hoàn thiện cơ chế một cửa trong cải cách thủ tục hành chính tại ubnd cấp huyện tỉnh hải dương - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐINH ĐỨC TOÀN

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ “MỘT CỬA” TRONG CẢI CÁCH
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI UBND CẤP HUYỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 60.34.04.01

Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. NGUYỄN VĂN SONG HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện của bạn bè, đồng nghiệp
và người thân trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài.

Hải Dương, ngày 10 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Đinh Đức Toàn Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình x
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

hành chính tại UBND cấp huyện tỉnh Hải Dương 46
4.2.1 Đánh giá hoạt động liên hệ, nộp hồ sơ của công dân 46
4.2.2 Đánh giá công tác kiểm tra, xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, hướng dẫn,
bổ sung và nhận hồ sơ 48
4.2.3 Đánh giá công tác phân loại và chuyển hồ sơ của bộ phận "một cửa" 54
4.2.4 Đánh giá công tác bộ phận xử lý về giải quyết hồ sơ 54
4.2.5 Đánh giá công tác trả hồ sơ, nhận kết quả 56
4.2.6 Đánh giá công tác niêm yết công khai; rà soát, cắt giảm các thủ tục
hành chính 58
4.2.7 Đánh giá về thiết bị, hệ thống mạng 59
4.2.8 Đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng, chế độ đãi ngộ cán bộ, công chức 60
4.2.9 So sánh việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính trước và sau khi
thực hiện cơ chế “một cửa” 62
4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện “cơ chế” một cửa
trong cải cách thủ tục hành chính 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

4.3.1 Chính sách về cắt giảm thủ tục hành chính 65
4.3.2 Trình độ, năng lực của cán bộ, công chức và chế độ đãi ngộ 66
4.3.3 Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn 68
4.3.4 Trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ bộ phận “một cửa” 68
4.3.5 Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra 69
4.3.6 Công tác thông tin, tuyên truyền về cải cách thủ tục hành chính theo
cơ chế "một cửa" 70
4.4 Giải pháp hoàn thiện cơ chế "một cửa" trong cải cách thủ tục hành
chính tại UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hải Dương 70
4.4.1 Định hướng 70
4.4.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế "một cửa" trong cải cách thủ tục
hành chính tại UBND cấp huyện tỉnh Hải Dương 71
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

4.1 Tổng hợp chất lượng đội ngũ cán bộ làm việc của bộ phận “một cửa”
tại UBND cấp huyện 37
4.2. Tổng hợp cơ sở vật chất, trang thiết bị của bộ phận “một cửa” tại
UBND cấp huyện 38
4.3 Tổng hợp kết quả giải quyết thủ tục hành chính của bộ phận “một
cửa” tại UBND thành phố Hải Dương 43
4.4 Tổng hợp kết quả giải quyết thủ tục hành chính của bộ phận “một
cửa” tại UBND thị xã Chí Linh 43
4.5 Tổng hợp kết quả giải quyết thủ tục hành chính của bộ phận “một
cửa” tại UBND huyện Ninh Giang 44
4.6 Tổng hợp kết quả giải quyết thủ tục hành chính của bộ phận “một
cửa” tại UBND huyện Tứ Kỳ 45
4.7 Kết quả đánh giá, ý kiến của người dân đối với hoạt động liên hệ, nộp
hồ sơ 46
4.8 Kết quả đánh giá, ý kiến của người dân khi liên hệ, nộp hồ sơ 47
4.9 Kết quả đánh giá, ý kiến của người dân đối với việc xem xét, hướng
dẫn thủ tục, hồ sơ 49
4.10 Kết quả đánh giá, ý kiến của người dân đối với việc nhận hồ sơ 50
4.11 Ý kiến đánh giá của người dân đối với việc xem xét, hướng dẫn, nhận
hồ sơ của cá nhân 51
4.12 Kết quả đánh giá, ý kiến của người dân đối với việc xem xét, hướng

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang

2.1 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa" 18
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc cải cách hành chính (CCHC) đã được Đảng và Nhà nước Việt
Nam khởi xướng và thực hiện từ những năm 90 của thế kỷ trước nhằm thay đổi cơ
chế vận hành của nó theo yêu cầu quản lý đất nước trong xây dựng nền kinh tế thị
trường dưới sự điều tiết của Nhà nước. Mục tiêu cải cách hành chính là xây dựng
một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa,
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và hướng tới một Nhà nước pháp quyền. Nội dung
cải cách hành chính được tiến hành tương đối toàn diện, thể hiện trên các lĩnh vực
chủ yếu như: cải cách thể chế; cải cách bộ máy nhà nước; xây dựng và phát triển
đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính là một phần nhiệm vụ cải cách thể chế hành
chính, do vậy vấn đề cải cách thủ tục hành chính được Đảng và Chính phủ Việt
Nam quan tâm và lựa chọn trở thành khâu đột phá. Thủ tục hành chỉnh (TTTC)
không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền,
mà còn liên quan trực tiếp đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với nhà
nước. Các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở

