thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa năm 2014; đặc điểm sinh học, sinh thái loài bọ xít mù xanh (cyrtorhinus lividipennis reuter) tại nam định - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*** BÙI THỊ TRANG THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH CỦA NHÓM RẦY HẠI THÂN LÚA
VỤ MÙA NĂM 2014; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI LOÀI
BỌ XÍT MÙ XANH (Cyrtorhinus lividipennis Reuter) TẠI NAM ĐỊNH CHUYÊN NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ : 60.62.01.12 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN ĐÌNH CHIẾN HÀ NỘI – 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi, các kết

hiện đề tài tốt nghiệp.

Nam Định, ngày 10 thán 6 năm 2015
Tác giả luận văn Bùi Thị Trang

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Chữ viết tắt, ký hiệu vii
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2. Những nghiên cứu ngoài nước 5
1.2.1. Nghiên cứu về nhóm rầy hại thân 5
1.2.2. Nghiên cứu về thiên địch của nhóm rầy hại thân 10
1.2.3. Nghiên cứu về bọ xít mù xanh 11
1.3. Những nghiên cứu trong nước 13
1.3.1. Nghiên cứu về nhóm rầy hại thân 13
1.3.2. Nghiên cứu về thiên địch trên nhóm rầy hại thân lúa 18
1.3.3. Nghiên cứu về bọ xít mù xanh 19
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.3. Đặc điểm sinh học của bọ xít mù xanh C.lividipennis. 40
3.3.1. Tập tính sinh sống 40
3.3.2. Thời gian phát dục các pha bọ xít mù xanh C.lividipennis 41
3.3.3. Sức đẻ trứng của trưởng thành cái 42
3.3.4. Nhịp điệu đẻ trứng của Bọ xít mù xanh C.lividipennis 43
3.3.5. Tỷ lệ trứng nở 45
3.3.6. Tỷ lệ sống sót 46
3.3.7. Tỷ lệ đực cái 47
3.3.8. Khả năng tiêu thụ vật mồi của các pha loài bọ xít mù xanh C.
lividipennis 49
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.3.9.Thời gian phát dục các tuổi bọ xít mù xanh C.lividipennis khi
cung cấp mật độ vật mồi khác nhau (rầy nâu non tuổi 2, tuổi 3) 50
3.4. Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mật độ nhóm rầy hại thân
và bọ xít mù xanh C.lividipennis trong vụ mùa 2014 tại Nam Toàn,
Nam Trực, Nam Định.
51
3.4.1. Ảnh hưởng yếu tố thời vụ 52
3.4.2. Ảnh hưởng yếu tố giống 54
3.5. Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa với mật độ bọ xít mù
xanh.
58
3.5.1. Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù
xanh trên giống Bắc Thơm số 7 58
3.5.2. Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù
xanh trên giống Bắc Thơm kháng bạc lá 59
3.5.3. Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù
xanh trên giống BC15 60

8
N Tổng số cá thể
9
NXB Nhà xuất bản
10
TB Trung bình
11
TL Tỷ lệ
12
TT Trưởng thành
13
STT Số thứ tự
14
VFA Hiệp hội lương thực Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1. Thành phần nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2014 tại xã Nam Toàn
huyện Nam Trực tỉnh Nam Định 29
3.2. Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2014 tại xã
Nam Toàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. 31
3.3: Kích thước các pha bọ xít mù xanh C.lividipennis 39
3.4. Thời gian phát dục các pha của bọ xít mù xanh C.lividipennis 41
3.5: Sức đẻ trứng của trưởng thành cái bọ xít mù xanh C.lividipennis 42
3.6: Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái bọ xít mù xanh
C.lividipennis 44
3.7: Tỷ lệ trứng nở bọ xít mù xanh C.lividipennis 46
3.8: Tỷ lệ sống sót loài bọ xít mù xanh C.lividipennis 47

