BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
= = =
= = =
BÙI THỊ TƯƠI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT THUỐC LÀO TẠI HUYỆN VĨNH BẢO,
HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học
vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc. Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2015
TÁC GIẢ
Bùi Thị Tươi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập nghiên cứu và viết luận văn thạc sỹ, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều phòng, ban, ngành và cá nhân.
Trước hết cho phép tôi cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát
triển nông thôn đã dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khoá học thạc sỹ này. Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn TS. Nguyễn Viết Đăng, các thầy cô
trong bộ môn Kinh tế Nông nghiệp và Chính sách, Học viện Nông Nghiệp Việt
Nam đã tận tình đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Vĩnh Bảo, các phòng, ban ngành
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất thuốc lào 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Nội dung phát triển sản xuất thuốc lào 6
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của phát triển sản xuất thuốc lào 13
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất thuốc lào 20
2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất thuốc lào 24
2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất thuốc lào trên thế giới 24
2.2.2 Tình hình phát triển sản xuất thuốc lào tại Việt Nam 25
2.2.3 Một số nghiên cứu về sản xuất thuốc lào 33
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 35
3.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá 37
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu và thông tin 44
3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 45
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Thực trạng phát triển sản xuất thuốc lào tại huyện Vĩnh Bảo- Hải Phòng. 47
4.1.1 Quy hoạch và thực hiện quy hoạch sản xuất thuốc lào ở huyện Vĩnh
Bảo, thành phố Hải Phòng 47
4.1.2 Nguồn giống cho phát triển sản xuất thuốc lào ở huyện Vĩnh Bảo,
thành phố Hải Phòng. 50
4.1.3 Vật tư, phân bón cho phát triển sản xuất thuốc lào 53
4.1.4 Kỹ thuật sản xuất, chế biến và tiếp cận khoa học kỹ thuật cho phát triển sản
xuất thuốc lào tại huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. 55
4.1.5 Kết quả và hiệu quả sản xuất thuốc lào 59
2013 39
3.4 Cơ cấu kinh tế huyện Vĩnh Bảo, 2011- 2013 43
3.5 Phân bổ mẫu điều tra tại huyện Vĩnh Bảo, thành phốHải Phòng 44
4.1 Diện tích trồng thuốc lào một số xã trên địa bàn của huyện Vĩnh Bảo
qua 3 năm 2011-2013 47
4.2 Nguồn giống cho phát triển sản xuất thuốc lào tại các hộ điều tra của
huyện Vĩnh Bảo 52
4.3 Kết quả điều tra về sử dụng giống của huyện Vĩnh Bảo 52
4.4 Tình hình sử dụng phân bón cho thuốc lào theo nhóm hộ điều tra 54
4.5 Diện tích, năng suất, sản lượng thuốc lào của huyện Vĩnh Bảo trong 3
năm 2011 – 2013 59
4.6 Thực trạng sản xuất và chế biến thuốc lào của các hộ 60
4.7 Sự biến động của giá thuốc lào trong 3 năm 2011 - 2013 62
4.8 Tình hình đầu tư cho sản xuất và chế biến thuốc lào của các hộ điều
tra (BQ/ sào) 66
4.9 Tình hình chung của các nhóm hộ điều tra trong huyện năm 2013 71
4.10 Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra trong huyện năm 2013 73
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước đang phát triển với nông nghiệp là ngành sản xuất vật
chất chính, giữ vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế cũng như xã hội. Chính vì
vậy việc đầu tư phát triển ngành nông nghiệp là rất cần được quan tâm. Trong đó
sản xuất thuốc lào cũng là lĩnh vực rất cần thiết cho Việt Nam nói chung và huyện
Vĩnh Bảo - Thành phố Hải Phòng nói riêng.