quan trong bộ máy hành chính Nhà nước (HCNN). Kết quả của CCHC giúp cho công
việc được thực hiện đúng, chuẩn mực và là sự mong đợi của mọi tổ chức, công dân
đối với nền hành chính hiện nay. Đồng thời, sự hài lòng của tổ chức, công dân ngày
càng tăng và người dân sẽ không còn “ngại” mỗi khi phải đển các cơ quan hành chính
liên hệ giải quyết các TTHC, đây là mục tiêu mà nền HCNN đang hướng tới.
Trong xu thế đó, UBND tỉnh Hải Dương đã chỉ đạo việc thực hiện cơ chế
"một cửa" tại Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh. Trên cơ sở đó,
các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Hải Dương đã triển khai và áp dụng cơ chế
này trong việc giải quyết thủ tục hành chính. Cũng nhờ vậy, tình hình giải quyết thủ
tục hành chính UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã được cải thiện một
cách đáng kể, nhưng bên cạnh đó cũng không tránh khỏi những bất cập.
Vì vậy, nghiên cứu một cách có hệ thống, hoàn thiện quy trình giải quyết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

TTHC theo cơ chế “một cửa” tại UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hải Dương là
hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm cung cấp các căn cứ khoa học cho
việc xây dựng một cơ chế làm việc thích hợp cho địa phương. Xây dựng một nền hành
chính hiện đại với mục tiêu: cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả,
công khai, minh bạch trong giải quyết công việc hành chính.
Từ những lý do trên cùng với sự quan tâm của bản thân về vấn đề cải cách
thủ tục hành chính và thực hiện TTHC tại các cơ quan hành chính, tôi đã chọn đề
tài: “Hoàn thiện cơ chế “một cửa” trong cải cách thủ tục hành chính tại
UBND cấp huyện tỉnh Hải Dương” để tìm hiểu, nghiên cứu với mong muốn có
một cái nhìn tổng quan về tình hình thực hiện TTHC tại UBND cấp huyện để từ đó
có những nhận diện, đánh giá về quá trình thực hiện cải cách hành chính ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
Để giải quyết vấn đề này, các câu hỏi cần nghiên cứu làm rõ như sau:
- Thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính có nội dung, ý nghĩa, vai
trò gì? Cơ chế “một cửa” là gì?

tỉnh Hải Dương.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Nghiên cứu nguyên nhân cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa”; Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế "một cửa" trong cải cách thủ
tục hành chính tại UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Không gian: Trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Thời gian: Từ năm 2011 đến 2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Thủ tục hành chính
Bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo một trật tự pháp
lý, thông qua pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền và trình tự thực
hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước trong việc
giải quyết các công việc trong nội bộ nhà nước, những công việc liên quan đến
quyền và lợi ích của công dân và tổ chức. Những quy định pháp lý quy định trình

Thủ tục hành chính là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời
gian, không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách
thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các
cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân (Nguyễn Văn Thâm và Võ Kim sơn, 2002).
Thủ tục hành chính được đặt ra để các cơ quan hành chính Nhà nước có thể
thực hiện mọi hình thức hoạt động cần thiết của mình trong đó bao gồm cả trình tự
thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, điều động viên chức, trình tự
lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền của chủ thể và xử lý vi phạm,
trình tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính. Đó chính là các
quy tắc phải tuân thủ theo trong quá trình ra các quyết định hành chính của các cơ
quan quản lý Nhà nước.
Thủ tục hành chính là một bộ phận chế định của Luật hành chính. Nói cách
khác, thủ tục hành chính là một loại hình quy phạm mang tính công cụ để giúp các
cơ quan Nhà nước có điều kiện thực hiện chức năng của mình.
Thủ tục hành chính do các cơ quan Nhà nước ban hành để thực thi Hiến pháp
và pháp luật nhằm thực hiện chức năng quản lý của nền HCNN (hành chính nhà
nước) và hoàn thành nhiệm vụ của mình, đồng thời các cơ quan HCNN có trách
nhiệm thực thi các thủ tục đó.
Ý nghĩa của thủ tục hành chính:
Thứ nhất, thủ tục hành chính đảm bảo cho các quy phạm quy định trong các
quyết định hành chính được thi hành thuận lợi. Thủ tục càng có tính cụ thể thì ý
nghĩa càng lớn bởi vì các thủ tục cụ thể thường tác động đến hiệu lực, hiệu quả của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