vàng vụ mùa 2014 tại Nam Trực, Nam Định 57
3.17. Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù xanh trên
giống Bắc Thơm kháng bạc lá 59
3.18. Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù xanh trên
giống BC15 60
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa Oryza sativa là một trong những cây lương thực chính cung
cấp lương thực cho hai phần ba dân số thế giới. Châu Á là nơi gắn liền với
văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo chiếm phần lớn trên thế giới về diện tích
và sản lượng. Dân số Việt Nam có 87 triệu người, chiếm 70% là nông dân,
sản xuất nông nghiệp trồng lúa là cây lương thực chính. Theo thống kê của
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2009, cả nước xuất khẩu hơn
6,052 triệu tấn gạo các loại, với giá trị 2,464 tỉ USD. Những năm gần đây
nước ta luôn đứng vị trí thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo sau Thái Lan.
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ
kéo theo đó là diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần. Dân số thế giới gia
tăng nhanh, vì vậy nhu cầu lương thực ngày càng tăng cao.
Sản lượng thất thu do dịch hại gây ra cũng vô cùng to lớn, ước tính
hàng năm bị thất thu khoảng 210 triệu tấn lương thực, trong đó thiệt hại do
sâu hại gây ra chiếm 27%, bệnh hại chiếm 8,9%, cỏ dại chiếm 10,8%
Theo thống kê của tổ chức FAO: tính đến năm 1985 thì có tới 870 vụ
dịch hại của sâu đối với nền nông nghiệp ở các nước Châu Á trong đó có tới
27% báo cáo khoa học nói về dịch rầy nâu, tiếp đến là 20% về dịch sâu cắn gié…
Trong vài năm trở lại đây nhóm rầy hại lúa đã bùng phát trên diện tích
lớn gây hại nghiêm trọng về năng suất không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều
nước trồng lúa ở Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
-Từ các kết quả thu được, giúp bổ sung thêm các dẫn liệu khoa học về
diễn biến số lượng nhóm rầy hại thân và thành phần cũng như mật độ, phân
bố của thiên địch trên nhóm rầy hại thân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

- Bên cạnh đó, bổ sung thêm một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái
học của loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis trong điều kiện vụ mùa
năm 2014 tại huyện Nam Trực tỉnh Nam Định.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn:
- Nắm bắt được diễn biến quy luật nhóm rầy hại thân và có hiểu biết thêm
về giá trị hữu ích của loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis, từ đó xây
dựng một số biện pháp bảo vệ, duy trì và khuyến khích loài kẻ thù tự nhiên này.

đồng ruộng. Ở từng lúc, từng nơi trong các điều kiên cụ thể, thiên địch tự
nhiên có thể kìm hãm mật độ sâu hại ở dưới ngưỡng gây hại kinh tế. Việc
nghiên cứu phát triển các loài kẻ thù tự nhiên giúp khống chế được sâu hại,
giảm chi phí trong nông nghiệp, giúp bảo vệ môi trường và đảm bảo nền nông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

nghiệp sạch, an toàn.
Chính vì vậy hiểu biết về hệ sinh thái nông nghiệp sẽ là cơ sở khoa học
cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ cây lúa tránh những mất
mát do dịch hại gây ra, đảm bảo năng suất, bảo vệ môi trường và góp phần
giữ cân bằng sinh thái. Kết quả điều tra diễn biến, thành phần nhóm rầy hại
thân và thiên địch của chúng là cơ sở cho công tác dự tính dự báo nhóm rầy
hại thân lúa là thiết thực góp phần xây dựng biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu
hại lúa, góp phần bảo vệ và khích lệ thiên địch có ích trong bảo vệ mùa màng.
1.2. Những nghiên cứu ngoài nước
1.2.1. Nghiên cứu về nhóm rầy hại thân
Ở Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, nhóm rầy hại lúa đã bùng phát
trên diện tích lớn với diện phân bố và mức độ gây hại gia tăng rất nhanh gây
thiệt hại nghiêm trọng về năng suất ở nhiều vùng trong cả nước. Bên cạnh
phương thức gây hại trực tiếp bằng cách chúng chích hút trên lúa làm cho
khóm lúa bị khô héo và chết, nhóm rầy hại thân còn gây hại gián tiếp là môi
giới truyền một số bệnh virus nguy hiểm như: vàng lùn, lùn xoắn lá, lúa cỏ,
lùn sọc đen… trong đó bệnh virus lùn sọc đen lan truyền với vector là rầy
lưng trắng, rầy nâu nhỏ đang là đối tượng gây hại nguy hiểm với nhiều diện
tích lúa. Nhóm rầy hại thân lúa bao gồm các loài rầy chích hút trên thân lúa,
thuộc họ Rầy nâu (Delphacidae) gồm 3 loài chính: rầy nâu, rầy lưng trắng và
rầy nâu nhỏ. Chúng đều thuộc bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh đều
Homoptera.
Trong nhóm rầy hại thân lúa, rầy nâu và rầy lưng trắng là hai loài

