phát triển bảo hiểm y tế cho người dân nông thôn trên địa bàn huyện lương tài, tỉnh bắc ninh - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



NGUYỄN THỊ THÚY
PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ HÀ NỘI, NĂM 2015

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào;
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc, bản luận văn này là nỗ lực và là kết quả làm việc của cá nhân tôi. Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thúy


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục sơ đồ, biểu đồ và hình x
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
2.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 5
2.1.2 Bản chất, ý nghĩa và tầm quan trọng của phát triển BHYT cho
người dân nông thôn 8
2.1.3 Đặc điểm phát triển BHYT cho người dân nông thôn 11
2.1.4 Nội dung phát triển BHYT cho người dân nông thôn 15
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển BHYT cho người dân nông thôn 19
2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển BHYT cho người dân nông thôn 30
2.2.1 Kinh nghiệm BHYT tự nguyện cho người dân nông thôn ở một số
nước trên thế giới 30
2.2.2 Kinh nghiệm BHYT tự nguyện cho người dân nông thôn ở một số
địa phương trong nước 37
2.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan 40

4.3.1 Định hướng 100
4.3.2 Mục tiêu 100
4.3.3 Giải pháp phát triển BHYT tự nguyên cho người dân nông thôn 100
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
5.1 Kết luận 105
5.2 Kiến nghị 107
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

5.2.1 Đối với Đảng và Nhà nước 107
5.2.2 Đối với các tổ chức chính trị - xã hội 107
5.2.3 Đối với Ngành Y tế 108
5.2.4 Đối với Cơ quan BHXH 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC……………………………………… ……………………… 112

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHYT TN Bảo hiểm y tế tự nguyện
BVĐK Bệnh viện đa khoa
BVVT Bệnh viện vệ tinh
CSSK Chăm sóc sức khỏe
CSYT Cơ sở y tế
DVYT Dịch vụ y tế

4.1 Cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn của BHXH huyện 67
4.2 Số lượng người tham gia BHYT tự nguyện huyện Lương Tài qua 3
năm (2011-2013) 69
4.3 Tình hình tham gia BHYT theo nhóm đối tượng đóng năm 2013 70
4.4 Tham gia BHYT TN ở các địa phương trên địa bàn huyện Lương Tài
năm 2013 72
4.5 Trình độ chuyên môn của cán bộ BVĐK huyện Lương Tài năm 2013 74
4.6 Tình hình KCB cho bệnh nhân BHYT tại BVĐK Lương Tài 76
4.7 Thu- chi của các nhóm đối tượng theo trách nhiệm đóng BHYT năm
2011-2013 79
4.8 Ý kiến đánh giá của người dân về thủ tục tham gia BHYT TN 83
4.9 Ảnh hưởng của mức đóng, mức hưởng đến kết quả tham gia BHYT tự
nguyện nhân dân 84
4.10 Mức độ hiểu biết chính sách BHYT tự nguyện của người dân 85
4.11 Nguồn thông tin về chính sách BHYT người dân nhận được 87
4.12 Nguồn thông tin về chính sách BHYT phù hợp với người dân 88
4.13 Ý kiến đánh giá chất lượng khám chữa bệnh của cơ sở KCB trên địa
bàn huyện Lương Tài 90
4.14 Ý kiến đánh giá về công tác phục vụ của các đại lý thu BHYT TN
nhân dân 92
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ix

4.15 Thu nhập hàng tháng của người dân nông thôn ảnh hưởng đến quyết
định tham gia BHYT tự nguyện 93
4.16 Trình độ học vấn của người dân nông thôn ảnh hưởng đến quyết định
tham gia BHYT tự nguyện nhân dân 95
4.17 Độ tuổi của người dân ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT tự
nguyện nhân dân 97
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

