thành phần sâu mọt trong kho bảo quản thức ăn gia súc; đặc điểm sinh học loài mọt răng cưa (oryzaephilus surinamensis linnaeus) và hiệu lực diệt trừ bằng thuốc phosphine tại hà nội và phụ cận 2014 - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

 NGUYỄN BÍCH NGỌC THÀNH PHẦN SÂU MỌT TRONG KHO BẢO QUẢN THỨC
ĂN GIA SÚC; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI MỌT RĂNG
CƯA (Oryzaephilus surinamensis Linnaeus) VÀ HIỆU LỰC
DIỆT TRỪ BẰNG THUỐC PHOSPHINE TẠI HÀ NỘI
VÀ PHỤ CẬN 2014
CHUYÊN NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ : 60.62.01.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TS. LÊ NGỌC ANH

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

Lời cảm ơn

Để đề tài được hoàn thành tốt, trong suốt thời gian thực tập, nghiên cứu, tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Giáo viên hướng dẫn, của các tập
thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới TS. Lê Ngọc Anh –
Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã dành cho tôi sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình
trong suốt thời gian thực tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng –
Khoa Nông Học –Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo và tập thể
cán bộ Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 5 – Hà Nội, Trung tâm Giám Định Kiểm
dịch thực vật – Cục Bảo vệ thực vật đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân
và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên
cứu này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 02 năm 2015
Tác giả luận văn Nguyễn Bích Ngọc

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii


Page iv

1.3.4. Nghiên cứu về giống Oryzaephilus – Mọt răng cưa Oryzaephilus
surinamensis L. 24
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 26
2.2. Địa điểm nghiên cứu 26
2.3. Thời gian nghiên cứu 26
2.4. Dụng cụ nghiên cứu 26
2.5. Nội dung nghiên cứu 28
2.6. Phương pháp nghiên cứu 28
2.6.1. Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản
thức ăn gia súc 28
2.6.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài mọt răng
cưa Oryzaephilus surinamensis L. 30
2.6.3. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt răng cưa
Oryzaephilus surinamensis L. 31
2.6.4. Đánh giá hiệu lực diệt trừ mọt răng cưa Oryzaephilus
surinamensis L. bằng thuốc xông hơi Phosphine trong
phòng thí nghiệm. 34
2.6.5. Phương pháp xử lý số liệu 35
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1. Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại Hà Nội và
phụ cận năm 2014 36
3.1.1. Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại
khu vực Hà Nội năm 2014 36
3.1.2. Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại
khu vực Hà Nam năm 2014 38
3.1.3. Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại
khu vực Bắc Giang – Bắc Ninh năm 2014 40

Danh mục bảng

STT Tên bảng Trang1.1 Thành phần côn trùng và nhện chính hại kho nông sản trên thế giới
5
1.2. Các loài cánh cứng phổ biến ở vùng Đông Nam Á
6
1.3. Hiệu quả của phosphine trong phòng trừ côn trùng hại kho nông sản
14
3.1.Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực
Hà Nội năm 2014
36
3.2.Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực
Hà Nam năm 2014
39
3.3. Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại khu vực
Bắc Giang – Bắc Ninh năm 2014
41
3.4. Thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia súc tại Hà Nội và
phụ cận năm 2014
43
3.5. Kích thước các pha phát dục của Oryzaephilus surinamensis L.
49
3.6. Thời gian phát dục của Oryzaephilus surinamensis L. nuôi ở 25
o
C,
70%RH
54

Page vii

Danh mục hình

STT Tên hình Trang

2.1. Các loại thức ăn thí nghiệm 26
2.2. Một số dụng cụ nghiên cứu 27
2.3. Nuôi nguồn mọt cho các thí nghiệm 30
3.1. Thành phần sâu mọt hại kho bảo quản thức ăn gia súc tại Hà Nội và phụ
cận 2014 48
3.2. Trứng Oryzaephilus surinamensis L. 50
3.3. Sâu non tuổi 2 O. surinamensis 51
3.4. Sâu non tuổi 4 O. surinamensis 51
3.5. Nhộng Oryzaephilus surinamensis L. 51
3.6. Trưởng thành Oryzaephilus surinamensis L. 52
3.7. Râu đầu 52
3.8. Đầu và mảnh lưng ngực 52
3.9. Cánh cứng trưởng thành 52
3.10. Phân biệt trưởng thành đực - cái Oryzaephilus surinamensis L. 53