dưới có thể bị héo, hạt lúa bị lửng lép. Bị hại nặng gây nên hiện tượng “cháy
rầy”, cả ruộng lúa bị khô héo. Nếu gặp mưa lúa bị hại có thể bị thối nhũn.
Năng suất có thể bị giảm tới 50% hoặc mất trắng.
Theo Kuno (1979), số lượng rầy nâu ở các vùng ôn đới được đặc trưng
về số lượng theo mùa với mật độ ban đầu thấp, có sự biến động về số lượng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

phân bố co cụm từ năm này sang năm khác. Rầy nâu có khả năng thích ứng
cao với tất cả các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa.
Sự phát sinh gây hại của rầy nâu nặng hay nhẹ còn phụ thuộc vào cơ
cấu giống trong vụ. Quan niệm chung đến nay đều cho rằng việc gieo cấy các
giống lúa mới đã làm tác hại của rầy nâu tăng lên. Những giống lúa mới thấp
cây, lá thẳng đứng và đẻ nhiều tạo ra một thảm lá dày là điều kiện tốt cho rầy
nâu phát triển (Heinrichs, 1994).
Dyck et al.(1979), đã chỉ ra rằng sự thay đổi cơ cấu giống đã gây ra sự
bùng phát số lượng rầy nâu trong những năm gần đây. Việc thâm canh tăng
vụ, bón nhiều đạm, sử dụng thuốc trừ sâu và ảnh hưởng của khí hậu đã làm
phong phú dịch hại trên đồng ruộng. Trưởng thành rầy nâu có khả năng phát
tán cao, chúng chủ yếu phát tán vào những giờ đầu của buổi tối. Trong một
năm, trong một khu vực thường có 2 đỉnh cao mật số rầy nâu, chúng xảy ra
vào gần cuối mỗi vụ lúa.
Theo Nagarajan (1994), quần thể rầy nâu có nhiều Biotype và hiện
nay đã xuất hiện 4 Biotype (Bph1, Bph2, Bph3, and Bph4), chúng được sinh ra
bởi các gen kháng. Các Biotype được sinh ra để giúp rầy nâu duy trì nòi giống
trước những tác động của môi trường. Sự xuất hiện rộng rãi của các Biotype này
được xác định chủ yếu do việc sử dụng bừa bãi các loại thuốc trừ sâu.
Trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát
triển của rầy nâu thì thức ăn cũng là nhân tố chi phối quá trình phát dục và
biến động mật độ quần thể rầy. Vì vậy trong cơ cấu mùa vụ khác nhau,

vỏ trấu có màu nâu, một số hạt bị lép hoặc lửng, nếu bị hại vào thờì kỳ lúa chín
thì hạt sẽ mất khả năng nảy mầm và thời kỳ chín bị kéo dài ra
Rầy cái mang trứng còn gây thiệt hại bằng cách chọc thủng mô bẹ lá lúa
để đẻ trứng. Dịch ngọt do rầy thải ra còn giúp cho sự phát triển của nấm. Đây
là nguyên nhân gián tiếp chính của bệnh muội đen trên lúa. (Dale, 1994).
Rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh lùn sọc đen trên lúa gây ra
những tổn thất nghiêm trọng. Sử dụng thuốc trừ sâu để phòng trừ vector này,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