một cuộc sống khoẻ mạnh, ấm no, hạnh phúc. Vì thế, để bảo vệ mình trước
những rủi ro về sức khoẻ như ốm đau, bệnh tật; con người có nhu cầu được chăm
sóc sức khoẻ, được khám chữa bệnh. Những chi phí khám chữa bệnh này không
thể xác định trước, thường mang tính đột xuất. Và vì thế, cho dù lớn hay nhỏ đều
ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, gây khó khăn cho cho ngân quỹ mỗi gia đình, mỗi
cá nhân đặc biệt những người có thu nhập thấp. Để khắc phục khó khăn cũng như
chủ động về tài chính khi rủi ro bất ngờ về sức khoẻ xảy ra người ta sử dụng các
biện pháp như tự tích luỹ, bán tài sản, đi vay, kêu gọi sự hỗ trợ của người thân,
Mỗi biện pháp đều có ưu điểm và hạn chế nhất định, tuy nhiên khó có thể áp
dụng trong trường hợp rủi ro kéo dài và lặp đi lặp lại. Vì thế, cuối thế kỷ 19 Bảo
hiểm y tế (BHYT) ra đời nhằm giúp đỡ người lao động và gia đình họ khi gặp rủi
ro về sức khoẻ để ổn định đời sống, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Chính sách Tam nông (Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn) của Đảng
và Nhà nước là chủ chương lớn quan tâm tới khu vực hiện đang chiếm phần lớn
dân số và lao động đang sinh sống và hoạt động. Chăm sóc, bồi dưỡng và phát
huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu cách mạng
Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

Bảo hiểm là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, với mục đích
chia sẻ rủi ro đối với người không may bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn … Với truyền
thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “lá lành đùm lá rách” và phương châm “lấy
số đông bù số ít”, người gặp rủi ro sẽ chịu phần nào hoặc không phải chi trả chi
phí để điều trị vì chi phí đó được cộng đồng gánh vác. Năm 1992 Bảo hiểm y tế
ra đời theo Quyết định số 958/BYT-QĐ ngày 11 tháng 9 năm 1992 của Bộ
Trưởng Bộ y tế sau mười một năm hoạt động tháng 01 năm 2003 Bảo hiểm y tế
sát nhập vào Bảo Hiểm xã hội gọi chung là Bảo hiểm xã hội. Cơ quan Bảo hiểm
xã hội ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam trực thuộc Chính phủ. Cấp địa
phương có Bảo hiểm xã hội tỉnh, cấp dưới có Bảo hiểm xã hội các huyện, thị xã,

Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển chính sách BHYT,
huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh đã đạt được một số thành tựu nhất định về thực
hiện chính sách BHYT, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác KCB và chăm sóc
sức khỏe của nhân dân. Tuy nhiên, số đối tượng tham gia BHYT đạt tỷ lệ bao
phủ dân số so với cả nước còn thấp, đặc biệt hai nhóm đối tượng là người cận
nghèo và nhóm hộ nông dân, hộ kinh doanh cá thể.
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác phát triển BHYT cho
người nông dân. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phát triển BHYT cho người
dân nông thôn trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng BHYT cho người dân nông thôn huyện Lương
Tài trong thời gian qua, từ đó đề xuất giải pháp phát triển BHYT cho người dân nông
thôn trong những năm tới nhằm mục tiêu tiến tới thực hiện BHYT toàn dân.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển BHYT, phát triển BHYT cho
người dân nông thôn;
- Đánh giá thực trạng phát triển BHYT cho người dân nông thôn tại huyện
Lương Tài;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển BHYT cho người dân nông
thôn huyện Lương Tài;
- Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phát triển BHYT cho người dân
nông thôn huyện Lương Tài trong thời gian tới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Người dân nông thôn trên địa bàn huyện lương tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển BHYT cho người dân nông