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang được toàn cầu hoá, Việt Nam gia
nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), sự giao lưu hàng hoá giữa các vùng, các
quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ thì nhiệm vụ của công tác Kiểm dịch thực vật

nhện hại, thiên địch trong kho có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong các loài dịch hại kho, giống Oryzaephilus là giống gây hại thứ phát
nguy hiểm, gây ra những tổn thất lớn đối với nông sản bảo quản. Giống Oryzaephilus
hiện nay trên thế giới ghi nhận gồm 2 loài là Oryzaephilus surinamensis L. và
Oryzaephilus mercator F. Trong đó, mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L. đã
có mặt trong kho thức ăn gia súc ở nước ta. Còn Oryzaephilus mercator F. chưa có
công bố nào ghi nhận sự phân bố của chúng trên lãnh thổ Việt Nam, tuy nhiên chúng
lại phân bố ở một số nước lân cận thường xuyên giao thương hàng nông sản với nước
ta, hay ở những vùng có cùng kiểu khí hậu với Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc,
Malaysia, Mianmar… Trong khi đó, những nghiên cứu về giống Oryzaephilus nói
chung và mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L. nói riêng ở nước ta chưa nhiều.
Với mong muốn góp phần vào việc làm giảm tổn thất sau thu hoạch và trong
quá trình bảo quản, đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác kiểm dịch thực vật,
hạn chế tối đa sự phát sinh, phát triển và gây hại của sâu mọt, mang lại hiệu quả
kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thành
phần sâu mọt trong kho bảo quản thức ăn gia súc; Đặc điểm sinh học loài mọt
răng cưa (Oryzaephilus surinamensis Linnaeus) và hiệu lực diệt trừ bằng thuốc
Phosphine tại Hà Nội và phụ cận 2014”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở điều tra thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản thức ăn gia
súc khu vực Hà Nội và phụ cận, xác định đặc điểm hình thái, sinh học của loài mọt
răng cưa (Oryzaephilus surinamensis L.), đánh giá hiệu lực diệt trừ chúng bằng
thuốc Phosphine, từ đó làm cơ sở xây dựng biện pháp phòng trừ loài mọt răng cưa
đạt hiệu quả
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
∗ Ý nghĩa khoa học
- Những kết quả nghiên cứu về thành phần sâu mọt hại trong kho bảo quản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3


Có thể nói ở đâu có sự tồn trữ và lưu trữ, ở đó xuất hiện các loài sinh vật gây
hại. Trong nhóm các yếu tố sinh vật gây hại kho và hàng hóa trong kho, côn trùng là
đối tượng phá hại rất nghiêm trọng và nguy hiểm. Côn trùng gây hại trong kho không
chỉ làm hao hụt về trọng lượng hàng hóa mà còn gây mất mát về phẩm chất hàng hóa.
Do đó, việc nghiên cứu thành phần côn trùng hại kho và các đặc điểm sinh
học, sinh thái là rất cần thiết để từ đó đề ra biện pháp phòng trừ chúng có hiệu quả,
đồng thời ngăn chặn sự lây lan dịch hại, giảm thiểu tối đa những thiệt hại về kinh tế.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1. Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản nông sản
Cho đến nay, trên thế giới đã phát hiện được hàng trăm loài côn trùng và
nhện trong kho bảo quản nông sản. Dựa vào đặc tính gây hại, Cotton và Good
(1937) đã chia côn trùng trong kho thành 4 nhóm:
1 - Nhóm gây hại chủ yếu: gồm các loài gây những tổn hại đáng kể cho hàng
hóa bảo quản, là những loài chính gây nên sự hỏng chất lượng và hao hụt trọng
lượng, thường xâm nhiễm trực tiếp vào hàng hóa, phát triển với mức quần thể lớn
và có thể thay đổi một phần theo khí hậu trong kho.
2 - Nhóm gây hại thứ yếu: gồm những loài gây hại có tính chất cục bộ và có thể
diễn ra chỉ sau khi có việc xâm nhiễm và phát triển của các loài gây hại chính.
3 - Nhóm gây hại ngẫu nhiên: gồm những loài côn trùng xâm nhiễm vào kho,
hàng hóa do khi mở cửa kho, mở bao gói hoặc trong quá trình vận chuyển… như
ruồi, bướm, rết… chúng bị lôi cuốn vào kho hàng do tính hướng sáng, mùi thơm
hay chỉ để trú ẩn.
4 - Nhóm côn trùng ký sinh hay ăn thịt: Chúng xâm nhiễm vào kho hàng để ký
sinh hoặc ăn thịt các côn trùng hại kho có mặt trong đó như ong ký sinh và một số
loài thuộc họ Carabidae.
Năm 1974, danh mục côn trùng gây hại hạt dự trữ trong kho của Cotton và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Wilbur gồm 43 loài được chia làm 2 nhóm: Nhóm côn trùng gây hại chủ yếu: gồm

