nghiên cứu khả năng kết hợp của một số dòng, giồng hoa lan huệ (hippeastrum sp.) năm 2014 tại gia lâm – hà nội - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



ĐINH THỊ THU TRANG NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA MỘT SỐ DÒNG,
GIỒNG HOA LAN HUỆ (HIPPEASTRUM SP.)
NĂM 2014 TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



nào trước đây.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn thạc

sỹ này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi

rõ nguồn gốc.

Học viên

Đinh Thị Thu Trang

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sỹ nông nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản

thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ đạo tận tình của các Thầy giáo, Cô giáo.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Nguyễn Hạnh Hoa - Bộ

môn Thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã

hướng dẫn tận
tình, chỉ bảo cặn kẽ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận

văn thạc sỹ.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các Thầy giáo, Cô giáo cùng toàn thể các

DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu chung về chi Hippeastrum 3
1.1.1 Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố 3
1.1.2 Đặc điểm thực vật học của chi Hippeastrum 4
1.1.3 Đặc điểm bộ nhiễm sắc thể 5
1.2 Cơ sở khoa học của lai hữu tính 5
1.2.1 Khái niệm lai hữu tính 5
1.2.2 Vai trò của lai hữu tính trong chọn giống 6
1.2.3 Các phương pháp lai hữu tính 8
1.3 Tình hình nghiên cứu lai tạo các giống cây hoa ở trên Thế giới và ở Việt Nam 11
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 12
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 14
1.4 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về chọn tạo giống lai cây hoa thuộc
chi Lan huệ. 17
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 17
1.4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 19
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 22
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 23
2.1.4 Thời gian nghiên cứu 23
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

2.2 Nội dung, phương pháp và các chỉ tiêu nghiên cứu 24


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm thân hành của các dòng, giống hoa Lan huệ thuộc chi
Hippeastrum Herb. 31
Bảng 3.2 Chiều cao cây, kích thước lá của các dòng, giống hoa Lan huệ thuộc
chi Hippeastrum Herb. 33
Bảng 3.3 Thời gian ra hoa của các dòng, giống hoa Lan huệ thuộc chi
Hippeastrum Herb. 34
Bảng 3.4 Đặc điểm về cụm hoa của một số dòng, giống hoa Lan huệ thuộc chi
Hippeastrum Herb 38
Bảng 3.5 Đặc điểm về hoa của các dòng, giống hoa Lan huệ thuộc chi
Hippeastrum Herb. 42
Bảng 3.6 Đặc điểm về hình thái hạt phấn của một số dòng, giống hoa Lan huệ
thuộc chi Hippeastrum Herb. 45
Bảng 3.7 Đặc điểm về độ hữu dục hạt phấn của các dòng, giống hoa Lan huệ
thuộc chi Hippeastrum Herb. 49
Bảng 3.8 Khả năng đậu quả của các tổ hợp lai khi cho lai các dòng, giống hoa
Lan huệ thuộc chi Hippeastrum Herb. 51
Bảng 3.9 Đặc điểm quả lai của các tổ hợp lai khi cho lai các dòng, giống hoa
Lan huệ thuộc chi Hippeastrum Herb 53
Bảng 3.10 Đặc điểm kết hạt của các tổ hợp lai khi cho lai các dòng, giống hoa
Lan huệ thuộc chi Hippeastrum Herb. 54
Bảng 3.11 Đặc điểm hạt của các tổ hợp lai khi cho lai các dòng, giống hoa Lan
huệ thuộc chi Hippeastrum Herb. 56
Bảng 3.12 Tỷ lệ nảy mầm của hạt Lan huệ thu được từ một số THL 58
Bảng 3.13 Động thái ra lá của cây con LH trong các THL 61
Bảng 3.14 Động thái tăng trưởng đường kính thân hành của cây con LH trong

