Hưng Yên,
Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng
Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình và Cao Bằng có dịch tai xanh xảy ra, với số lợn bị
mắc bệnh tai xanh là 76.368 con và số lợ
n bị chết, tiêu hủy là 34.768 con.
Sau đó dịch xảy ra lẻ tẻ ở một số địa phương, đến tháng 7, tháng
8/2010 dịch lại bùng phát mạnh ở các tỉnh phía Nam. Trong thời gian này
dịch xảy ra ở 16 tỉnh thành trong cả nước bao gồm: Tiền Giang, Sóc Trăng,
Long An, Bình Dương, Bạc Liêu, Đồng Nai, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bình
Phước, Đà Nẵng, Quảng Nam, Đắk Lắk, Nghệ An, Cao Bằng và Lào Cai
Như vậy tại Việt Nam, dịch PRRS có th
ể vẫn có những diễn biến phức
Hình 1.4. Hình ảnh cấu trúc hệ gen của virus PRRS
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page12
Các loại protein cấu trúc của virus PRRS bao gồm:
+ Protein nucleocapsid (N, ORF 7) khối lượng phân tử khoảng
14-15kDa, đây là protein vỏ bọc nhân.
+ Membrane protein (M, ORF 6) khối lượng phân tử khoảng 18-19 kDa là
protein liên kết vỏ bọc.
+ Envelope glycoprotein (E, ORF 5) khối lượng phân tử từ 24-25 kDa
là protein liên kết vỏ bọc kết hợp glycogen.
Ngoài ra còn có 3 loại glycoprotein cấu trúc ít thấy hơn và được kí hiệu
là ORF 2, 3 và 4.
1.3.2. Phân loại virus PRRS
Dựa vào phân tích cấu trúc gen và phân tích về phát sinh loài virus
phân lập khác nhau trên thế giới (Nelsen và GenBank, 1998) người ta đã xác
định được hai ch
ủng nguyên mẫu (Prototype), phân lập ở Châu Âu (Virus
Lelystad-LV) và phân lập ở Bắc Mỹ (VR-2332) (Murtaugh và Elam, 1995;
Benfield và Nelson, 1992).
Nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (tên gọi phổ thông là
) và 74% (ORF
7
). Phân tích trình tự cho thấy các
virus đang tiến hóa do đột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen (Bierk và
cs, 2011; Bush và cs, 1995). Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các chủng virus
này gây bệnh trên động vật cảm thụ với bệnh cảnh giống nhau nhưng chúng
lại đại diện cho 2 genotyp khác biệt (Coles, 2004; Nodejil và Nielen, 2003;
Gilbert và Larochelle, 1996).
Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di
truyền trong các virus được phân lập từ các vùng địa lý khác nhau. Bản thân
các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi v
ề chuỗi nucleotide khá
cao đến 20%. Chủng Bắc Mỹ có 3 subtyp: VR-2332, Taiwan và 807/94 phân
lập ở Canada. Chủng Châu Âu có 2 subtyp: I10 phân lập tại Hà Lan và Olot
tại Tây Ban Nha.
Chính sự khác biệt, sự đa dạng về tính kháng nguyên và khả năng biến
đổi cấu trúc kháng nguyên của virus đã làm tăng khó khăn trong việc sản xuất
vacxin chống lại chúng.
Qua nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy:
các mẫu virus gây ra các ổ dịch PRRS tại Việt Nam có mức tương đồng v
ề
amino acid từ 99 -99,7% so với chủng virus PRRS gây bệnh thể độc lực cao ở
Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin. Kết quả này cũng hoàn toàn giống với
kết quả công cường độc của Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW. Tất cả đều
thống nhất: Chủng virrus gây ra các ổ dịch PRRS ở Việt Nam hiện nay thuộc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page14
dòng Bắc Mỹ, chủng này có sự tương đồng về kháng nguyên với chủng virus
độc lực cao gây bệnh tại Trung Quốc (Cục thú y, 2008).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page15
PRRS bên ngoài vật chủ chịu tác động của nhiệt độ, pH và sự tiếp xúc với
các chất sát trùng (Albina, 1997).
Virus PRRS có khả năng sống sót trong khoảng thời gian dài hơn 4 tháng ở
nhiệt độ dao động trong khoảng -70
o
C đến -20
o
C, 20 phút ở 56
o
C, 24 giờ ở 30
o
C
và 6 ngày ở 21
o
C (Benfield và Nelson, 1992). Tuy nhiên khả năng sống của virus
PRRS giảm nhanh khi nhiệt độ tăng lên (Frederick Murphy và cs, 2010).
Virus PRRS bền vững ở pH dao động trong khoảng 6,5 đến 7,5, tuy
nhiên tính gây nhiễm giảm ở pH < 6,0 hoặc pH > 7,65 (Forsberg và cs, 2002).
Các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit dễ dàng tiêu
diệt virus. Ánh sáng mặt trời và tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng.
1.4. Dịch tễ học Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
1.4.1. Loài mắc bệnh
Lợn ở các lứa tuổ
i đều có thể cảm nhiễm virus, nhưng tập trung chủ
yếu ở lợn nái mang thai và lợn con theo mẹ (Shimuzi và Yamada, 1994). Các
cơ sở chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan rộng tồn tại
lâu dài trong đàn nái, rất khó thanh toán. Lợn nái thường truyền mầm bệnh