Sitophius granarius
(Linnaeus)
Curculionidae Coleoptera Insecta Hại nguyên phát
8 Sitophilus oryzae (Linnaeus) Curculionidae Coleoptera Insecta Hại nguyên phát
9 Sitotroga cerealella (Oliv.) Curculionidae Coleoptera Insecta Hại nguyên phát
10
Trogoderma granarium
Everts
Dermestidae Coleoptera Insecta Hại bên ngoài
11
Trogoderma variabile
Ballion
Dermestidae Coleoptera Insecta Hại bên ngoài
12
Oryzaephilus surinamensis
(Linnaeus)
Silvanidae Coleoptera Insecta Hại thứ phát
13 Tribolium castaneum Herbst Tenebrionidae Coleoptera Insecta Hại thứ phát
14
Tribolium comnfusum (Jac.
du Val)
Tenebrionidae Coleoptera Insecta Hại thứ phát
15 Tenebroides mauritanicus (L.)

Trogossitidae Coleoptera Insecta Hại bên ngoài
16 Ephestia kuehniella Zeller Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại thứ phát
17 Ephestia cautella (Walker) Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại bên ngoài
18 Ephestia elutta (Hubner) Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại bên ngoài
19 Ephestia figulella Pyralidae Lepidoptera Insecta Hại bên ngoài
20

Bostrychidae
Rhyzopertha dominica (F.)
5 Dinoderus minutus (F.)
6
Bruchiddae
Callosobruchus chinensis (L.)
7 Callosobruchus maculatus (F.)
8 Cleridae Necrobia rufipes (Deg.)
9 Cucujidae Cryptolestes pusillus (Schonherr)
10
Currculionidae
Sitophilus oryzae (L.)
11 Sitophilus zeamais (Motsch.)
12
Dermestidae
Dermestes ater (Deg.)
13 Dermestes maculatus (Deg.)
14 Mycetophagidae Typhaea stercorea (L.)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

STT Họ Loài
15
Nitidulidae
Carpophilus dimidiatus (F.)
16 Carpophilus hemipterus (L.)
17
Silvanidae
Ahasverus advena (Waltl)
18 Oryzaephilus surinamensis (L.)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

1.2.2
. Nghiên cứu về những thiệt hại do sâu mọt gây ra trong kho bảo quản
nông s
ản

Những sản phẩm bảo quản sau thu hoạch ở dạng hạt khô,thường bị tấn công
bởi nhiều loài côn trùng, gây ra thiệt hại lớn. Hậu quả của những mất mát đó có thể
là trực tiếp hoặc gián tiếp. Mất mát trực tiếp như việc hao hụt trọng lượng, mất khả
năng nảy mầm, mất hẳn giá trị sản phẩm hay mất tiền để giải quyết hậu quả. Tổn
thất gián tiếp có thể như việc giảm phẩm chất hàng hóa, làm nhiễm bẩn… Đó cũng
là một trong những nguyên nhân đã dẫn đến nạn đói ở nhiều châu lục.
Theo kết quả điều tra của FAO (1999), hàng năm trên thế giới, mức tổn thất
của lương thực trong kho bảo quản là 10%, cụ thể là 13 triệu tấn ngũ cốc bị thiệt hại
do côn trùng và 100 triệu tấn bị thiệt hại do bảo quản không đúng cách. Thiệt hại ở
các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới cao hơn ở những vùng ôn đới. Năm 1976, thiệt
hại về ngũ cốc bảo quản ở các nước phát triển là 42 triệu tấn, tương đương 95%
tổng lượng ngũ cốc thu hoạch của Canada. Ở Mỹ, thiệt hại ngũ cốc dự trữ hàng năm
vào khoảng 15-23 triệu tấn, trong đó khoảng 7 triệu tấn là do chuột hại và 8-16 triệu
tấn là do côn trùng. Ở châu Mỹ Latin, thiệt hại từ 25-50% ngũ cốc sau thu hoạch. Ở
các nước châu Phi, khoảng 30% nông sản bị mất mát hàng năm. Ở Đông Nam Á,
một số vụ mùa bị mất tới 50% do bảo quản sau thu hoạch.
Subrahmanyan (1962) chỉ ra rằng tổng sản lượng lương thực của thế giới có
thể tăng 25-30% nếu chúng ta có thể tránh những mất mát lương thực sau thu
hoạch. Bakal (1963) tính ra tổn thất lương thực hàng năm do chuột, côn trùng, nấm
là khoảng 33 triệu tấn, 1 lượng đủ để cung cấp cho dân số Hoa Kỳ trong vòng 1
năm. (dẫn theo Snelson, 1987).
Năm 1973 lương thực trên thế giới không thể cung cấp cho những nơi mất