Page vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CCC Chiều dài lá
CD Chiều dài
CDL Chiều rộng
CDTH Chiều dài trục hoa
CR Chiều rộng
CRL Chiều rộng lá
ĐB1CH Độ bền một cụm hoa
CCTH Chiều cao thân hành
ĐKTH Đường kính thân hành
ĐC Đối chứng
KH Kí hiệu
LH Lan Huệ
MSTH Màu sắc thân hành
NST Nhiễm sắc thể
SCH/C Số cụm hoa/cây
SH/C Số hoa/cụm
TG Thời gian
TG BD-KTRH Thời gian từ khi bắt đầu – kết thúc ra hoa
TG BDRH Thời gian bắt đầu ra hoa
TG RHR Thời gian ra hoa rộ
THL Tổ hợp lai

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

Lai hữu tính là phương pháp được áp dụng rộng rãi cho nghiên cứu chọn
tạo giống mới, đặc biệt là đối với những cây hoa lưỡng tính. Theo nghiên cứu
của TS.Nguyễn Hạnh Hoa và cộng sự, giống hoa Lan huệ thuộc loài Hippeastrum
equestre trong điều kiện Miền Bắc Việt Nam có thể kết hạt và nhân giống bằng
hình thức sinh sản hữu tính. Đây là hình thức nhân giống tạo ra nhiều biến dị tổ
hợp, trong đó có thể xuất hiện những biến dị mới lạ về màu sắc, hình thái cấu trúc
hoa hay thời gian ra hoa.
Từ những lí do đã nêu trên, góp phần vào công tác chọn tạo giống cây hoa
thuộc chi Lan huệ (Hippeastrum Herb.) chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
khả năng kết hợp của một số dòng, giống hoa Lan huệ (Hippeastrum sp.)
năm 2014 tại Gia Lâm – Hà Nội”.
2. Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
Nhằm đánh giá khả năng kết hợp của một số dòng, giống Lan huệ mới, tạo
nguồn vật liệu khởi đầu cho chọn tạo giống cây hoa Lan huệ.
2.2 Yêu cầu
- Nắm được đặc điểm thực vật học cơ bản của 10 dòng, giống Lan huệ bố, mẹ
(đặc điểm thân hành, chiều cao cây, kích thước lá, sinh học ra hoa, )
- Lai hữu tính và đánh giá khả năng đậu quả, kết hạt, khả năng nảy mầm
của hạt lai (sức sống hạt phấn, khả năng bảo quản hạt phấn, khả năng tạo hạt
của

tổ hợp lai, khả năng nảy mầm của hạt lai, sức sống của cây con.
- Đánh giá sinh trưởng và tình hình nhiễm sâu bệnh hại của cây con trong
từng tổ hợp lai.
3. Ý nghĩa của đề tài
- Việc nghiên cứu khả năng kết hợp và chọn lọc các tổ

Poepping trong quá trình tìm kiếm ở Chilê. Chi Hippeastrum có rất nhiều dạng lai
tạo, với màu sắc phong phú, cánh hoa lớn hơn, dày hơn và đẹp (Pacific Bulb Soci,
2013).
Sự mua bán các cây hoa thuộc chi Hippeastrum diễn ra lần đầu khi những
người trồng hoa ở Hà Lan nhập khẩu một vài loài từ Mexico và Nam Mỹ. Quá
trình nhân giống và lai tạo được diễn ra trong suốt thế kỷ 18, sau đó loài hoa này
được chú ý đến ở Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ 19. Năm 1946, hai người trồng hoa ở
Hà Lan mang cây hoa này đến Nam Phi và bắt đầu trồng trọt tại đây (Carter and
Kathie, 2010).
Mặc dù, hầu hết các cây hoa trong chi Hippeastrum đều xuất phát từ Hà
Lan và Nam Phi nhưng ngày nay chúng lại rất phát triển ở Anh, Nhật, Isarel, Ấn
Độ, Brazil và Australia (Mathew and Brian, 1999).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