Thuốc lào được trồng ở Việt Nam từ năm Canh Tí, tức niên hiệu Vĩnh Thọ
ở Hải Phòng đã trở thành nghề truyền thống của hàng ngàn hộ nông dân cũng như
các cơ sở kinh doanh và kỹ thuật sản xuất thuốc lào nơi đây được truyền từ đời này
qua đời khác góp phần tạo nên tính chất đặc thù và danh tiếng của sản phẩm. Hiện
nay, thuốc lào Hải Phòng là loại cây trồng được chú trọng sản xuất bởi nó là loại
sản phẩm hàng hoá có giá trị cao. Sản phẩm thuốc lào có thị phần lớn và tiêu thụ
rộng rãi. Vùng trồng thuốc lào có doanh thu đạt trên 70 triệu đồng/ha/năm và thu
nhập từ thuốc lào chiếm 50-60% tổng thu nhập của nông hộ. Tuy mang lại hiệu quả
kinh tế cao và được trồng ở nước ta từ rất lâu, song những nghiên cứu về cây
thuốc lào tại Việt Nam còn rất hạn chế. Do đó nguồn gốc, phân loại, các giống
thuốc lào phổ biến hiện nay, cũng như tình hình sản xuất, kinh doanh cây thuốc lào
còn thiếu thông tin, nên nhiều tài liệu chưa thống nhất…
Đặc biệt ở huyện Vĩnh Bảo do đặc thù của đất đai, địa lý, khí hậu là nơi mà
thuốc lào sinh trưởng và phát triển tốt cho giá trị kinh tế khá cao so với việc sản
xuất các loại hoa mầu khác, và sản xuất thuốc lào tại các địa phương khác. Ngày
nay việc chuyên môn hóa vào sản xuất thuốc lào đã đem lại giá trị kinh tế khá cao
cho người nông dân ở huyện Vĩnh Bảo. Mặc dù giá trị sản xuất của thuốc lào là khá
lớn như vậy. Nhưng việc sản xuất phát triển thuốc lào vẫn chưa được triển khai
rộng rãi và chưa được quan tâm sát sao. Dẫn đến một số khó khăn bất cập trong quá
trình sản xuất thuốc lào. Làm thế nào để khai thác triệt để được giá trị kinh tế của
thuốc lào. Để quá trình sản xuất đó trở thành ngành sản xuất chính trong lĩnh vực
nông nghiệp của bà con nông dân huyện Vĩnh Bảo. Chính vì vậy em quyết định lựa
chọn tên đề tài : “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất thuốc lào tại huyện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Vĩnh Bảo, Hải Phòng"
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tình hình phát triển sản xuất thuốc lào của huyện Vĩnh Bảo những
năm qua, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất thuốc lào trong thời
Vĩnh Bảo?
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản xuất thuốc lào của
huyện? Phát triển sản xuất thuốc lào có phải là thế mạnh trong sản xuất nông
nghiệp, trong phát triển kinh tế hay không?
- Giải phát nào cần thiết để phát triển sản xuất thuốc lào của huyện?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỀN
VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT THUỐC LÀO
2.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất thuốc lào
2.1.1. Các khái niệm cơ bản
Khái niệm về thuốc lào
Là một loài thực vật thuộc chi thuốc lá (Nicotiana). Loài này có hàm
lượng nicotin rất cao. Lá của nó ngoài việc dùng để hút còn sử dụng rộng rãi trong việc sản
xuất các thuốc trừ dịch hại hữu cơ. Thuốc lào có hàm lượng nicotine khoảng 9%, cao hơn
nhiều so với thuốc lá thông thường (khoảng 1 - 3%), (Đào Duy Anh, 2002).
Khái niệm về phát triển
Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng
tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu, (Nguyễn
Quang Hạnh và cộng sự, 2006).
Khái niệm về phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất là khái quát những vận động trong quá trình sản xuất theo
chiều hướng từ thấp lên cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn
thiện hơn. Để nhằm giúp cho quá trình sản xuất ngày một đem lại hiệu quả kinh tế
cao hơn về năng xuất, chất lượng, giá cả…(Nguyễn Đăng Hải, 2001).
giá cảm quan, chỉ tiêu lý hóa, đặc tính sinh học và nông học của sản phẩm thuốc lào
Vĩnh Bảo và quy trình sản xuất, chế biến quy định tính đặc thù của sản phẩm này.
Để hoàn thiện hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý Vĩnh Bảo cho sản phẩm thuốc lào trình
Cục Sở hữu trí tuệ xét duyệt và cấp bằng, Ban Chủ nhiệm dự án phối hợp cùng đơn
vị tư vấn (Concetti) xác định và xây dựng bản đồ khu vực trồng thuốc, xây dựng
quy chế quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm này nhằm bảo vệ, duy trì và phát huy
giá trị đối với sản phẩm đã được đăng ký.
- Căn cứ nghị quyết Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân huyện về “phương hướng
nhiệm vụ giải pháp phát triển kinh tế xã hội của huyện Vĩnh Bảo giai đoạn 2006 –
2010 về chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, mở rộng diện tích các loại
cây trồng chủ lực, như cây rau màu, cây truyền thống”. Trong đó việc sản xuất phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
triển thuốc lào cũng được đặc biệt quan tâm vì đây là cây nông nghiệp truyền thống
đem lại hiệu quả kinh tế khá cao trong sản xuất của người nông dân.