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
2.1.1.1 Khái niệm về Bảo hiểm y tế
Mặc dù hiện nay trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về BHYT
nhưng mục đích chung của BHYT đều giống nhau là nhằm chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ cho người tham gia BHYT khi bị ốm đau, bệnh tật. Theo ILO: “BHYT
là sự đóng góp theo chu kỳ đều đặn của các thành viên tạo nên một quỹ chung để
cùng nhau chia sẻ những rủi ro thông qua hình thức thanh toán chi trả chi phí
khám chữa bệnh bằng quỹ bảo hiểm” (Nguyễn Văn Định, 2006).
Từ thực tế triển khai ở các nước và vận dụng vào điều kiện Việt Nam,
khái niệm về BHYT đó được hình thành theo thời gian như sau:
Theo Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng
ban hành kèm theo Điều lệ BHYT: BHYT do nhà nước tổ chức quản lý nhằm huy
động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để tăng cường chất
lượng trong việc khám bệnh, chữa bệnh.
Theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ ban
hành Ban hành điều lệ BHYT thay thế Nghị định số 58/1998/NĐ-CP. Khái niệm
về BHYT được hiểu như sau: BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ
chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người
lao động, các tổ chức và cá nhân, để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho
người có thẻ BHYT khi ốm đau. BHYT theo điều lệ này mang tính xã hội, không
vì mục tiêu lợi nhuận, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong khám, chữa
bệnh và toàn dân tham gia.
Theo Điều 2 Luật BHYT số 25/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/11/2008 nêu: "BHYT là hình
thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vi mục
đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

lượng. Tiếp cận phát triển và tăng trưởng trong kinh tế thì: Tăng trưởng là sự
thay đổi tăng lên về số lượng các mặt hàng và số lượng từng loại hàng hóa, trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

đó phát triển là tăng lên cả về số lượng mặt hàng và phong phú hơn, đa dạng hơn
về cơ cấu các mặt hàng cũng như sự phân bố của cải phù hợp. Trong nông nghiệp
và nông thôn, phát triển là sự tăng lên về số lượng, chất lượng sản phẩm, cân đối
giữa các ngành, các vùng. Đây được xem như là một trong những điều kiện phát
triển, đi kèm với nó là yếu tố môi trường và yếu tố xã hội nông thôn.
Phát triển BHYT: Là sự phát triển BHYT một cách đầy đủ và toàn diện
trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng quỹ, mở rộng đối
tượng, mở rộng chế độ BHYT và chất lượng KCB cho đối tượng tham gia
BHYT đồng thời tiếp tục phát triển và hoàn thiện chính sách BHYT phù hợp
với điều kiện cụ thể của đất nước ở từng giai đoạn phát triển.
Phát triển BHYT cho người nông dân tức là phát triển BHYT tự nguyện
cho người dân nông thôn. Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển BHYT tự
nguyện. Sở dĩ như vậy vì mỗi người nhìn nhận vấn đề phát triển BHYT tự
nguyện dưới một góc độ khác nhau, có người chủ yếu đánh giá số người tham
gia, người khác lại chủ yếu đề cập đến yếu tố tăng trưởng quỹ. Tập trung lại, về
cơ bản có 3 loại quan niệm về phát triển BHYT tự nguyện.
Dưới góc độ quản lý đối tượng tham gia, phát triển BHYT tự nguyện là
quá trình mở rộng đối tượng tham gia, nâng cao tỷ lệ dân số tham gia, tức là chỉ
đơn thuần phát triển về số lượng và tỷ lệ người tham gia.
Dưới góc độ quản lý quỹ, phát triển BHYT tự nguyện là quá trình bảo tồn
và tăng trưởng quỹ BHYT tự nguyện.
Dưới góc độ khác, phát triển BHYT tự nguyện là sự kết hợp giữa gia tăng
về đối tượng tham gia và nâng cao chất lượng dịch vụ BHYT tự nguyện…
Trên thực tế, người ta thường nghĩ theo quan niệm thứ nhất, tức là đồng
nghĩa phát triển BHYT tự nguyện với việc gia tăng số người, gia tăng tỷ lệ người