tuy nhiên đã nhận thấy loài này có sự kháng thuốc ở Trung Quốc (Jianya Su.
et al., 2013).
Theo Masaru et al.,2009, toàn bộ rầy lưng trắng di cư từ đại lục Trung
Quốc sang Nhật Bản trong mùa mưa từ đầu tháng 6 đến đầu tháng 7. Trên lúa,
rầy lưng trắng tăng nhanh vào các thế hệ tiếp theo và đạt đỉnh cao về mật độ
vào nửa cuối tháng 7 hoặc nửa đầu tháng 8.
Sự di chuyển của rầy lưng trắng liên quan đến cường độ ánh sáng và
nhiệt độ. Hoạt động di chuyển của rầy lưng trắng có liên quan đến tuần trăng.
Theo Kisimoto (1971), có 5 đợt rầy di cư ở Trung Quốc từ giữa tháng 4 đến
đầu tháng 5 nhờ gió nam và tây nam, có 3 đợt di cư hướng tây nam vào giữa
và cuối tháng 8, cuối tháng 10. Ở bán đảo Triều Tiên việc du nhập qua biển
đông của rầy nâu và rầy lưng trắng vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 và các đảo
miền trung của Nam Triều Tiên là cuối tháng 7.
Rầy lưng trắng còn có sự di cư giữa các vụ lúa với khoảng cách từ 6-
30 km sau khi cất cánh vào buổi tối trong mùa khô ở các vùng nhiệt đới
(Shingh et al., 1986).
Loài rầy hại thân thứ ba là rầy nâu nhỏ (rầy xám) có tên khoa học là
Laodelphax striatellus Fallén thuộc giống Laodelphax, họ Delphacidae.
Phạm vi phân bố của rầy nâu nhỏ khá rộng. Chúng là loài có mật số cao
nhất ở vùng bán nhiệt đới. Rầy nâu nhỏ là tác nhân truyền bệnh lùn sọc đen.

đến năm 1979 trên thế giới có 83 loài thiên địch của rầy nâu đã được phát
hiện, trong đó có 43 loài có vai trò quan trọng đối với biến động số lượng rầy
nâu (bao gồm 35 loài côn trùng ký sinh và ăn thịt, 1 loài giun tròn và 7 loài vi
sinh vật gây bệnh). Ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới rầy lưng trắng có
khoảng 18 loài thiên địch trong đó có 8 loài ký sinh (4 loài ký sinh trứng và 4
loài ký sinh sâu non), 9 loài bắt mồi và 1 tác nhân gây bệnh. Rầy nâu nhỏ
có thể bị các thiên địch tấn công ở các giai đoạn, trứng rầy nâu nhỏ bị ong
Trichogrammatidae ký sinh và là thức ăn của bọ xít mù xanh Cyrtorhinus
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

livipennis. Rầy non và rầy trưởng thành bị các loài ong Drynidae, bọ cánh
cuốn Elenchidae ký sinh. Ngoài ra, rầy non và trưởng thành của rầy nâu nhỏ
thường bị bọ cánh cứng thuỷ sinh sống trong nước và ấu trùng chuồn
chuồn ăn thịt. (Reissig et al.,1986).
Thiên địch của rầy nâu rất phong phú và đa dạng. Ở Đài Loan tuỳ điều
kiện từng vụ lúa trứng rầy nâu bị một số loài ong ký sinh từ 3,3-38,1%. Ở
Thái Lan, trung bình có 61% trứng rầy nâu bị ký sinh. Ở Sri Lanka, trứng rầy
nâu có thể bị ký sinh tới 80%, nhưng tỷ lệ này không ổn định. Do đó ký sinh
trứng không có ảnh hưởng lớn tới quần thể rầy nâu (Chiu, 1979).
Các loài bắt mồi ăn thịt có vai trò đáng kể trong việc hạn chế số lượng
rầy lưng trắng. Theo Lin. (1976) trong các loài bắt mồi thì các loài bọ xít và
nhện là những thiên địch quan trọng. Tytthus và Cyrtorhinus đặc biệt thích
ứng với trứng và rầy non tuổi nhỏ của rầy họ Delphacidae.
1.2.3. Nghiên cứu về bọ xít mù xanh
Theo Reyes and Gabriel,1975, loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus
lividipennis Reuter trải qua các pha phát triển trong những khoảng thời gian
khác nhau. Thời gian pha trứng 6 - 9 ngày, thường là 6 ngày. Thời gian phát
triển tuổi 1 từ 2 - 4 ngày (trung bình 2,93 ± 0,58 ngày); tuổi 2 từ 2 - 4 ngày
(trung bình 3,06 ± 0,57 ngày); tuổi 3 từ 3 - 5 ngày (trung bình 3,96 ± 0,57