2.1.2.2 Giống thuốc lào
Các giống thuốc lào hiện đang được trồng là những giống đã có từ trước, tên
gọi các giống được trồng cũng được nông dân tự đặt tên theo từng địa phương.
Trong thời kỳ 2001 - 2004, Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá đã thu thập gần 100
dòng và đã chọn lọc được 20 dòng từ 3 nhóm giống phổ biến ngoài sản xuất. Các
dòng này đều có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt; năng suất và chất lượng bằng
hoặc cao hơn các giống đang trồng trong sản xuất. Các dòng này cũng đã được khảo
nghiệm tại xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo vụ Xuân 2004 và cho kết quả tốt. Hiện nay
Viện đang tiếp tục chọn lọc, so sánh và tiến hành lai tạo nhằm tạo giống thuốc
lào kháng bệnh, có năng suất cao và chất lượng tốt phục vụ sản xuất trong những
năm tới (Nguyễn Văn Biếu và cộng sự, 2005). Kết quả thí nghiệm giống trên 90
dòng được chia thành ba nhóm giống
Nhóm giống: Ré đen, Ré trắng và nhóm Tai voi theo đặc trưng về đặc điểm
giống.
Tại Thanh Hóa và Bắc Ninh, Thái Bình giống thuốc lào do nông dân tự đặt
tên như: giống Lá Tròn, giống Lá Dài. Song thực chất giống lá dài là giống Ré Đen,
giống lá tròn thuộc nhóm giống Tai Voi.
2.1.2.3 Vật tư, phân bón
* Phân bón cho thuốc lào
Phân Urê là một trong những đầu vào quan trọng của sản xuất nông nghiệp
nói chung và sản xuất thuốc lào nói riêng. Urê là loại phân bón vô cơ giàu Nitơ, có
ưu điểm là dễ dàng được hấp thu và không gây chua cho đất trồng, phù hợp để bón
trên nhiều loại đất khác nhau. Phân urê được các hộ sản xuất thuốc lào ở huyện
Vĩnh Bảo sử dụng để bón lót khi cây còn non và bón thúc khi cây đang trong giai
đoạn phát triển mạnh. Các hộ dân trong xã thường mua phân urê từ các cửa hàng
buôn bán vật tư nông nghiệp.
Khi bón nhiều phân urê năng suất cây trồng có thể tăng lên, song nếu bón
quá nhiều thì sẽ không có hiệu quả do mức chi phí bỏ ra để đầu tư phân quá cao so
với kết quả thu được.
Do là một nghề truyền thống, nên các hộ dân trong xã hầu như đã có kinh
nghiệm trong việc sử dụng liều lượng phân Urê một các hiệu quả. Hầu hết các hộ sử
dụng mức bón xoay quanh 50kg/sào. Mức bón có thể tăng hoặc giảm do sử dụng
thêm các loại phân khác, như phân lân và phân NPK.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Phân NPK là một trong những loại phân bón vô cơ thông dụng trong canh
tác nông nghiệp. NPK gồm có nhiều loại với các tỷ lệ pha trộn Nitơ, Phốt pho và
Kali khác nhau nhằm cung cấp đồng thời cả 3 yếu tố dinh dưỡng trên giúp cây trồng
phát triển tốt.
Tuy nhiên, phân NPK được các hộ trồng thuốc lào sử dụng với khối lượng khá
ít. Theo như ý kiến của các hộ dân trong huyện thì việc bón phân NPK hay không
không quan trọng vì cây thuốc lào ưa phân chuồng và phân đạm hơn. Bình quân mức
bón phân NPK cho cả 50 hộ ở mức 13kg/sào, hộ bón nhiều nhất là 20kg/sào.