phản ánh chính xác thiệt hại của sản phẩm. Hơn nữa, cũng phải lưu ý tới việc nông
sản bảo quản trong kho bị ẩm do độ ẩm môi trường. Một yếu tố khác là thành phần
các chất chứa trong bao để tính trọng lượng còn có cả bụi bẩn và côn trùng do đó
mức hao hụt về trọng lượng thường lớn hơn thực tế. Dù đã có những cố gắng
thường xuyên và liên tục, các chuyên gia về bảo quản chỉ mới đạt được một số kết
quả trong việc bảo quản nông sản lâu dài ở vùng ôn đới nhưng rất ít kinh nghiệm ở
vùng nhiệt đới, đặc biệt là vùng nhiệt đới ẩm.Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

1.2.
3. Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu mọt trong kho bảo quản
nông s
ản

1.2.3.1. Phòng trừ bằng luật lệ
Phòng trừ bằng luật lệ là việc điều khiển bằng luật lệ, pháp quy thông qua
các tổ chức có chức năng quản lý nhà nước nhằm tiễu trừ, ngăn chặn hay phòng
chống việc xâm nhiễm loài gây hại cũng như hạn chế thiệt hại do côn trùng gây ra.
Nội dung chủ yếu bao gồm việc thực thi các biện pháp kiểm dịch quốc tế
(kiểm dịch đối ngoại) và kiểm dịch trong nước (kiểm dịch nội địa).
Các cơ quan chức năng thực thi biện pháp phòng trừ bằng luật lệ chủ yếu tập
trung vào các nhiệm vụ:
- Ngăn ngừa sự xâm nhập các côn trùng từ nước ngoài, đặc biệt là các đối
tượng kiểm dịch;
- Ngăn chặn các ổ dịch có khả năng lan rộng trong nước hay một vùng sinh thái;
- Tôn trọng các quy định, quy trình áp dụng các biện pháp phòng trừ đối với
những loài gây hại quan trọng;

để gây hại (Fangneng và Bhadriraju, 2007).
Bên cạnh đó, ở Úc hiện áp dụng biện pháp bảo quản kín dưới đất bằng việc
đào các hố sâu khoảng 1-2m dưới đất, sau đó để trải bạt để cách nhiệt và ẩm, rồi đổ
rời hạt lúa mỳ xuống; sau đó trùm lên trên bằng một tấm bạt che khác và ghép các
mép bạt lại với nhau làm kín (không cần đến nhà và mái che cho loại kho này). Bảo
quản theo phương pháp này có thể kéo dài trong thời gian 6 tháng. Bảo quản dưới
mặt đất cũng rất phổ biến ở các nước châu Phi hiện nay, nơi có điều kiện thời tiết
khô và nóng. Phương pháp bảo quản dưới mặt đất có chi phí thấp hơn nhiều so với
bảo quản trong các xylô. Tuy nhiên, phẩm chất hạt bảo quản cũng giảm đi nhanh
hơn nên thời gian bảo quản thường chỉ là 6 tháng (Collins, 2010).
∗ Phòng trừ bằng nhiệt độ
Côn trùng có tính mẫn cảm với nhiệt độ cao. Krikpatrick và Tilton (1972) đã
thử nghiệm khả năng chịu nhiệt của côn trùng hại kho ở 49
o
C, kết quả cho thấy độ mẫn
cảm của các loài như sau: Lasioderma serricorne > Cryptolestes pusillus =
Rhyzopertha dominica > Sitophilus oryzae = Tribolium castaneum = Trogoderma
variabile > Sitophilus granarius > Tribolium confusum = Oryzaephilus surinamensis.
Một số loài côn trùng kho mẫn cảm với nhiệt độ lạnh. Các pha phát dục như
trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành có khả năng chống chịu với nhiệt độ lạnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

khác nhau. Pha trứng của hầu hết các loài côn trùng kho đều mẫn cảm với nhiệt độ
thấp. Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis sống khoảng trên 10 tuần ở nhiệt độ
5-10
0
C. Dù không chết ở 10
0
C nhưng ở nhiệt độ này chúng không vận động và ăn