ấu trùng trải qua 5 tuổi với tổng thời gian phát triển là 20,2 ± 2,81 ngày;
Trong số các loài kẻ thù tự nhiên của nhóm rầy hại lúa, bọ xít mù xanh
là loài kẻ thù tự nhiên có vai trò lớn trong việc khống chế sự bùng phát của
rầy hại lúa vào thời điểm rầy phát sinh rộ. Đây là loài thiên địch có khả năng
săn mồi và tiêu thụ vật mồi lớn, cả pha ấu trùng và trưởng thành bọ xít mù
xanh đều có khả năng săn mồi. Vật mồi của chúng bao gồm trứng, ấu trùng và
cả trưởng thành của nhiều loài rầy hại thân và hại lá như: rầy nâu, rầy lưng
trắng, rầy nâu nhỏ, rầy xanh đuôi đen, rầy mềm hại ngô… Trong điều kiện
nhà kính trong vòng 1 ngày, một trưởng thành cái và trưởng thành đực của
loài bọ xít mù xanh có thể ăn 20 và 10 trứng rầy nâu (Chiu, 1979).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

1.3. Những nghiên cứu trong nước
1.3.1. Nghiên cứu về nhóm rầy hại thân
Nhóm rầy hại thân bao gồm rầy nâu (Nilaparvata lugen Stal), rầy lưng
trắng (Sogatella furcifera Horvath), rầy nâu nhỏ (rầy xám) (Laodelphax
striatellus Fallén), (Homoptera, Delphacidae) là nhóm gây hại nghiêm trọng trên
cây lúa nước ở nước ta. Sự gây hại của nhóm dịch hại này ngoài tác động trực
tiếp lên cây lúa qua trích hút, làm cho cây lúa bị úa vàng, dẫn đến khô héo,
chúng còn là tác nhân truyền bệnh virus cho lúa (bệnh virus lùn xoăn lá), làm
ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa gạo.
Cho đến thời điểm cuối tháng 4/2012, việc thay đổi cơ cấu giống lúa
trồng đã diễn ra trên diện rộng. Ở Miền Bắc có trên 90% diện tích lúa được
trồng các giống mới có nguồn gốc Trung Quốc, chủ yếu là nhóm giống lúa lai
và lúa thuần chất lượng cao, thích ứng rộng. Hầu hết các giống lúa này đều
nhiễm các dịch hại quan trọng như rầy nâu, cuốn lá nhỏ, đạo ôn trong những
năm trở lại đây, diện tích và mức độ nhiễm dịch hại trên lúa có xu thế tăng
cao đặc biệt là rầy nâu, rầy lưng trắng. Một số dịch hại mới phát sinh, có nguy
cơ gây hại nặng như rầy nâu nhỏ xuất hiện từ vụ Đông Xuân năm 2009 ở