2.1.2.4 Kỹ thuật trồng, chăm sóc
* Thời vụ trồng thuốc lào
Theo Dương Văn Hoài (2009), có hai vụ trồng thuốc lào chính là vụ Đông
Xuân (gieo hạt từ 15/10 – 30/11; trồng 1/12-15/1; thu hoạch 1/2-15/5) và vụ Hè Thu
(gieo hạt từ 1/3 – 15/4; trồng 15/4-30/5; thu hoạch 14/6-30/7). Miền Bắc trồng vào
vụ Đông Xuân, vùng Tây nguyên trồng vụ Hè Thu. Với thuốc lào, các vùng trồng
thuốc thường tiến hành gieo hạt giống vào khoảng 20/11 năm trước, sau khoảng 2
tháng khi cây giống đạt tiêu chuẩn, tiến hành nhổ cây giống và trồng vào khoảng
10-30/1 năm sau. Thông thường, thời vụ trồng thuốc vào lúc nhiệt độ thấp, thường
xuyên có những đợt rét đậm, thậm chí rét hại. Qua tổng kết thực tiễn sản xuất của
Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng, thời vụ trồng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh
trưởng và phát triển của cây; thời vụ trồng muộn lúc nhiệt độ tăng dần giúp cây sinh
trưởng tốt hơn song lại ảnh hưởng đến thời vụ của lúa mùa. Trong khoảng thời
gian trên, thời vụ trồng không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sản phẩm.
* Mật độ trồng thuốc lào
Cây thuốc lào hiện nay, theo tập quán canh tác tại Hải Phòng, thường được
trồng theo hai hàng chạy dọc luống theo hình nanh sấu, khoảng cách hàng x hàng từ
50-60 cm, cây cách cây 50cm. Mật độ khoảng 19.000 -22.000 cây/ha. Đối với cây
thuốc lào, đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào về mật độ trồng thuốc
lào ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thuốc lào, song theo kinh nghiệm
truyền thống thì trồng với mật độ cao hoặc quá thấp thì năng suất thương
phẩm sẽ càng giảm. Bên cạnh đó, trồng với mật độ cao sẽ gây khó khăn cho việc
chăm sóc, tỉa chồi và phòng trừ sâu bệnh cho cây.
* Các biện pháp diệt chồi thuốc lào
Bấm ngọn, diệt chồi là biện pháp bắt buộc đối với tất cả các hộ trồng.
Số lá trên cây khi bấm ngọn trung bình 24 lá và cây xuất hiện nụ hoa. Việc bấm
ngọn tức loại trừ ưu thế ngọn nên/lập tức các chồi bên được kích thích hình thành
nhanh chóng làm tổn hại đến năng suất và chất lượng. Việc đánh chồi là rất quan
trọng do vậy hộ nào cũng tiến hành, thường ngắt bỏ bằng tay: 3 - 5 ngày/lần.
Bấm ngọn, diệt chồi cũng có sự khác biệt theo vùng và có ảnh hưởng đáng
khoảng cuối tháng 4. Số lá chân bình quân là 5,4 lá/cây, dao động trong khoảng từ 3
– 8 lá/cây; thu hoạch lá chính và lá ngọn (cùng một lúc và chấm dứt vụ thu hoạch),
số lá chính và lá ngọn có khoảng từ 15-30 lá/cây, trung bình mỗi cây là 20 lá.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
- Ủ thuốc: Lá thu về được rọc bỏ sống lá, cuộn và ủ khoảng 5 ngày 4 đêm đến
khi thuốc vàng chín đều ta thái thành sợi. Nếu ủ ngắn ngày hơn, thuốc sẽ chưa chín
hoàn toàn, khi thái sợi thuốc vẫn xanh; nếu để ủ quá ngày sẽ làm lá thuốc bị thối.
- Thái (thành sợi thuốc). Sau khi cuộn thuốc được ủ chín (lá chín vàng đều)
tiến hành thái thuốc.Từ năm 2004 về trước thái thủ công bằng tay là chủ yếu; hiện
nay xuất hiện một vài hộ sản xuất thuốc có máy thái góp phần nâng cao hiệu suất
lao động và chất lượng sợi thành phẩm.
- Phơi thuốc.
Đây là kỹ thuật đơn giản song lại rất quan trọng quyết định đến chất lượng
thuốc. Tất cả các vùng trồng thuốc hiện nay đều phơi trên phên tre. Thời xa xưa, kỹ
thuật phơi rất cầu kỳ, người ta “hồ” lên trên phên thuốc để thuốc được ngon hơn.
Tuy nhiên hiện nay thì kỹ thuật này không được phổ biến.
Trong quá trình phơi thuốc, ta phải tiến hành phun nước (dạng sương) để làm
cho sợi thuốc dai, đanh… song đặc biệt là tránh mưa. Phơi thuốc vào những ngày
nắng nóng, đặc biệt vào thời điểm có gió Tây Nam, chất lượng thuốc lào tốt nhất.
