BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐẶNG THU TRANG
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA NHỆN CÁM TYROPHAGUS PUTRESCENTIAE SCHRANK
TẠI HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN 2014
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỖ:60.62.01.12 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN VĂN ĐĨNH
HÀ NỘI, 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
hướng dẫn, của các tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS. TS.
Nguyễn Văn Đĩnh – Học Viện Nông Nghiệp Hà Nội đã dành cho tôi sự chỉ
dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu hoàn
thành đề tài.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn
trùng – Khoa Nông Học – Học Viện Nông Nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn Ths. Lê Đắc Thủy người đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian thực tập nghiên cứu và hoàn thành đề tài. Qua đó cũng đã
truyền đạt cho tôi rất nhiều kinh nghiệm và những kiến thức bổ ích.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người
thân và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành bài báo cáo này.
Hà Nội, ngày 08 tháng 04 năm 2015
Tác giả luận văn
Đặng Thu Trang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vii
MỞ ĐẦU 1
3.1.3. Đặc điểm hình thái và các pha phát triển của nhện cám
Tyrophagus putrescentiae. 23
3.2. Diễn biến mật độ nhện hại nông sản 26
3.2.1. Trên cám gà con/gram cám 26
3.2.2. Trên cám lợn 32
3.2.3. Trên cám gạo, ngô 35
3.3. Một số đặc điểm sinh học của nhện cám T. putrescentiae 37
3.3.1. Thời gian phát dục của nhện cám tại nhiệt độ trung bình là
24,26oC;29,42oC và ẩm độ 97% 37
3.3.2. Thời gian phát dục của nhện cám T. putrescentiae trên 2 loại
thức ăn là cám C225, cám C16 ở nhiệt độ trung bình là 27,5
o
C ± 0,21
ẩm độ 97% 38
3.3.3. Nhịp điệu sinh sản và sức sinh sản của nhện cám
T.putrescentiae nhiệt độ trung bình là 24,26oC;29,42oC và
ẩm độ 97% 39
3.3.4. Tỷ lệ trứng nở của nhện cám 41
3.4. Sự gia tăng quần thể của nhện cám 42
3.4.1. Trên các loại cám khác nhau 42
3.4.2. Sức tăng quần thể của nhện cám T.putrescentiae trên
thức ăn cám lợn 43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
Kết luận 45
Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
C và ẩm độ 97%, thức ăn là cám C225 37
3.13. Thời gian phát dục của nhện cám trên 2 loại thức ăn là cám C225, cám
C16 ở nhiệt độ trung bình là 27,5
o
C ± 0,21 ẩm độ 97% 38
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
3.14. Số lượng trứng đẻ trong ngày của nhện cám ở nhiệt độ 25,63
o
C;
28,92
o
C và ẩm độ 97% 40
3.15. Tỷ lệ trứng nở của nhện cám ở nhiệt độ 24,86
o
C;29,68
o
C và ẩm độ 97%
41
3.16. Mật độ trứng và nhên non và nhện trưởng thành của nhện cám trên các
loại cám khác nhau sau 7 và 14 ngày nuôi 42
3.17. Sức tăng quần thể của nhện cám T. putrescentiae trên cám lợn thịt C 16
sau 7 ngày trong phòng thí nghiệm ở nhiệt độ trung bình 29,61 ±
2,72ºC 43Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC HÌNH
Cs : cộng sự
CT : công thức
TN : thí nghiệm
NXB : nhà xuất bản
BVTV : bảo vệ thực vật
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp có nền văn minh lúa nước lâu đời.
Cây lúa gắn liền với đời sống của người dân Việt Nam. Việt Nam từ một
nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới kết quả xuất
khẩu gạo năm 2012 đạt 7,720 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới sau Ấn Độ
(Theo hiệp hội lương thực Việt Nam, 2013).
Cây lúa là một trong những cây có nhiều dịch hại nhất. Trong đó có nhện
gié, đây là đối tượng gây hại khá mới nhưng sự gây hại của chúng theo chiều
hướng ngày một nghiêm trọng. Nhện gié Steneotarsonemusspinki Smiley xuất
hiện đầu tiên ở vùng Đông Nam Á (Ochoa et al., 2004). Ở Trung Quốc,
Phillippin, Đài Loan đã ghi nhận sự xuất hiện của nhện gié từ những năm
1993 (Smiley, 1993). Ký chủ chính của nhện gié là lúa nước Oryzaesativae L.
