BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NỤ
DẠY HỌC THEO GÓC
VÀ VẬN DỤNG TRONG CÔNG NGHỆ 11
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn KTCN
Mã số : 60.140.111
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ HUY HOÀNG
HÀ NỘI – 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm thông tin – thư viện và
các Thầy, Cô ở khoa Sư phạm kĩ thuật – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
quan tâm, tạo điều kiện để tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn của mình
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Lê Huy Hoàng
đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành luận văn này.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và các Thầy, Cô ở
trương Trung học phổ thông Lương Tài 1, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
đã quan tâm, tạo điều kiện, góp ý cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, người
thân đã ở bên, động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình hoàn thành khóa học.
Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Nụ
2
hứng thú, tính tích cực và năng lực vận dụng kiến thức là cần thiết.
Luật giáo dục đã ghi rõ : “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú cho người học”.
Trong thực tiễn lập kế hoạch và tiến hành dạy học, người thầy giáo
thường xuyên đối diện với câu hỏi: làm thế nào để lựa chọn phương pháp
dạy học phù hợp và có hiệu quả. Khi bàn về hiện trạng phương pháp dạy
học những năm gần đây, đã có rất nhiều giáo viên áp dụng phương pháp
mới vào trong quá trình dạy học. Đó là cách thức DH theo lối phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh. Vì thế thường gọi PP này là PPDH tích cực.
Ở đó, giáo viên là người giữ vài trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho
người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận,
hội thảo theo nhóm. Người thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển
tiến trình giờ dạy. PPDH này rất đáng chú ý đến đối tượng học sinh, coi
trọng việc nâng cao quyền năng cho người học.
Điều này có nghĩa là sử dụng phương pháp dạy học tập trung
nhiều hơn vào nhu cầu học tập, sở thích, mức độ phát triển của từng cá
nhân và từ đó thúc đẩy việc tự nhận thức của học sinh. Phương pháp
tiếp cận này tỏ ra có hiệu quả hơn với sự đa dạng trong môi trường giáo
dục nhằm đảm bảo tất cả học sinh nhận được những gì các em cần để
1
tiếp tục phát triển trên cơ sở năng lực bản thân; đồng thời tiềm năng
của các em được thúc đẩy phát triển đầy đủ.
Thực tiễn cho thấy, mỗi học sinh có những phong cách học khác nhau
và các em chỉ thực sự học hiệu quả với cách học đó. Vì vậy, việc nghiên cứu các
hình thức tổ chức linh hoạt sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh là
hết sức quan trọng mà học theo góc là một trong những phương pháp điển
hình.
Vì vậy, nên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Dạy học theo góc và
7.1.Các phương pháp nghiên cứu lí luận:
Các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, các
công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Từ đó xây dựng cơ sở lý luận
của đề tài và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu khác.
Mục đích : Bổ sung và tích lũy vốn tri thức lý luận có liên quan tới đề
tài xây dựng, những khái niệm công cụ của đề tài.
7.2.Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Quan sát sư phạm
Thông qua dự giờ, quan sát các hoạt động giảng dạy của giáo viên và
hoạt động học tập của học sinh trong quá trình dạy học Công Nghệ có sử
dụng các kỹ thuật dạy học, quan sát sự chú ý và hứng thú học tập của học
sinh trong quá trình học môn Công Nghệ. Từ đó tìm hiểu sự tác động phù
hợp của các phương pháp dạy học tương ứng với phong cách học tập của
từng học sinh
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Phương pháp này nhằm thu thập thông tin về thực trạng, nhận thức và
cách thức sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên và hứng thú học tập
3
của học sinh khi giáo viên sử dụng phương pháp dạy học theo trong Bài
giảng.
7.2.3. Phương pháp trao đổi, phỏng vấn
Phương pháp này hỗ trợ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, đồng
thời cung cấp một số thông tin cụ thể nhằm tăng độ tin cậy và sức thuyết
phục của phương pháp điều tra. Nội dung phỏng vấn giáo viên tập trung
vào ý nghĩa, tầm quan trọng, yếu tố nào quyết định sự thành công khi sử
dụng dạy học theo góc. Với học sinh, tập trung vào các vấn đề việc học theo
góc có tác động tích cực đối với học sinh như thế nào.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm có đối chứng nhằm kiểm chứng tính hiệu
quả, khả thi khi áp dụng dạy học theo góc trong dạy học Công nghệ 11. Qua
trải nghiệm. Socrat (469 – 339 TCN) nhà triết học, người thầy vĩ đại của Hy
Lạp cổ đại đã từng dạy các học trò của mình bằng cách luôn đặt ra các câu
hỏi gợi mở nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lí. Phương
châm sống cảu ông là “ sự tự nhận thức, nhận thức chính mình …”. Khổng
Tử (551- 479 TCN) nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại của Trung Hoa cổ đại
đòi hỏi người ta phải học và tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu trong quá trình học.