việc thực hiện chúng.
Thứ hai, thủ tục hành chính đảm bảo cho việc thi hành các quyết định được
thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả do
việc thực hiện các quy định hành chính tạo ra.
Thứ ba, thủ tục hành chính khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý sẽ

tâm, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, đi lên
chủ nghĩa xã hội.
Ý thức được vai trò của Nhà nước trong việc xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp, thiết lập một cơ chế quản lý mới, nghị quyết của Đại hội đã
đề ra chủ trương chấn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh, gọn, có đủ
năng lực thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ
thể; xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch nhà nước; quản lý và điều hành có
hiệu quả các hoạt động kinh tế, xã hội; giữ vững pháp luật, kỷ cương và trật tự, an
toàn xã hội, thiết lập cơ chế quản lý mới cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ
chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước. Mục tiêu cải cách hành chính là nhằm xây
dựng bộ máy nhà nước có đủ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ chủ trương có tính
chất chiến lược của đất nước lúc đó. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII) tháng
1/1995 đánh dấu một bước phát triển mới trong nội dung định hướng cải cách hành
chính ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo cơ bản được hoàn thiện
thêm, nội dung và phương pháp thực hiện cải cách đã được thể hiện một cách tương
đối cơ bản, toàn diện và có cơ sở khoa học, đã khẳng định tầm quan trọng của cải
cách hành chính. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính. Như vậy, cải cách
hành chính Nhà nước là vấn đề vừa mang ý nghĩa lý luận lại vừa mang ý nghĩa thực
tiễn quan trọng.
Cải cách hành chính Nhà nước là một khái niệm của hành chính học. Do sự
khác biệt giữa chế độ chính trị, trình độ và giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của
các nước, cả sự khác biệt trong quan điểm và góc độ nghiên cứu mà giữa các nước
khác nhau ở những định nghĩa khác nhau về cải cách hành chính nhà nước.
Theo nghĩa rộng, cải cách hành chính Nhà nước có thể hiểu là một quá trình
thay đổi cơ bản, lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành pháp, tất cả
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

các hoạt động có ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ

Page 10

cách hành chính, bao gồm quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu
hoàn thiện hệ thống thể chế nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của một nền hành
chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại .
2.1.1.3 Cơ chế "một cửa"
Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 4/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước
thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức là văn
bản mang tính pháp lý đầu tiên có đề cập đến việc giải quyết thủ tục hành chính
thông qua "một cửa", dựa vào nguyên tắc nơi nào là đầu mối có trách nhiệm chính
trong việc giải quyết công việc thì cá nhân, tổ chức trực tiếp đến đó: "Trường hợp
đề nghị của tỉnh và thành phố có liên quan đến nhiều Bộ, thì Bộ chuyên ngành phải
làm đầu mối bàn với các Bộ liên quan khác. Không nên để Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân tỉnh, thành phố phải đi đến từng Bộ để xin ý kiến giải quyết của Bộ trưởng sau
đó mới đến Bộ trưởng chuyên ngành giải quyết" (Chính phủ, 1994); "Những công
việc liên quan đến nhiều bộ phận trong cơ quan thì Thủ trưởng cơ quan phải đề ra
quy chế phối hợp giải quyết trong nội bộ cơ quan để công dân, tổ chức có yêu cầu
giải quyết công việc chỉ phải làm việc với một công chức được giao nhiệm vụ được
làm đầu mối tiếp xúc, nhận hồ sơ và giải quyết công việc”.
Như vậy, có thể xác định trong việc giải quyết thủ tục hành chính liên quan
đến nội bộ của bộ máy hành chính Trung ương, địa phương hay trong mối quan hệ
cung cấp dịch vụ công cho công dân thì nguyên tắc tập trung vào một đầu mối chính
có chức năng quản lý chủ yếu để giải quyết công việc là nguyên tắc xuyên suốt quá
trình thực hiện. Đây cũng là tinh thần chủ đạo của cải cách thủ tục hành chính theo
cơ chế "một cửa".
Khái niệm quy chế “một cửa” lần đầu tiên được sử dụng trong Quyết định
số 366/HĐBT ngày 07/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), ban
hành quy chế thẩm định các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Theo đó,
bộ phận “một cửa” được hiểu là nguyên tắc làm việc của các ban quản lý các khu
công nghiệp, khu chế xuất của Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc áp dụng thực hiện cơ chế “một cửa” cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
- Công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