Hiện nay, hoa Lan huệ được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Ở Trung
Quốc, người ta gọi là Hoa Lan huệ, Châu Âu là hoa tình yêu - (tiếng Anh là
Valentine Flower). Hoa Lan huệ nở đầu năm, đúng vào dịp Lễ hội tình yêu 14/2
theo phong tục của nhiều nước Châu Âu. Do có nhiều loại hoa, mỗi loại có màu
sắc đẹp riêng nên được các bạn trẻ ưa thích và tặng nhau. Cái tên Hoa tình yêu ra
đời từ đó. Tất cả đều thuộc chi Lan Huệ (Hippeastrum Herb.). Cây Lan huệ hồng
sọc đỏ có tên khoa học là Hippeastrum reculatum Herb. Mùa hoa từ tháng 2 đến
tháng 11 dương lịch (Trần Việt Hưng, 2006).
Hippeastrum equestre được trồng khắp Châu Mỹ nhiệt đới, từ Mexico và

phía nam Tây Ấn đến Braxin và Chi lê. Hoa nở xòe có màu đỏ cam tươi sáng

với một ngôi sao màu trắng hơi vàng nơi gốc phía trong bao hoa. Một cành hoa

cao khoảng 15 – 20 inch ( 38,1 – 50,8 cm), thường có hai đến bốn bông hoa.

Lilliaceae. Chi này rất đa dạng, phong phú về hình thái, màu sắc hoa, rất thích
hợp để sử dụng làm hoa cắt cành, trồng chậu hoặc trồng thảm (Nguyễn Hạnh
Hoa & cs., 2009).
Dạng thân hành, hình cầu, có áo mỏng bao ngoài. Lá tập trung ở gốc gần
như thành 2 dãy; phiến lá hình dải, hình kiếm, hình mũi mác, hơi khum thành
lòng máng, dài, cứng, có nhiều gân song song. Cụm hoa tán có từ 2 đến nhiều
hoa. Trục hoa (cành mang hoa) hình trụ, thẳng đứng, rỗng. Lá bắc tổng bao dạng
mo, gồm 2 cái, mỏng, tồn tại. Hoa to, đều, lưỡng tính, màu sắc sặc sỡ, có cuống.
Bao hoa hình phễu, nằm ngang hoặc rũ xuống, 6 mảnh, dạng tràng, phần dưới
dính nhau thành ống, ngắn, họng có 1 vòng vảy ngắn hoặc một vòng tràng phụ
cụp vào trong, phần trên 6 thuỳ, xếp 2 vòng, các thuỳ bằng nhau hoặc các thuỳ
vòng trong hẹp hơn. Nhị 6; chỉ nhị tách rời nhau, đính ở họng ống bao hoa; bao
phấn 2 ô, đính lưng, hướng trong, mở bằng khe dọc. Bầu hạ, 3 ô, đính noãn trung
trụ, mỗi ô nhiều noãn; vòi nhụy dài, mảnh; đầu nhụy dạng đầu hoặc 3 thuỳ. Quả
nang hình cầu hoặc hình thuôn, mở ở khe lưng ô thành 3 mảnh. Hạt nhiều, dẹp,
màu đen nội nhũ nạc bao lấy phôi nhỏ (Nguyễn Thị Đỏ, 2007).
1.1.3 Đặc điểm bộ nhiễm sắc thể
Các nhà khoa học đã xác định được bộ NST đơn bội của các loài trong chi
Hippeastrum là n = 11. Hầu hết các loài đều có bộ NST lưỡng bội 2n = 22, tuy
nhiên người ta cũng bắt gặp một số loài có bộ NST tam bội, tứ bội thậm chí là
ngũ bội (bộ NST trong tế bào sinh dưỡng là 33, 44, 55). Loài H.blumenavia thì
lại được tìm thấy có bộ NST 2n = 20 (Williams and M. Dudley, T.R, 1984).
Bộ NST của một số dạng Lan huệ được xác định một cách tương đối như
sau: Lan huệ đỏ thường, Lan huệ đỏ nhung, Lan huệ lá sọc có bộ NST 2n = 22,
Lan huệ trắng và trắng sọc đỏ có 2n = 44 (Vũ Thị Hoài Anh, 2008).
1.2 Cơ sở khoa học của lai hữu tính
1.2.1 Khái niệm lai hữu tính
Khái niệm: Là hình thức sinh sản có sự kết hợp của giao tử đực (tinh tử của
hạt phấn) và giao tử cái (noãn) thông qua sự thụ tinh tạo thành hợp tử. Con lai tổ hợp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

tương tác với môi trường đã tạo ra những kiểu hình mới.
Những tác động đi truyền khi lai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