Ở nước ta, nhện gié được ghi nhận gây hại trên lúa ở Thừa Thiên Huế (Ngô
Đình Hòa, 1992) và ở vùng Hà Nội (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994). Diện tích và
mức độ gây hại của nhện gié ngày một tăng. Năm 2010, theo số liệu thống kê
của Cục Bảo vệ thực vật, cả nước có trên 64.800 ha bị nhiễm nhện gié, tăng
25 lần so với năm 2009 (Dương Tiến Viện và cs, 2012). Nhiều nơi ở đồng
bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng đã phải phun thuốc trừ nhện
gié từ 1- 4 lần trong 1 vụ. Việc tăng số lần phun thuốc tiềm ẩn nguy cơ lớn là
loài nhện gié rất dễ trở nên kháng thuốc.
Do đó, cần chú trọng tới việc nghiên cứu để tiến tới sử dụng biện pháp
1.3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Những kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung một số dẫn liệu khoa học
về mức độ gây hại của nhện cam Tyrophagus putrescentiae, về đặc điểm hình
thái, đặc điểm sinh học của loài nhện cám Tyrophagus putrescentiae tại Khoái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
Châu – Hưng Yên làm cơ sở cho công tác biên soạn bài giảng và giáo trình,
phục vụ nghiên cứu và giảng dạy.
- Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả điều tra về triệu chứng gây hại, sư xuất hiện và diễn
biến mật độ của loài nhện cám Tyrophagus putrescentiae hại nông sản sẽ giúp
các hộ chăn nuôi nhận biết được tác hại của loài nhện cám nay và mức độ gây
hại của chúng trên các loại nông sản khác nhau. Để họ đưa ra biện pháp bảo
quản nông sản tốt nhất. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai
để trồng trọt và chăn nuôi. Sản xuất nông nghiệp khai thác cây trồng và vật nuôi
làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và
một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn,
bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản, theo nghĩa
rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản.
Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống,
trên toàn thế giới. Khoảng 400 loài nhện acarid thuộc 90 giống đã được ghi
nhận trên thế giới, ngoài ra còn nhiều loài khác vẫn chưa được phát hiện, đặc
biệt là ở các vùng nhiệt đới.
Giống Tyrophagus thuộc họ Acaridae của bộ Ve bét Acarina. Phần lớn
là các loài nhện ăn nấm, nhện kho; chúng thường được tìm thấy nhiều trong
các thực phẩm lưu trữ và phân hủy chất hữu cơ, một số loài sống bằng cây cỏ.
Nhiều loài khác cộng sinh với côn trùng hoặc động vật có xương sống khác.
Giống Tyrophagus là thành phần quan trọng nhất của Acaridae, đây là
giống gây hại nặng nhất về kinh tế khi chúng sinh sống trong các thực phẩm khô
và các sản phẩm bảo quản trong kho; một số loài Tyrophagus có thể gây hại kinh
tế cho cây trồng, bao gồm cả hoa trang trí và rau trồng trong nhà kính.
Tyrophagus putrescentia được mô tả lần đầu tiên bởi Franz von Paula
Schrank vào năm 1781, dưới tên Acarus putrescentia tuy nhiên những mô tả
ban đầu về loài này còn rất hạn chế. Tuy nhiên tên này được duy trì trong
nhiều tổ chức nghiên cứu, các công ty thương mại và được giao dịch như là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
một nguồn nhện gây dị ứng, thức ăn cho họ nhện bắt mồi Phytoseiidae được
sử dụng trong kiểm soát sinh học và nghiên cứu sinh học phân tử. Năm1906,
Anthonie Cornelis Oudemans xem Acarus putrescentia như một loài "không
xác định", và dựa trên sự giống nhau về môi trường sống, ông nhận định loài
này có khả năng giống với Tyroglyphus longior Gervais, tuy nhiên, sau đó lại
coi như đây là phân giống mới của giống Tyrophagus Oudemans. Vị trí phân
loại của loài này như sau:
Giới: Đông vật Animalia
Ngành: Chân đốt Arthropoda
Lớp: Nhện Arachnida
Bộ: Ve bét Acarina
Họ : Acaridae
Giống: Tyrophagus
a. Tác hại
Nhện cám Tyrophagus putrescentiae phân hủy các chất hữu cơ trong
đất, gây tổn hại chất lượng, số lượng của các sản phẩm lưu trữ; làm suy giảm
về chất lượng và nảy mầm sức mạnh của hạt.