Đỉnh cao của dịch trong vụ đông xuân 2006 - 2007, tỷ lệ rầy nâu vào đèn
truyền được bệnh tại Long An là 26,6% và tại Tiền Giang là 35,7%. Một cá
thể rầy nâu trưởng thành đã nhiễm virus có thể truyền được trung bình cho 7
cây lúa và cao nhất 18 cây lúa.
Theo Vũ Quang Minh và Phạm Văn Quỳnh, 2009, sự hiện diện và
mật độ rầy nâu xuất hiện trên ruộng lúa có sự liên quan mật thiết với các yếu
tố điều kiện khí hậu, kỹ thuật canh tác. Tuy nhiên tùy vào từng giai đoạn sinh
trưởng và phát triển của cây lúa cũng như thời vụ canh tác mà các yếu tố này
có ảnh hưởng khác nhau tới sự hiện diện của rầy nâu trên đồng ruộng.
Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995a), thời gian phát dục của rầy nâu
trong vụ mùa nhiệt độ từ 25 - 29
o
C thì thời gian trứng khoảng 6,5 - 7,5 ngày,
rầy non khoảng 13,5 - 16 ngày, trưởng thành 6-9 ngày, thời gian trước đẻ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

trứng của trưởng thành là 2,5 - 3 ngày, vòng đời 26 - 30 ngày. Tỷ lệ rầy cánh
ngắn và cánh dài phụ thuộc vào nguồn thức ăn và mật độ trong ruộng lúa. Ở
giai đoạn lúa đẻ nhánh và chín chủ yếu rầy cánh dài xâm nhập vào ruộng lúa
và sau đó giảm dần. Ở giai đoạn đòng - trỗ đỏ đuôi rầy tăng nhanh về số
lượng, tỷ lệ rầy cánh ngắn chiếm chủ yếu. Rầy trưởng thành có xu thế bay vào
đèn mạnh. Đây là một đặc tính dùng trong việc dự tính dự báo rầy nâu.
Sự xuất hiện và gây hại của nhóm rầy hại thân lúa còn phụ thuộc vào
giống lúa và giai đoạn phát triển để thiết lập mật số. Theo Đặng Thị Dung và
cs (2010) cho biết trong điều kiện thời tiết 2007 ở Gia Lâm - Hà Nội, rầy nâu
xuất hiện trên hầu hết các giống ngay từ giai đoạn lúa đẻ nhánh (trừ giống
Khang Dân). Mật độ rầy tăng dần theo sự sinh trưởng của cây lúa. Trên 10
giống lúa điều tra, rầy nâu phát triển trên giống DT 21 và nếp 451 nhanh hơn
so với trên các giống khác. Đỉnh cao mật độ rầy nâu tương ứng với giai đoạn

giữa tháng 5 hại trên lúa xuân và lứa 5 vào cuối tháng 8 giữa tháng 9 gây hại
nặng cho lúa mùa. Rầy lưng trắng hại nặng trên lúa lai, thuần thơm, ruộng
thâm canh cao bón quá nhiều đạm. Điều kiện thời tiết nắng mưa xen kẽ, nhiệt
độ từ 25 - 30
o
C thích hợp cho rầy phát triển (Chi cục Bảo vệ thực vật Nam
Định, 2012).
Theo Nguyễn Như Cường và cs (2009) đã khẳng định rầy lưng trắng
là môi giới truyền bệnh “lùn lụi” hại lúa ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung,
thời gian cây lúa ủ bệnh từ 9 - 12 ngày.
Qua thí nghiệm tìm hiểu thời gian ủ bệnh trong cơ thể rầy lưng trắng
được tiến hành tại nhà lưới Viện Bảo vệ thực vật trong vụ lúa mùa 2010 đã ghi
nhận rầy lưng trắng non và trưởng thành đều truyền được bệnh lùn lụi ở lúa.
Tuy nhiên rầy trưởng thành có hiệu quả truyền bệnh cao hơn so với rầy non.
Rầy trưởng thành cánh dài có thể di chuyển xa và mang nguồn bệnh từ vùng
này qua vùng khác, từ vụ này qua vụ khác là rất nguy hiểm và là đối tượng
chính cần kiểm soát để hạn chế tác hại của bệnh (Ngô Vĩnh Viễn, 2011).
Rầy nâu nhỏ (Rầy xám) mức độ phổ biến không nhiều trên đồng ruộng

Trích đoạn Điều tra diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa trên đồng Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa Kích thước các pha bọ xít mù xanh C.lividipennis Tương quan mật độ giữa nhóm rầy hại thân lúa và bọ xít mù
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status