1.
Các loài côn trùng ký sinh như ong ký sinh thuộc họ Braconidae (như
Bracon hebator ký sinh Ephestia cautella), Ichneumonidae, Pteromalidae và
Bethylidae.
2.
Các loài bắt mồi gồm bọ xít (bọ xít bắt mồi thuộc họ Anthocoridae như
Xylocoris flavipes, cánh cứng, bọ càng cua (Pseudoscorpion) và nhện bắt mồi (như
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Pyemotes sp.).
3.
Tác nhân gây bệnh gồm vi khuẩn và virus:
Vi khuẩn gây bệnh cho côn trùng kho nông sản như Bacillus thuringiensis
Berliner (Bt), B. papille.
Hiroshi et al. (1991) ghi nhận được ba loài ong ký sinh côn trùng gây hại
trong các kho lương thực ở Thái Lan là Chaetospila elegans, Proconus sp. và
Bracon hebetor. Và một số loài bắt mồi như: kiến (khoảng 4-5 loài), bọ xít
(Xylocoris flavipes Reuter), Scenopinus fenestralis và bò cạp giả Chelifer sp.
Berlinder (1911) phân lập được vi khuẩn Bacillus thuringiensis từ sâu non
của Ephestia kuehniniella Zeller tại Thuringia. Người ta đã phát hiện được 525 loài
thuộc 13 bộ côn trùng bị nhiểm vi khuẩn Bacillus thuringiensis, trong đó nhiều nhất
là bộ cánh vảy (318 loài), sau đó là bộ hai cánh (59 loài), bộ cánh cứng (34 loài) và
còn lại là các bộ khác (khoảng 1-12 loài).
Theo Doberski (1984), nấm Beauveria bassiana Bals kìm hãm trên 90% sự
phát triển của sâu non và nhộng Oryzaephilus surinamensis với lượng bào tử nấm là
10
6
-10
3

:CH.CN)… Tuy nhiên, hiện chỉ còn
hai loại thuốc được sử dụng rộng rãi là Methyl bromide và Phosphine. Những loại
khác hầu hết đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng do tính độc cao, gây nguy hiểm cho
người sử dụng, hàng hóa và môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến hàng hóa bảo
quản sau khi xông hơi.
Khử trùng bằng Methyl Bromide cho hiệu quả tốt, nhanh chóng tuy nhiên
Methyl Bromide bị kiểm soát nhập khẩu và sử dụng bởi Nghị định thư Montrean do
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

có tiềm năng phá hủy tầng ôzôn của khí quyển (hệ số 0,6). Do vậy, xu hướng hiện
nay đối với hàng nông sản xuất nhập khẩu là khử trùng bằng Phosphine.
Liều lượng xông hơi khử trùng bằng Phosphine phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt
độ kho, cấu trúc kho và độ kín của kho bảo quản. Nhiều tác giả trên thế giới đã
nghiên cứu hiệu quả và liều lượng phosphine để phòng trừ côn trùng hại kho nông
sản. Kết quả trình bày ở bảng 1.3.
Bảng 1.3. Hiệu quả của phosphine trong phòng trừ côn trùng hại kho nông sản
Liều lượng
và thời gian
Loại kho bảo quản Nguồn tài liệu
1/2 viên PH
3
/ tấn trong 5-
7 ngày
Trừ các loài côn trùng hại
trên nông sản đóng bao
hoặc đổ rời
Anon., 1966.
2 viên PH
3

trong 24
giờ hoặc 4,66 mg/l PH
3

trong 8 giờ
Trừ S. oryzae và S.
cerealella trong kho thóc
Rout and Mohaty, 1967
1-3 g phosphine /m
2

Trừ R. dominica, T.
castaneum, S. oryzae và
O. surinamensis
Tyler et al., 1983
1,5-3,5 g/1000 kg trong 4-
5 ngày
Trừ côn trùng hai trong
kho hạt giống
Yadav, 1983
(Người tổng hợp: Hà Thanh Hương, 2008)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