- BHYT là một cơ chế trong đó số đông cá nhân đóng góp phí BHYT để hình
thành lên quỹ BHYT. Phí đóng góp BHYT là một khoản tiền nhỏ so với phúc lợi mà
người được BHYT nhận được và mức phí phù hợp với đóng góp của nhiều người.
- Nguyên tắc chia sẻ rủi ro dựa trên cơ sở là tất cả phần đóng góp tạo thành quỹ
BHYT để có thể đủ chi phí cho những người hưởng quyền lợi khi xảy ra ốm đau.
c) Tính bình đẳng của các rủi ro: Để đảm bảo công bằng về quyền lợi của
mọi người khi tham gia BHYT cần phải có những quy định về phúc lợi. Tính công
bằng được thể hiện thông qua hàng loạt các quy định về quyền lợi và trách nhiệm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

e) Cơ sở tính phí BHYT: Phí đóng góp BHYT được tính toán căn cứ vào
tần suất KCB, tỷ lệ người tham gia BHYT, chi phí và lãi đầu tư.
f) Có đóng có hưởng: Đóng theo thu nhập hưởng theo thực tế khi không
may bị ốm đau phải tới các cơ sở KCB để khám và điều trị bệnh.
g) Không hoàn lại
Người tham gia BHYT nếu không đi khám chữa bệnh trong thời gian thẻ
có giá trị sử dụng thì không được hoàn lại phí đã đóng.
2.1.2.2 Ý nghĩa và tầm quan trọng của phát triển BHYT cho người dân nông thôn
BHYT là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển, đóng vai trò
quan trọng không những đối với người tham gia bảo hiểm, các cơ sở y tế mà còn
là thành tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác y tế
nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng các thành phần tham
gia khám, chữa bệnh nhân dân .
Theo điều 27 Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008, ý
nghĩa và tầm quan trọng của BHYT gồm:
a) BHYT góp phần phục vụ xã hội
Với mục tiêu là chính sách an sinh xã hội nên thiết yếu là phục vụ xã hội,
phục vụ người dân trong cả nước, những người có hoàn cảnh khó khăn tương
thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau. Phát triển BHYT cho người dân nông thôn tức

mục đích chính trị tùy theo điều kiện từng quốc gia. Vì vậy chính sách khám chữa
bệnh cho nhân dân hay chính sách BHYT là chính sách thông qua đó được nhà
nước thực hiện mục tiêu an sinh xã hội của mình. Thông qua chính sách BHYT,
những đối tượng, người lao động gặp khó khăn như người nghèo, những người có
công, thân nhân sỹ quan, lực lượng vũ trang cũng nhận được phần ưu đãi.
d) Góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế
Ngoài việc giúp nhà nước thực hiện chính sách an sinh xã hội, BHYT còn
góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế.
Chính sách này tạo khả năng huy động các nguồn lực tài chính cho y tế đồng thời
phát triển đa dạng các thành phần tham gia khám chữa bệnh. Đối tượng tham gia
BHYT được lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh không phân biệt trong hay ngoài
công lập và được quỹ BHYT thanh toán với mức phí tương đương.
e) BHYT điều tiết thu nhập
Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro và ý tưởng nhân văn cao cả của nó đã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT.
Do vậy BHYT không có khoản thu lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận.
Phương thức đoàn kết, tương trợ chia sẻ rủi ro phải được thực hiện bằng
sự điều tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội. Việc lập ra quỹ khám chữa bệnh và
từng bước mở rộng phạm vi đối tượng tham gia là từng bước mở rộng phạm vi
cân bằng chia sẻ rủi ro chính là quy trình phân phối lại giữa người khỏe mạnh với
người ốm đau, người trẻ với người già và đặc biệt là người giàu với người nghèo.
Do vậy đối tượng tham gia BHYT không ngừng được mở rộng, phát triển và
định hướng cho những đối tượng khác nhau, không phân biệt giữa người lao
động có thu nhập cao với người lao động có thu nhập thấp. Người dân nông thôn
có thể đề phòng hạn chế bệnh hiểm nghèo, chăm lo tốt hơn đời sống nhân dân với
phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Một thói quen không tốt trong cách
sống và nghĩ của người dân Việt Nam đó là chờ bệnh rồi mới chữa, cần phải thay