- Hiện tượng tái tổ hợp gen và phân ly: Ở cây lai là những biến đổi về
di truyền có thể dẫn đến sự phát sinh vô số kiểu gen và kiểu hình mới. Đây là cơ
sở cho chọn giống.
- Hiện tượng gen liên kết: Cũng có những tác động có lợi và tác động bất
lợi cho chọn giống. Sự liên kết chặt chẽ giữa các gen có lợi và gen bất lợi là
những trở ngại lớn trong chọn giống.
- Sự tác động qua lại giữa các gen khác locus: Ở cây lai có thể đưa đến
những kết quả khác nhau. Do tác động này cây lai có thể xuất hiện những đặc
tính mới không có ở bố, mẹ hoặc có ở mức biểu hiện gia tăng hay giảm một tính
trạng nào đó theo hướng mong muốn hay không mong muốn đối với mục tiêu
chọn giống. Về mặt hóa sinh biểu hiện của sự tương tác giữa các gen khác locus
thường là một alen ở locus này kiểm soát quá trình tổng hợp một chất nào đó là
cơ chất đối với quá trình khác do alen ở locus khác kiểm soát.
- Quan hệ kiểu hình, kiểu gen và môi trường: Gen không tác động trực
tiếp lên tính trạng mà thông qua chuỗi những phản ứng hóa sinh do các gen
đó kiểm soát và chịu ảnh hưởng của các gen khác cũng như điều kiện ngoại
cảnh. Tác động của mỗi gen thường chịu ảnh hưởng ít nhiều của kiểu gen chung
và môi trường. Mặt khác mỗi gen cũng thường có tác động nhiều mặt (tính đa
hiệu của gen). Do đó một gen có thể đồng thời tác động có lợi hoặc có hại.
Một hiệu ứng đặc biệt nhận được trong lai giống là hiệu ứng ưu thế lai
biểu hiện ở thế hệ F
1
. Nhờ hiệu ứng này mà phương pháp tạo giống ưu thế lai đã
ra đời và cây hoa cho màu sắc đẹp, hoa lớn, thời gian chơi hoa kéo dài, khả năng
chống chịu tốt Ngày nay, nhiều giống cây trồng mới đã được tạo ra bằng

ế
u nh
ư
ng đ

phục vụ công tác nghiên c

u ho

c lai t

o
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

ng
ư
ời ta cũng dùng ph
ư
ơng pháp nhân giống h

u tính layơn, lily… Ph
ư
ơng pháp
nhân giống b

ng gieo h

t có các
ư


l

n giống, cây
con không đồng đ

u, n
ă
ng su

t th

p, h

t hoa th
ư
ờng nhỏ, không hoàn ch

nh
nên tỷ l

n

y m

m th

p. Nhân giống b

ng gieo h

i gieo ngay, ho

c
có th

b

o qu

n một thời gian đ

h

t hoàn thành quá trình chín sinh lý. Kích
th
ư
ớc h

t và độ dày vỏ h

t có

nh h
ư
ởng lớn đ
ế
n ch

t l
ư

y đủ có phôi nh
ư
ng không có nội nhũ
nên ch

t dinh d
ư
ỡng ch

a trong h

t không đủ cung c

p n
ă
ng l
ư
ợng cho quá
trình n

y m

m của h

t. H

t hoa lan cũng nh
ư
một số lo


ơng ti

n kỹ thu

t b

o qu

n đ

c bi

t
(Đào Thanh Vân & cs., 2007). 1.2.3 Các phương pháp lai hữu tính
Lai giống là một quá trình phức tạp của việc tạo các dạng mới trên cơ sở
sự phát triển của kiểu gen trong điều kiện của môi trường. Chọn đúng bố mẹ để
lai quyết định phần lớn sự thành công trong quá trình chọn tạo giống. Đây là
công việc khó khăn, phức tạp nhất trong quá trình tạo giống. Chọn được bố mẹ
để thoả mãn yêu cầu đặt ra là cơ sở để tạo ra các biến dị tổ hợp mong muốn, đảm
bảo cho chọn lọc thành công (Vũ Đình Hòa & cs., 2008).
Lai gần là lai giữa các cá thể cùng loài, hoặc giữa những cá thể có quan hệ
họ hàng gần nhau, phát sinh trong những vùng sinh thái tương tự nhau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