Ông nói: “Không tức giận vì muốn biết, thì không gợi mở cho, không bực
tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một
góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa…”
Montaigne (1533 – 1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứu
lý luận, đặc biệt là về giáo dục, ông đề ra phương pháp giáo dục “ học qua
hành” ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất, kiến hiệu nhất
là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành. Vậy vấn đề không phải là
6
giảng dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt. Trái lại,
chủ yếu là bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng xét đoán của mình…”
Komensky (1592 – 1670) là một nhà tư tưởng Clovakia, nhà lý luận
giáo dục, đã đưa ra bí quyết về phương pháp giảng dạy: “Bí quyết của giáo
dục là rèn luyện cho các em một tâm hồn dễ dàng, tích cực, tự do, ngăn cản
được các điều mà các em muốn làm, ngược lại đẩy được các em làm những
điều mà chúng không muốn”. Ông nêu rõ: “Chủ yếu dạy các em qua việc làm
chứ không phải qua lời giảng”
J.J Rousseau (1712 – 1778), thiên tài lý luận của Pháp thời kỳ khai
sáng, kịch liệt phê phán nhà trường đương thời lạm dụng lời nói, ông coi
trọng sự phát triển tự nhiên, tự do, coi trọng tự giáo dục của trẻ, phản đối
việc chèn ép cá tính của trẻ. Ông cho rằng muốn giáo dục con người tốt phải
bằng hoạt động tiếp cận đối tượng với hoạt động, với thực tế. Ông nhận xét,
các giảng dạy ba hoa sẽ tao nên những con người ba hoa, đừng cho trẻ em
khoa học mà phải để nó tự tìm tòi ra khoa học. Ông viết “ Không dạy các em
môn khoa hoạc mà chỉ khêu gợi tinh thần yêu chuộng khoa học và cấp cho
Trần Hồng Quân (nguyên Bộ trưởng Bộ GD & ĐT) trong bài: “Cách
mạng về PP sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở thời đạ
mới” đăng trên tạp trí nghiên cứu GD số 1/1995 viết: “Muốn đào tạo được
con người khi bước vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì
phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và
phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo
thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và
phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo.
Người học tích cực học bằng hành động của mình. Người học tự tìm hiểu,
8
phân tích, xử lý tình huống và giải quyết vấn đề, khám phá ra cái chưa biết.
Nhiệm vụ của người thầy là chuẩn bị cho học sinh thật nhiều tình huống
chứ không phải là nhồi nhét kiến thức vào đầu óc học sinh”.
Như vậy, Phương pháp tổ chức các hoạt động hoạc tập mà theo đó
người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong
không gian lớp học đảm bảo cho người học học sâu và học thoải mái đã
được chú trọng từ rất lâu. Phương pháp dạy học theo góc là một trong
những phương pháp cụ thể thể hiện rõ ràng điều này
Dạy học theo góc được triển khai vào nước ta năm 2011 theo dự án
Việt – Bỉ bởi tiến sĩ Nguyễn Tuyết Nga của Viện Khoa học Giáo dục Việt
Nam với sự phối hợp chặt chẽ của bà Leen Pil từ Trung tâm giáo dục trải
nghiệm, đại học Leuven, Vương quốc Bỉ
Ngày nay, có nhiều luận văn, luận án đề cập đến vấn đề dạy học theo
góc. Tuy nhiên, mỗi một tác giả vận dụng dạy học theo góc ở các bộ môn
khác nhau, chẳng hạn: Nguyễn Minh Đức nghiên cứu “Vận dụng dạy học
theo góc và phần sự điện li chương trình hóa học 11 nâng cao với sự hỗ
trợ của công nghệ thông tin”. Phạm Hương Giang nghiên cứu: “Tổ chức
dạy học theo góc nội dung kiến thức "Định luật Ôm đối với toàn mạch và
ghép nguồn bộ" Vật lý 11 nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ và bồi
dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh”. Lê Văn Hùng nghiên cứu: “Thiết kế
viết, liên hệ với những kiến thức đã học và ứng dụng nó vào cuộc sống hàng
ngày
1.3. DẠY HỌC THEO GÓC
1.3.1. Cơ sở khoa học của dạy học theo góc
Theo phong cách học tập của Kolb
10
David A.Kolb là giáo sư khoa Hành vi tổ chức của Trường quản trị
Weatherhead, Đại học Case Western Reserve. Ngoài ra, ông là nhà sáng lập
kiêm chủ tịch công ty Phương pháp học tập dựa trên kinh nghiệm.
Ông là tác giả của cuốn sách Học qua trải nghiệm: Kinh nghiệm là
nguồn học hỏi và phát triển, và là cha đẻ của cuốn sách Danh mục cách học.