Trong các loài nhện cám, Tyrophagus putrescentiae, là một trong
những nguyên nhân quan trọng gây rối loạn dị ứng. 15% chất gây dị ứng đã
được chứng minh có trong nhện này, nhưng chỉ có 2 nhóm chất gây dị ứng
Tyr p 2 đã được sử dụng (Jeong et al. 2005). Trong một nghiên cứu khác về
sự mẫn cảm T. putrescentiae với công dân đô thị Upper Silesia, Ba Lan,có
56,7% (17/30) bệnh nhân dương tính với xét nghiệm da cho thấy có phản ứng
chéo với các kháng nguyên cụ thể được phân lập từ chiết xuất của T.
putrescentiae; 40% phản ứng cụ thể với các chất gây dị ứng mới được xác
định là thành phần protein chiết xuất từ phân của Tyrophagus putrescentiae.
T. putrescentiae cũng là loài nhện gây hại phổ biến và quan trọng, tham
gia vào việc làm phát tán cỏ dại ở khắp các cơ sở trồng nấm (Czajkowska,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
2002). Loài này còn ăn các loại nấm mốc khác nhau (Eutorium và
Penicillium), Fusarium, Alternaria, Geotrichum, Mucor và Trichophyton
(Czajkowska, 1970; Smarz & Catska, 1987; Duek et al., 2001. Hubert et al.
2004). T. putrescentiae là một dịch hại gây ảnh hưởng tới quần thể nấm tuy
nhiên trong tương lai, có thể sử dụng loài này trong kiểm soát sinh học
(Duek et al., 2001).
Tyrophagus putrescentiae cũng là một dịch hại chính của cây cảnh
trong nhà kính và đã được tìm thấy trong hoa của các loài hoa đồng tiền, hoa
Narine và chồi của hoa Kalanchoe (Czajkowska et al.,1988). Loài này cũng
đã được có mặt trên phấn hoa. Chmielewski (1995) cho thấy phấn hoa do ong
thu thập là một món ăn hấp dẫn đối với T. putrescentiae.
Gazeta et al., 2000 đã chứng minh có mối liên hệ giữa T. putrescentiae và vi
khuẩn gây bệnh và vi sinh vật khác, chẳng hạn như Klebsiella sp., Pseudomonas
không có thức ăn. Trong điều kiện ẩm ướt (độ ẩm 90% đến 100%) và nhiệt độ
mùa hè ấm áp, một thế hệ có thể được hoàn thành trong 8-21 ngày, sinh sản dễ
dàng ở 30 ºC, trong điều kiện thuận lợi nhện cái có thể đẻ trung bình 437 quả
trứng. Khi nhiệt độ giảm, chu kỳ sống của loài tăng đáng kể, ít chịu được nhiệt
độ thấp và không thể phát triển dưới 10 º C. Tuy nhiên, trong trạng thái không
hoạt động, loài nhện này có thể tồn tại ở 0 ºC (Mueller et al.).
Ẩm độ có ảnh hưởng lớn tới khả năng sinh sản, phát triển của nhện cám
Tyrophagus putrescentiae, (Ismael et al., 2007) qua nghiên cứu đã chỉ ra
rằng, ở các mức ẩm độ khác nhau thì khả năng phát triển của loại nhện này
khác nhau. Cụ thể là ở ẩm độ 70% chúng đẻ trứng kém, sinh trưởng kém đi,
và khi ẩm độ tăng lên các hoạt động sống cũng tăng, khả năng sinh sản tăng.
Nhện cám Tyrophagus putrescentiae sinh sống trong các môi trường
khác nhau như: các sản phẩm lưu trữ (Czajkowska et al., 1988), nấm trồng
(Fleurat-Lessard & Nail, 1976)., bụi nhà (Berardino et al., 1987; Hurtado &
Parini, 1987) nhà kính, đất, rêu, tổ các loài động vật khác…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
Thức ăn chính của nhện cám Tyrophagus putrescentiae là các loại thực
phẩm lưu trữ, thức ăn có hàm lượng chất béo và protein cao như: bột, ngũ
cốc, thức ăn vật nuôi, và nấm mốc (Chambers, 2002). Các loại thực phẩm có
độ ẩm lớn hơn 14% và độ ẩm không khí tương đối khoảng 60 – 80% tạo môi
trường thuận lợi cho loài này phát triển.