Lai xa là lai giữa các cá thể khác loài, khác thứ, khác dạng hình sinh
thái phát sinh từ những vùng có điều kiện sinh thái rất khác nhau. Lai xa có 2
Lai luân phiênLai nhiều bố mẹ

(Vũ Đình Hòa & cs., 2008)

 Các phương pháp lai được sử dụng trong thí nghiệm
(1). Lai đơn giản:
Trong phương pháp lai đơn chỉ có sự tham gia của một bố và một mẹ và
chỉ tiến hành một lần. Đây là phép lai được sử dụng rộng rãi vì bố và mẹ được
nghiên cứu tỉ mỉ thông qua các tính trạng. Người ta tiến hành phép lai giữa 2 bố
mẹ có các tính trạng bổ sung. Có thể lai giữa 2 giống cùng loài hoặc khác loài.
Nếu ký hiệu các dạng bố mẹ là A, B, C, D, E, F thì công thức của lai đơn giản
có các trường hợp như sau:
(1) Nếu chỉ có một bố và một mẹ thì công thức lai là: A x B; C x D
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

(2) Nếu một giống làm mẹ các giống khác làm bố thì công thức lai là: A x
(B+C+D+E+ )
(3) Nếu cho thụ phấn tự do các giống với nhau thì công thức lai là (A x B x
C x D x E x )
Các công thức (2) và (3) thường được áp dụng để tạo ra quần thể mới ở cây
giao phấn hoặc để tổng hợp nhiều tính trạng của nhiều giống vào tổ hợp lai tạo ra
quần thể lai có nền di truyền rộng nhằm nâng cao hiệu quả của chọn lọc.
(2). Lai thuận nghịch:
Lai thuận nghịch thì mỗi dạng trong phép lai đều được làm bố và làm mẹ.

ABB x B ABA x A
Trong nghiên cứu di truyền cách lai trở lại nhằm xác định bố mẹ là đồng
hợp tử hay dị hợp tử (gọi là lai phân tích).
Cách lai này thường được áp dụng khi một giống nào đó có hàng loạt tính
trạng tốt song cần bổ sung thêm một vài tính trạng khác để hoàn thiện giống đó.
Trong lai trở lại giống cần được cải tiến gọi là thể nhận, còn giống dùng để bổ sung
tính trạng gọi là thể cho (thường là giống có tính chống chịu tốt).
Để tăng cường vào cây lai những tính trạng cần thiết của bố hoặc mẹ. Khi
lai cần chú ý trong các thế hệ lai cây được chọn làm mẹ phải mang những đặc
trưng, đặc tính cơ bản của thành phần không được lai trở lại.
Trong chọn tạo giống cách lai trở lại được sử dụng ở những trường hợp sau:
- Khắc phục hiện tượng bất dục ở cây lai F1 khi lai xa.
- Tạo giống chống sâu bệnh, giống chống chịu tốt với điều kiện bất thuận.
Trong trường hợp này nên dùng giống bố mẹ có đặc tính tốt, nhưng chống
chịu kém lai với bố chống chịu tốt.
- Lai giữa cây trồng với cây dại nhằm đưa thêm một tính trạng nào đó
của cây dại (thường là các tính trạng chống chịu hoặc tính trạng thích ứng). Khi
lai giữa cây trồng với cây dại cần chọn cây trồng làm mẹ. Sau đó lai
trở lại với mẹ (tức là dùng cây trồng làm bố).
1.3 Tình hình nghiên cứu lai tạo các giống cây hoa ở trên Thế giới và ở Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Trên Thế giới, vấn đề lai tạo hoa được xem như là một ngành sản xuất
trong dây chuyền sản xuất công nghiệp hoa. Nhờ kỹ thuật lai tạo và chọn lọc
nhân tạo ngày càng tiến bộ nên các sản phẩm lai tạo được đổi mới liên tục, đa
dạng về màu sắc, hình dạng, chủng loại đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người
tiêu dùng.
Các loài hoa cảnh hiện đại đều có nguồn gốc từ hoang dại, chúng được