Tại Úc, Herron (1990) đã thử nghiệm tính kháng thuốc của 6 loài côn trùng
hại kho nông sản (Tribolium castaneum, T. confusum, Oryzaephilus surinamensis,
Rhyzopertha dominica, Sitophilus oryzae và S. granarius) thu thập được từ 63 địa
điểm ở bang New South Wales trong năm 1986 với malathion, fenitrothion,
carbaryl, bioresmethrin, pirimiphos-methyl, chlorpyrifos-methyl và phosphine bằng
phương pháp giấy lọc. Kết quả tất cả các loài đều kháng với malathion, khoảng 70%

quan trọng này. Chittenden (1896) thực hiện nghiên cứu ở Washington và thấy rằng
vòng đời của O.surinamensis kéo dài 6-10 tuần vào mùa xuân và khoảng 24 ngày và
giữa mùa hè. Dean công bố kết quả tương tự ở Kansas, cho thấy giai đoạn nhộng
kéo dài 6-12 ngày và ở Kansas có 4-6 lứa/năm (dẫn theo Back, 1926).
Linnaeus, người đầu tiên miêu tả mọt răng cưa vào năm 1767 đầu tiên đặt tên
loài này là Dermester surinamensis. Hiện nay, theo CABI (2014), mọt răng cưa có
tên khoa học là Oryzaephilus surinamensis L.
Phân bố: có mặt ở hầu hết các nước châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi,
châu Đại Dương, trong đó có Việt Nam.
Kí chủ: hại chủ yếu trên các loại ngũ cốc và sản phẩm ngũ cốc. Ngoài ra còn
gây hại trên gạo trắng và các sản phẩm từ gạo trắng.
Theo EPPO (2014), vòng đời trung bình của O.surinamensis là 20 ngày trong
điều kiện 30-33
0
C, 70-90%RH. Ở 20
0
C, vòng đời khoảng 3-4 tháng. Trưởng thành
cái đẻ trứng trên bề mặt sản phẩm, từ 300-400 trứng. Sâu non có thể di chuyển và
tìm kiếm thức ăn, chúng phát triển nhanh nhất ở 20-35
0
C. Sâu non có 4 tuổi.
Trưởng thành sống khá lâu, rất hoạt động, di chuyển nhanh.
Kết quả nghiên cứu của Subramayam và Hagstrum (1993); Hagstrum và
Milliken (1988) cho thấy khi nuôi trên ngô hạt ở nhiệt độ 25
0
C thì thời gian phát
triển trung bình từ giai đoạn trứng đến trưởng thành của mọt răng cưa
O.surinamensis là 36,4 ngày, còn ở nhiệt độ 30
0
C là 22 ngày.

cốc. Ngoài ra, còn gây hại trên gạo nâu và cám gạo.
Trưởng thành cái có thể đẻ 400 trứng. Trứng nở trong vòng 3-8 ngày. Sâu
non không thể ăn các loại hạt còn nguyên vẹn. Vòng đời kéo dài từ 20-80 ngày phụ
thuộc vào nhiệt độ.
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1. Nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản nông sản
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á, thành phần côn trùng và
nhện hại kho nông sản cũng không kém phần phong phú.
Nguyễn Thị Giáng Vân và cs (1995) đã ghi nhận được 46 loài sâu mọt hại
lương thực cất giữ trong kho ở 28 tỉnh thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam. Trong đó có
38 loài mọt thuộc bộ Cánh cứng với 19 họ khác nhau và 8 loài thuộc bộ Cánh vảy
với 5 họ khác nhau. Trong đó, Sitophilus oryzae, Rhizopertha dominica, Tribolium
castaneum, Oryzaephilus surinamensis là các loài gây hại phổ biến, được ghi nhận
xuất hiện với tần suất cao (>50%).
Kết quả điều tra thành phần côn trùng và nhện hại nông sản xuất khẩu và bảo
quản ở Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1996 được Trung tâm Phân tích Giám định
Kiểm dịch thực vật thống kê cho thấy có 110 loài gây hại thuộc 43 họ, 8 bộ, trong

Trích đoạn Bộ Lepidoptera Thời gian phát dục các pha và vòng đời của mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L trên các loại thức ăn khác nhau. Sức sinh sản của mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L trên các loại thức ăn khác nhau Nghiên cứu thời gian sống của trưởng thành mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L trong điều kiện có và không có thức ăn Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến khả năng gia tăng quần thể của mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis L và tỷ lệ hao hụt trọng lượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status