việc của tổ chức, công dân.
- Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
- Việc phối hợp các bộ phận có liên quan trong bộ máy công quyền nhằm giải
công việc của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước.
- Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện, đúng thời gian cho
tổ chức, công dân.
Các lĩnh vực áp dụng cơ chế "một cửa":
Tại Quyết định 181/2003/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND các
quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thực hiện quy chế “một cửa” đối với
7 loại TTHC, bao gồm: cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các hộ kinh
doanh cá thể; cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà; quyền sử dụng đất; đăng ký
hộ khẩu; công chứng, chứng thực; các chính sách xã hội.
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là nơi tiếp xúc đầu tiên của người dân với
cơ quan hành chính. Công việc của bộ phận này là tiếp nhận, hướng dẫn người dân
đầy đủ thủ tục cần thiết để giải quyết công việc, thẩm định tính hợp lệ của hồ sơ,
sau đó chuyển cho các phòng ban có chức năng giải quyết. Người dân cũng đến
chính nơi mà mình đã nộp hồ sơ để nhận lại kết quả.
Xét từ phía cá nhân, tổ chức, quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi hơn rất
nhiều so với trước đây khi họ phải liên hệ với cơ quan hành chính. Họ không mất
nhiều thời gian để đi qua rất nhiều cửa sau đó mới có thể đến được cửa quan trọng
sau cùng. Mà việc đi lại "nhiều cửa" đa số trường hợp không đạt kết quả vì "mỗi
cửa" hướng dẫn một khác, "cửa" này không chấp nhận kết quả của "cửa" kia. Công
dân muốn làm cho các "cửa" của cơ quan hành chính "thông suốt" được với nhau
đòi hỏi tiêu tốn rất nhiều tiền của, công sức, thời gian, nhiều lúc họ phải sử dụng

Nguyên nhân là do tính chất mới mẻ của vấn đề, cả trong tư duy quản lý và phương
thức quản lý. "một cửa" cũng không phải là phương thức để giải quyết toàn bộ vấn
đề cải cách hành chính ở địa phương, nó chỉ là một khâu trong quá trình cải cách
hành chính và cũng không nằm ngoài xu thế chung của mục tiêu cải cách hành
chính nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước.
2.1.2 Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa"
Văn kiện của Đảng mang tính nền tảng đầu tiên chỉ đạo quá trình cải cách
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

hành chính nói chung và thủ tục hành chính nói riêng là báo cáo chính trị của Ban
chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI năm 1986 xác định cơ bản nội dung của cải cách hành chính là tăng cường
bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở thành một hệ thống thống
nhất, có sự phân định rành mạch, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng cấp đồng
thời phải phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất -
kinh doanh thực hiện một quy chế làm việc khoa học, có hiệu suất cao.
Nhiệm vụ cải cách hành chính tiếp tục được khẳng định tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII qua việc Đảng xác định những nội dung cụ thể hơn trong việc
xây dựng bộ máy hành chính, đứng đầu là Chính phủ, các Bộ, kế tiếp là chính
quyền địa phương các cấp, sắp xếp lại tổ chức, biên chế làm cho bộ máy nhà nước
gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, xây dựng hoàn chỉnh cơ chế quản lý và pháp luật. Đặc
biệt đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng, tinh thần cải cách
hành chính được phát triển hoàn thiện thêm một bước đáng kể. Đảng đã xác định cụ
thể mục tiêu tổng quát của cải cách hành chính: Xúc tiến cải cách hành chính. Cải
cách nhằm đổi mới và tăng cường hệ thống hành pháp cả về tổ chức, cán bộ, phát
huy vai trò điều hành của bộ máy hành pháp trên cơ sở pháp luật thống nhất và sự
điều hành tập trung của Chính phủ. Nhìn chung, đây là những tờ trình nền tảng chỉ
đạo công cuộc cải cách bộ máy nhà nước và cải cách bộ máy hành chính.
Trên cơ sở những tờ trình chỉ đạo này, Chính phủ ban hành Nghị quyết số

Ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg
về việc phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010
với nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước;
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công. Một trong các nội
dung quan trọng của cải cách thể chế hành chính đó là cải cách thủ tục hành chính
(TTHC). Muốn cải cách hành chính thì TTHC phải được đơn giản hóa một cách tối
đa, rườm rà. Để đáp ứng yêu cầu đó Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế "một
cửa" tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Tiếp tục nhiệm vụ cải cách hành chính và cải cách thủ tục hành chính, các
văn kiện tiếp theo của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết

Trích đoạn Đánh giá công tác kiểm tra, xem xét tính hợp lệ của hồ sơ, hướng dẫn, bổ sung và nhận hồ sơ Thời gian chờ đợi đến lượt giải quyết hồ sơ: Chính sách về cắt giảm thủ tục hành chính Trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ bộ phận “một cửa”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status