giống. Sau hoa hồng màu xanh dương, đến lượt hoa cẩm chướng màu tím vừa
được lai tạo thành công. Công ty Sinh học Florigene của New Zealand đã cho ra
đời bông hoa này bằng việc cấy một gen tạo màu tím có tên gọi flavonoid vào
thân cây (Hoa cẩm chướng, yume.com.vn).
Hoa trà lai được tạo ra bởi Hybrid Perpetuals x Tea roses. Sự ra đời hoa
trà lai đầu tiên, ở ‘La France’ tạo ra vào năm 1867. Được Jean- Baptiste Andre’
Guillot gieo trồng trong một vườn ươm ở Pháp. Ông cho lai giữa hoa hồng trà
“Madame Bravy” x Madame Victor Verdier. Những loài trồng sớm nhất là Lady
Mary Fitzwilliam, Souvenir of Wooton và bà Caroline Testout được giới thiệu
bởi Pernet Ducher năm 1890. Hoa trà lai không trở nên phổ biến cho đến đầu thế
kỷ 20, khi Pernet-Ducher tại Lyons, Pháp, lai tạo các giống cây trồng 'Soleil
d'Or'' 1900. Tuy nhiên, các loại trà lai phổ biến làm quà tặng vào thế kỷ 20 là
rose Peace ('Bà A. Meilland'), được giới thiệu bởi Francis Meilland vào cuối Thế
chiến II. Một số loài trà lai phổ biến hiện nay là 'Chrysler Imperial', 'Double
Delight', 'Elina', 'Fragrant Cloud', Mister Lincoln and 'Peace' (Autumn and
Stanley, 1995).
Năm 1697, Relomen phát hiện thấy hoa đồng tiền ở vùng phía Nam châu
Phi (Delánia) và ông đã đưa về vườn thực vật nước Anh. Irwin Luynch là người
đầu tiên tiến hành lai tạo các giống đồng tiền với nhau (Đặng Văn Đông & cs.,
2003). Sau đó người Pháp và người Hà Lan cũng tiến hành lai tạo và dần dần 2
nước này đã trở thành trung tâm tạo giống đồng tiền thế giới. Từ năm 1980, mỗi
năm thế giới đã tạo ra được trên 80 chủng loại giống khác nhau, hoa có đường
kính 8 cm trở lên và tạo ra những giống lai cánh hoa kép. Hiện nay, các giống
hoa đồng tiền to đang được trồng rộng rãi trong sản xuất, phần lớn các giống hoa
đồng tiền mới là do các nhà tạo giống Hà Lan tạo ra (Nguyễn Văn Hồng, 2009).
Ở Hà Lan, bằng việc kết hợp các kĩ thuật thụ phấn để khắc phục sự cản

trở trước thụ tinh và các phương pháp in vitro để khắc phục sự cản trở sau thụ

tinh, sự lai xa có thể được thực hiện có hiệu quả hơn. Từ thành quả tạo ra các

cặp lai khác loài riêng biệt của chi Lilium, đó là (Lilium longiflorum X Asiatic

hybrid (LA); Oriental hybrid X Asiatic hybrid (OA); Oriental hybrid X Lilium

longiflorum (OL); Lilium longiflorum X Oriental hybrid (LO); Asiatic hybrid x

Oriental hybrid (AO); and Asiatic hybrid X Lilium longiflorum (AL). Nếu đáp
ứng được hai điều kiện: Tìm được thời gian thích hợp để