Bên cạnh đó, trong quá trình phơi tuyệt đối tránh gặp mưa; nếu trong thời gian thái
xong mà thời tiết không thuận, buộc phải tiến hành các biện pháp phơi khác như:
sấy, hong…
- Đóng gói
Kỹ thuật đóng gói cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thuốc, nếu
ta đóng gói không tốt sẽ làm cho thuốc bị mất hơi, hút không ngon và thậm chí
còn dẫn đến thuốc bị mốc. Sau khi phơi khô xong, sợi thuốc được để nguyên trên
phên mang vào nhà, để cho thuốc dẻo lại là đủ điều kiện để đóng gói. Thời gian để
sợi thuốc dẻo và mềm tuỳ thuộc vào thời tiết, cụ thể là ẩm độ không khí. Ẩm độ không
con nông dân mắc phải tình trạng ép giá cả từ lái buôn.
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của phát triển sản xuất thuốc lào
a. Đặc điểm thực vật học của thuốc lào
Cây thuốc lào có tên khoa học là NicotianarusticaL.họ Cà Solanaceae. Cây
thảo mọc hàng năm, cao chừng 1m, thấp hơn cây thuốc lá. Toàn cây có lông
dính. Lá mọc so le, có cuống dầy, phiến lá hình trứng đầu nhọn, to và dày hơn lá
cây thuốc lá. Cụm hoa là một cờ ở ngọn thân, hay cành. Cánh hoa màu vàng hay
lục sẫm dính liền nhau thành ống ở dưới, phía trên chia 5 thuỳ, tròn, ngắn. Quả
nang hình trứng hoặc gần hình cầu có đài còn lại bọc ở ngoài, chứa nhiều hạt nhỏ
màu đen.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Về mặt nguồn gốc, tất cả 65 loài đã phát hiện thuộc chi thuốc lá (nicotiana) đều
có xuất xứ từ châu Mỹ, châu Phi và điều đặc biệt nữa là cả 2 loài (Nicotiana
tabacum và nicotiana rustica) đều không tìm thấy mọc ở dạng hoang dại.
Thuốc lào có hàm lượng nicotin rất cao. Lá của nó ngoài việc dùng để hút
còn sử dụng rộng rãi trong việc sản xuất các thuốc trừ dịch hại hữu cơ. Thuốc lào có
hàm lượng nicotine khoảng 9%, cao hơn nhiều so với thuốc lá thông thường
(khoảng 1 - 3%).
• Rễ thuốc lào
Rễ thuốc lào là một hệ thống bao gồm: rễ cái (rễ trụ), rễ nhánh (rễ bên) và rễ
hấp thu. Ngoài ra, thuốc lào còn có rễ bất định nằm ở cổ rễ, phần trên sát mặt đất.
Rễ trụ được hình thành từ phôi rễ. Rễ nhánh được phát sinh từ trục của rễ cái,
thường có độ xiên 30 – 40o. Rễ hấp thu được phát triển trên các rễ nhánh, có
nhiệm vụ cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây. Rễ bất định mọc từ thân, những
rễ bất định ở phần sát gốc dễ phát sinh thành rễ hút khi đô ẩm không khí cao. Rễ
thuốc lào tập trung dầy đặc ở lớp đất 0 – 30cm, phát triển theo các hướng. Rễ
thuốc lào là cơ quan sinh tổng hợp nicotin. Nicotin được vận chuyển từ rễ và tích
tụ trên thân, lá thuốc lào.
So với trồng lúa và các cây rau màu khác thì trồng thuốc lào vất vả hơn rất
nhiều. Bà con phải thường xuyên bẻ chồi phụ (chánh), cứ đều đặn tuần một lần
để tập trung phát triển cho thân chính. Rồi đến công việc làm cỏ, tưới nước, phun
thuốc chống rầy, bón phân… Từ khi trồng đến khi thu hoạch, lúc nào người nông
dân cũng "đầu tắt mặt tối" chăm sóc sao cho cây thuốc lào mang lại năng suất
cao nhất.
Từ lúc trồng là vào đầu tháng 11 năm này cho tới tháng 4, tháng 5 năm sau,
ngày nào cũng cần phải chăm sóc.
Bắt đầu gieo hạt từ đầu tháng 10 dương lịch, nếu muộn là tháng 12, để tránh
sương muối, mỗi luống được che đậy rất cẩn thận.