Các công trình nghiên cứu khác là: Học qua đàm thoại: cách tiếp cận theo
kinh nghiệm để phát triển tri thức, Sự đổi mới trong giáo dục chuyên
nghiệp: Các bước của quá trình từ dạy đến học, Hành vi tổ chức: cách tiếp
cận dựa vào kinh nghiệm, và vô số bài báo về lĩnh vực học qua trải nghiệm.
Ông đã nhận được bốn bằng danh dự công nhận sự cống hiến hết mình
trong lĩnh vực nghiên cứu các cách học.
Ông cho rằng một chu kì học hỏi gồm những giai đoạn sau:
Hình 1.1 Chu kì học hỏi của Kolb
Từ mô hình trên, thấy rằng có bốn giai đoạn, và mỗi giai đoạn đều
phát triển theo sau giai đoạn kế tiếp. Quá trình quan sát phản ánh hành
động và suy nghĩ theo sau kinh nghiệm cụ thể của mỗi cá nhân. Điều này có
thể bắt nguồn từ những quy tắc mô tả kinh nghiệm chung hoặc sự áp dụng
của các học thuyết đã biết (Khái niệm trừu tượng), và sau đó tạo ra những
11
cách thử nghiệm để chuyển sang giai đoạn kế tiếp (Thử nghiệm chủ động),
và tiếp tục quay lại kinh nghiệm cụ thể. Chu kỳ này có thể diễn ra trong
chốc lát, hay vài ngày, vài tuần, vài tháng, tùy thuộc vào chủ đề và đôi khi
các giai đoạn có thể diễn ra cùng một lúc.
Kinh nghiệm cụ thể cũng có thể hiểu là “kinh nghiệm có được nhờ
hững người với cách học này có thể nhìn mọi việc ở những góc độ khác
nhau. Họ là những người nhạy cảm. Họ thích quan sát hơn thực hiện, có
13
chiều hướng thu thập thông tin và dùng trí tưởng tượng để giải quyết vấn
đề. Họ có khả năng quan sát tốt nhất những tình huống cụ thể với những
quan điểm khác nhau. Ông gọi đây là kiểu “Phân kỳ” vì những người này
phát huy khả năng hiệu quả trong những tình huống cần đưa ra các ý
tưởng. Những người với cách học phân kỳ đều có kiến thức về văn hóa sâu
rộng và thích thu thập thông tin. Họ yêu con người, giàu trí tưởng tượng,
nhiều tình cảm, và thiên về nghệ thuật. Hơn nữa, họ thích làm việc theo
nhóm để có thể lắng nghe người khác với một quan điểm cởi mở và để
nhận được các phản hồi cá nhân.
Đồng hóa (tư duy và quan sát – AC/RO):
Những người với cách học này thiên về cách nhìn nhận vấn đề có khoa
học và súc tích. Đối với họ, các ý tưởng và khái niệm thì quan trọng hơn
con người. Những người này cần một sự giải thích rõ ràng hơn là một cơ
hội thực tế. Họ có khả năng nắm vững thông tin ở diện rộng và sắp xếp
chúng theo một lối tư duy có khoa học. Những người với cách học Đồng
hóa này ít chú trọng vào con người và dành ưu tiên cho những ý tưởng và
khái niệm trừu tượng. Họ thiên về những học thuyết sâu rộng hợp lý hơn
là những cách tiếp cận dựa trên các giá trị thực tế. Đây là những người
cần thiết để thu thập thông tin hiệu quả và là những người phù hợp với
nghề nghiên cứu khoa học. Họ thích đọc, diễn thuyết, khám phá những mô
hình phân tích và dành thời gian để tư duy mọi việc.
Hội tụ (tư duy và thực hiện – AC/AE):
Những người với cách học này có thể giải quyết vấn đề và dùng cách học
của mình để tìm giải pháp cho những vấn đề thực tế. Họ thiên về những công
việc kỹ thuật và các vấn đề, ít quan tâm đến con người, các vấn đề về cá nhân
và các vấn đề xã hội. Những người với cách học Hội tụ này có khả năng tìm
kiếm những cách ứng dụng thực tế cho các ý tưởng và lý thuyết. Họ có thể
Hình 1.4. Các phong cách học
Ứng với các phong cách học khác nhau, giáo viên có những phong
cách dạy khác nhau. Một số phong cách học và dạy như sau
Bảng 1.1. Một số phong cách dạy và học
Phong cách học Tổ chức dạy học
- Góc trải nghiệm (tương đương với
cách học thích nghi của Kolb): Học
sinh áp dụng các phân tích của
người khác và thực hiện cách tiếp
cận thực tế và thử nghiệm.
- Cách dạy của GV: Kích thích tính
chủ động làm chủ.