cứu phôi và môi trường
cho phôi phát triển bình thường thì một số luợng lớn các

cây con sẽ được tạo ra
nhờ phương pháp ESR. Trong khi, phương pháp OSC và

OPC yêu cầu thao tác
phức tạp hơn. Dựa trên những kết quả thu được ở trên, ESR

được xem là phương
pháp hiệu quả nhất để thu được cây lai khác loài ở lily (Kỹ thuật cứu phôi,
avri.org.vn).
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Giống hoa cúc cắt cành C07.7 được chọn lọc từ tổ hợp lai Chevrolet x
C05.5, C07.16 từ tổ hợp lai C05.1 x Sunny Yellow, năm 2007, trong điều kiện
Đà Lạt. Các khảo nghiệm chính quy tiến hành trong vụ Đông Xuân 2008-2009
và Hè Thu 2009 cho thấy C07.7 và C07.16 là những giống có nhiều triển vọng do
có hoa đẹp, khả năng thích ứng tốt với điều kiện địa phương và khả năng chống
chịu tốt với ruồi đục lá và rỉ sắt trắng. C07.7 cókiểu hoa bán kép cỡ trung bình,
màu đỏ vàng với vòng tâm vàng, sâu. C07.16 có bông hoa kiểu thược dược cỡ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

công

nghệ

mới

về

hoa,

cây

cảnh

phục

vụ

việc

chuyển

đổi



cấu

cây


tr
ư
ởng phát tri

n khỏe, có trên 14 hoa t

trên bông (đủ tiêu chu

n xu

t kh

u),
chống ch

u sâu b

nh tốt, thích hợp với vùng sinh thái đồng b

ng sông Hồng.
Đã chọn lọc đ
ư
ợc một bộ giống layơn r

t có tri

n vọng bao gồm: Đỏ pháp m

p,
Đỏ cờ Hà Lan, Đỏ ChinFon Hà Lan, nh

Trong những năm 1990, một nhóm cán bộ kỹ thuật của thành phố Đà Lạt
đã thực hiện các phép lai đầu tiên trên cơ sở chọn lọc những bố mẹ mang đặc tính
ưu việt trong chi Renanthera và Vanda là các cây Bò cạp, Huyết nhung, Long
châu, Tóc tiên, Mỹ dung dạ hương với 4 phép lai trong đó có 2 phép lai khác loài
cùng chi và 2 cặp lai khác loài, khác chi. Qua thời gian thụ phấn gieo hạt, nuôi
trồng và cho ra hoa, nhận thấy có 2 cặp lai đã ra hoa đó là :
- Cặp lai: Renanthera Evrardii Guillaumin (Bò cạp) x Renanthera
Imschootiana Rofle (Huyết nhung). Hoa có hình dáng của hoa Bò cạp nhưng
ngắn hơn, mang màu đỏ của hoa Huyết nhung có vạch vàng như hoa Bò cạp.
- Cặp lai: Renanthera Evrardii Guillaun (Bò cạp) x Vanda denisoniana
Bens. et Rchb.f (Mỹ dung dạ hương). Hoa của cặp lai này có màu của cây hoa
Mỹ dung dạ hương, hình dáng của hoa Bò cạp nhưng nhỏ hơn (Trần Thị Kim
Duyên, 2004)
Để khai thác nguồn gen quý từ các giống lan rừng đang bị mất dần, Trung
tâm công nghệ sinh học Tp. Hồ Chí Minh đã lai tạo thành công 15 giống lan mới,
bằng phương pháp lai hữu tính giữa lan rừng Việt Nam với lan nhập nội. Trung
tâm đã sưu tập được hơn 300 giống hoa lan, trong đó có hơn 100 giống lan rừng
Việt Nam. Từ bộ sưu tập giống hoa lan đã có của Trung tâm công nghệ sinh học,
việc khai thác nguồn gen quý là nguồn nguyên liệu lai tạo giống mới, tạo ra các
giống lan có khả năng kháng virus - một bệnh gây hại nghiêm trọng trên hoa lan
và hiện chưa có thuốc đặc trị. Dùng công nghệ để chuyển gen có đặc tính mong
muốn vào giống đã có, ví dụ như giống lan kháng được bệnh virus. Đây là công
nghệ mới, kể cả trên cây trồng. Công nghệ chuyển gen bằng kỹ thuật ANA để tạo
giống Dendrobium kháng được virus, hiện đang phổ biến tại các nhà vườn
(Dương Hoa Xô, 2014).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status