Canfield, Wrenn (2010) nghiên cứu xác định sự phát triển nhện cám
Tyrophagus putrescentiae trên thức ăn chó và ảnh hưởng của nấm mốc tới sự
phát triển của nhện. Nghiên cứu cho thấy nhện cám T. putrescentiae là một
loài nhện hại kho có thể sinh trưởng và phát triển trên thức ăn cho chó ngoài
ra sự có mặt của nấm mốc ảnh hưởng tích cực đến khả năng tồn tại của nhện
và khi độ ẩm tương đối thấp có thể dẫn đến những hậu quả bất lợi cho nhện
cám T. putrescentiae.
Mẫu sống của nhện cám Tyrophagus putrescentiae được thu thập từ các
• Nhện gié
- Mức độ gây hại
Nguyễn Văn Đĩnh và cs., (2006), mức độ thiệt hại do nhện gié gây ra vào
2 giai đoạn khác nhau là khác nhau. Ở giai đoạn 25 ngày sau cấy mức độ thiệt
hại ứng với các giống lúa KD18, IR352, XM là 29,4; 32,3 và 26,1%. Trong
khi lây nhiễm vào giai đoạn 55 ngày sau cấy, mức độ thiệt hại chỉ có 7,5%
trên giống KD18; 9,6% trên giống IR352 và 13,5% trên giống XM.
- Đặc điểm sinh thái và đặc điểm sinh học
Vòng đời của nhện gié S. spinki trải qua bốn pha phát dục: trứng, nhện non
di động, nhện non không di động và nhện trưởng thành. Trong đó nhện non
không di động đóng vai trò như pha nhộng của bộ cánh cứng vì mọi sự
chuyển hóa về chất trong cơ thể giúp nhện non lột xác hóa trưởng thành đều
diễn ra ở pha này. Nhện non không di động lột xác hóa trưởng thành tương tự
các loài khác thuộc họ Tarsonemidae (Dương Tiến Viện và cs.,2012)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
Nhện thuộc họ Tarsonemidae có tính dị hình rõ rệt. Con đực phía cuối có
cấu tạo đặc thù được gọi là u lồi sinh dục hay đĩa sinh dục. Trong đĩa này có
dương cụ hình kim. Con cái có cấu tạo đặc trưng, hình chùy được gọi là lỗ thở
giả nằm giữa đốt háng thứ I và II. Lỗ thở là điểm đặc trưng của con cái, nằm ở
bên lưng gần mép của propodosoma (Nguyễn Văn Đĩnh., 2005)
Nhện gié là loài dịch hại nguy hiểm có vòng đời ngắn, trung bình 9,33
± 1,29 ngày ở điều kiện 24,6 ± 1,23
o
C và 5,83 ± 0,55 ngày ở 29,9 ± 1,02
o
C
(Nguyễn Văn Đĩnh và Trần Thị Thu Phương, 2006)
Điều kiện thời tiết nóng khô thích hợp cho nhện gié phát triển gây hại.
Trong vụ hè thu nhện thường phát sinh gây hại vào tháng 5 - 6 lúc lúa có
huệ, phong lan…
- Hai loài nhện trắng Eriophies sp. và Polyphagotarsonenus sp. Gây hại
trên cây hành, ớt
- Nhện đỏ nâu Oligonychus coffea hại chè
- Nhện trắng Hermitarsonenus latus hại trên cây cao su
- Nhện đỏ Panonychus citri, nhện vàng Phyllocoptruta oleivora và nhện
trắng Polyphgustarsonenus latus hại nạng trên cam chanh
- Nhện lông nhung Eryophyes litchi gây hại trên cây vải
Hiện nay những thiệt hại do nhện nhỏ hại đang có xu hướng ngày càng gia
tăng, gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhện cám Tyrophagus putrescentiae.
- Thời gian: từ 2013 - 2014
- Địa điểm nghiên cứu: Trạm bảo vệ thực vật Văn Giang; Khoái Châu,
Hưng Yên; Phòng thí nghiệm Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.
- Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu:
+ Vật liệu: cám gạo, cám gà công nghiệp, cám lợn công nghiệp, cám ngô
+ Dụng cụ nghiên cứu: tủ định ôn, kính lúp soi nổi có độ phóng đại 40
lần, panh, dao tem, giấy thấm, đĩa petri, kim côn trùng, bút lông chuyển nhện,
khay, máy ảnh,
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Diễn biến mật độ loài nhện cám gây hại phổ biến trên các loại cám nuôi
Hình 2.1. Nhân nguồn nhện cám Tyrophagus putrescentiae
2.3.3. Phương pháp nuôi sinh học xác định các pha phát dục của nhện cám
Tyrophagus putrescentiae
- Loại cám được sử dụng là C 225