Sau một thời gian, khi cây đã có từ 2 - 3 lá thì bắt đầu quá trình giâm. Điều
này sẽ làm cây phát triển tốt hơn, không héo. Khoảng 15 - 20 ngày sau thì bắt đầu
cày đất, vun luống, đổ hốc, bón phân và bắt đầu trồng.
• Chọn đất và làm đất trồng
- Chọn đất: Cây thuốc lào phù hợp với đất thịt nhẹ, thịt trung bình, cát pha, đất
bãi bồi. Đất không chua, nhiễm mặn, phèn. Không chọn đất bị ngập, úng. Để có năng
suất cao và giảm chi phí đầu tư chọn đất gần nguồn nước tưới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16
- Làm đất: Đất tơi, xốp, sạch cỏ và lên luống trước khi trồng là điều kiện rất
quan trọng để cây thuốc lào phát triển tốt, giảm nhẹ công lao động khi xới xáo, bón
phân và tưới tiêu nước. Đất cày 2 lần vuông góc nhau, mỗi lần cách nhau ít nhất 10
ngày cho ải đất, chết cỏ. Lần 3 cày lên luống, đỉnh luống này cách đỉnh luống kia
0,8 - 1,0 m, mương luống rộng 0,2 -0,3 m. Nên cày bằng máy cày đại để đất cày
được sâu (20-30cm) và lên luống được to. Khi cày lên luống nên tính trước mương
tưới, mương tiêu. Sửa vét lại luống và nhặt sạch cỏ trước khi trồng.
• Trồng
- Nếu trời mưa nhẹ, đất đủ ẩm trồng thẳng giữa sườn luống.
- Nếu đất khô, dẫn nước vào rãnh cho ngập khoảng 1/3 – 1/2 luống, trồng
+ Lần 1: 10 - 15 ngày sau trồng, 25% đạm + 25% kaly + 100% lân. Bón cách
gốc 5cm
+ Lần 2: 20 - 25 ngày sau trồng, 25% đạm + 25% kaly. Bón cách gốc 10cm.
+ Lần 3: 30 - 35 ngày sau trồng, 50% đạm + 50% kaly. Bón cách gốc 20cm.
• Tưới và tiêu nước
Không thể có năng suất cao, chất lượng tốt nếu cây thuốc lá bị thiếu nước
hoặc dư nước (ngập úng 1 - 2 ngày cây héo rủ, chết). Số lần tưới và lượng nước tưới
tuỳ thuộc độ ẩm đất và thời tiết. Kể từ sau trồng đến 10 ngày ẩm độ đất thích hợp 80
- 90%, từ 10 - 40 ngày ẩm độ đất 60 - 65% (giữ cho hơi thiếu ẩm để tạo hệ thống rể
phát triển và xuống sâu), từ 40 – 60 ngày là thời gian thân lá phát triển mạnh cần
nhiều nước độ ẩm đất thích hợp 80 – 85%, từ sau 60 ngày giữ ẩm độ đất từ 65 –
70%. Sau mỗi lần bón phân, bẻ thuốc nếu đất khô phải tưới nước ngay.
Khi tưới nước theo rãnh chỉ để nước ngập từ ½ đến ¾ luống, không để nước
tràn lên mặt luống.
• Phòng trừ sâu bệnh
- Khi sâu bệnh xuất hiện cây đã bị ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng,
việc xử lý càng tốn kém và ít hiệu quả khi cây càng lớn.Vì vậy việc phun thuốc
đúng lúc là biện pháp hữu hiệu, kinh tế, an toàn nhất để phòng trừ sâu bệnh.
- Sâu: Các loại sâu hay cắn phá gây hại cho cây thuốc là sâu xanh, sâu
khoanh, sâu chùm, bọ trĩ, rệp, rầy mền… Để xử dụng thuốc hoá học có hiệu quả cần
nhất là phải phát hiện sớm, phun thuốc khi sâu rầy tuổi còn non.
- Bệnh: Các loại bệnh thường hay gặp và gây ảnh hưởng lớn là: Lở cổ rễ,
Thối đen rễ, Đốm mắt cua, Đốm nâu…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 18
Việc phun thuốc định kỳ phòng trừ bệnh rất tốt, và có tác dụng phòng trừ
sâu, rầy. Việc kết hợp giữa thuốc sâu + bệnh nhằm giảm bớt công lao động. Chú ý
chỉ phối hợp thuốc với những loại thuốc có thể kết hợp (theo hướng dẫn được ghi ở
nhãn thuốc hoặc của cán bộ kỹ thuật).