Học sinh được tiến hành các thí
nghiệm theo nhóm, quan sát hiện
tượng, giải thích và rút ra nhận xét
cần thiết.
- Góc quan sát (tương đương với
cách học phân kỳ của Kolb): Học
- Cách dạy của GV: Kích thích khả
năng quan sát.
QUAN SÁT
QUAN SÁT
TRẢI NGHIỆM
TRẢI NGHIỆM
PHÂN TÍCH
PHÂN TÍCH
ÁP DỤNG
ÁP DỤNG
CÁC PHONG CÁCH HỌC
CÁC PHONG CÁCH HỌC
xuất phát), sau đó áp dụng để giải
bài tập hoặc giải quyết một vấn đề
liên quan thực tiễn.
Như vậy khi nói đến học theo góc, người dạy cần tạo ra môi trường
học tập với cấu trúc được xác định cụ thể, có tính khuyến khích, hỗ trợ và
thúc đẩy học sinh tích cực thông qua hoạt động; có sự khác nhau đáng kể
về nội dung và bản chất của các hoạt động nhằm mục đích để học sinh
được thực hành, khám phá và trải nghiệm.
1.3.1.1. Tạo môi trường học tập với cấu trúc được xác định cụ
thể
Quá trình học được chia thành các khu vực/ góc theo cách phân chia
17
nhiệm vụ và tư liệu học tập. Để có cái nhìn tổng thể, một cấu trúc rõ ràng sẽ
được áp dụng để học sinh có thể độc lập tìm kiếm cách thức học tập phù
hợp nhằm thực hiện nhiệm vụ và đạt mục tiêu. Các vấn đề cần chú ý là: Các
em có biết có những khu vực nào và cần làm gì để hoàn thành nhiệm vụ?
Liệu các em có cần tư liệu để tự sửa chữa kết quả thực hiện nhiệm vụ? Liệu
các em có thể chuyển sang một khu vực khác và nếu có thể thì trong điều
kiện nào? Tất cả đều được tổ tức để tạo ra một bầu không khí nhẹ nhàng và
không ồn ào. Có thể áp dụng cách vẽ hình thể hiện “cấu trúc cụ thể” như
một biện pháp hỗ trợ trong quá trình thực hiện.
1.3.1.2. Có tính khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy học sinh tích cực
học
Dậy học theo góc mang lại môi trường học tập thân thiện, mang tính
kích thích thể hiện sự bố trí bàn ghế, trang trí trên tường, cách sắp xếp
không gian lớp học, quan tâm tới sự thoải mái về tinh thần, không căng
thẳng, không nặng nề, không gây phiền nhiễu, có các hoạt dộng giải trí nhẹ
nhàng, truyện vui, hài hước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Hỗ trợ cho
học sinh một cách tích cực, tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, thể hiện quan
điểm, giái trị, ước mơ, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác trong hoạt động học
Giáo viên có thể tổ chức hoạt động học theo hệ thống luân chuyển
theo vòng tròn và nối tiếp.
Giáo viên sẽ tạo ra nhiều góc học tập với các nhiệm vụ khác nhau.
Không chỉ là các bài tập trên giấy mà còn là các bài tập, tự luận, thực
nghiệm… Nói cách khác: giáo viên sẽ đưa ra các dạng bài tập khác nhau để
giải quyết với các kĩ năng và mức năng lực khác nhau ở người học.
Sự đồng thuận trong hoạt động luân chuyển góc là một yếu tố quan
19
trọng trong cách tổ chức này. Giáo viên nên hướng dẫn học sinh chuyển
qua góc tiếp theo khi đã kết thúc một phần nội dung – nhiệm vụ tại mỗi góc
(cần bảo quản các tư liệu học tập đã sử dụng). Ví dụ : Với việc tổ chức 4
góc : Góc trải nghiệm, góc quan sát, góc phân tích, góc áp dụng, học sinh có
thể luân chuyển theo chiều kim đồng hồ như sơ đồ dưới đây
Hình 1.5. Các phong cách học
Học theo góc nối tiếp có những lợi ích khi tính tới số lượng học sinh
được hưởng lợi và trong điều kiện số lượng tài liệu học tập giới hạn. Trong
hệ thống quay vòng, tất cả học sinh đều có cơ hội như nhau để tiếp cận với
các tài liệu học tập. Điều này có nghĩa là giáo viên không cần phải chuẩn bị
nhiều tài liệu dạy học.
Nhưng một điều bất lợi trong phương pháp này, đặc biệt khi các
nhiệm vụ được thực hiện đơn lẻ, là những học sinh nhanh/ thông minh sẽ
QUAN SÁT
QUAN SÁT
TRẢI NGHIỆM
TRẢI NGHIỆM
PHÂN TÍCH
PHÂN TÍCH
ÁP DỤNG
ÁP DỤNG
CÁC PHONG CÁCH HỌC