trong khi ngân sách Nhà nước và các tổ chức từ thiện chưa hỗ trợ; ý thức của
người dân đối với công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe còn hạn chế, trong khi đó
việc thu BHYT được tổ chức hàng tháng, không quy định điều kiện, do đó chỉ có
nhu cầu khám chữa bệnh, ốm đau người dân mới tham gia; việc tiếp cận dịch vụ
y tế giữa các vùng, miền còn có sự chênh lệch khá lớn vì vậy mức đóng BHYT
cho nhân dân cần phải phân ra khu vực thành thị và nông thôn. Để Thực hiện tốt
chính sách BHYT cho đối tượng tự nguyện nhân dân, chính là giúp người dân
sớm thụ hưởng chính sách BHYT của Đảng và Nhà nước, chỉ có thông qua con
đường BHYT người dân mới thực sự được chăm sóc sức khỏe công bằng, hiệu
quả. Xây dựng hệ thống đội ngũ đại lý thu, cung cấp tài liệu hướng dẫn kịp thời
cho đại lý những thay đổi về cơ chế, chính sách, những quy định và yêu cầu
nghiệp vụ của ngành đề ra.
Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước nói chung, thực hiện BHYT toàn dân nói riêng
luôn là nhiệm vụ có tính thường xuyên, lâu dài; phải kiên trì với nhiều hình thức
khác nhau, đa dạng về nội dung, có những minh chứng thực tế để người dân từ
chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều và hiểu, tự giác tham gia. Đẩy mạnh
tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ khi thực hiện BHYT toàn dân trong các cơ
quan, tổ chức, đơn vị, các cấp, các ngành và trong toàn dân; tập trung vào đối
tượng học sinh, sinh viên, người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế
tư nhân, hợp tác xã và nhân dân; tăng cường trách nhiệm của các cấp ủy đảng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

chính quyền, đoàn thể trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính
sách BHYT.
Theo quy định của Luật BHYT thì có thể tạm phân thành 05 nhóm đối
tượng tham gia BHYT như sau:
- Nhóm 1: Do người lao động đóng 1,5% tiền lương, tiền công chủ sử
dụng lao động đóng 3% tiền lương tiền công.

Điều 15 luật BHYT quy định các đối tượng tham gia BHYT được cơ
quan, đơn vị, người sử dụng lao động lập danh sách nộp vào quỹ BHYT hàng
tháng hoặc hàng năm. Do vậy các đối tượng này tham gia bảo hiểm và được
hưởng quyền lợi bảo hiểm thường xuyên, liên tục hơn, quyền lợi của đối tượng
tham gia được đảm bảo hơn.
Trong khi đó đối tượng tham gia BHYT tự nguyện nhân dân chủ yếu là
người dân nông thôn, điều 5 khoản 1 Nghị định 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009
của Chính phủ quy định rõ: Định kỳ 6 tháng 1 lần đối tượng quy định tại khoản
20, 22 và 24 điều 12 Luật BHYT (trong đó có đối tượng là nông dân) đóng
BHYT vào quỹ BHYT.
Như vậy đối tượng tham gia BHYT là nông dân khi tham gia BHYT sẽ
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời gian, thủ tục hành chính, người thực hiện
Bởi quy định thời gian định kỳ 6 tháng 1 lần (có thể 6 tháng đầu năm, giữa hoặc
cuối năm tùy địa phương ) mới thực hiện việc đăng ký bán bảo hiểm trong khi đó
bệnh tật của con người có thể phát sinh bất kỳ lúc nào. Điều này ảnh hưởng đến
chính sách nhân đạo, tính chia sẻ cộng đồng của BHYT, đó cũng sẽ là rảo cản
việc thực hiện phát triển BHYT cho nông dân.
* Quyền lợi được hưởng khi tham gia BHYT
Thẻ BHYT đều có giá trị như nhau nhưng giữa 4 nhóm đối tượng trên và
nhóm đối tượng 5 có sự khác biệt đáng kể, cụ thể; Điều 16 khoản 3 của Luật BHYT:
Đối với người tham gia bảo hiểm y tế theo quy định tại khoản 3 Điều 50
của Luật này (đối tượng tham gia BHYT tự nguyện) đóng bảo hiểm y tế lần đầu
hoặc đóng bảo hiểm y tế không liên tục thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng
sau 30 ngày, kể từ ngày đóng BHYT; riêng đối với quyền lợi về dịch vụ kỹ thuật
cao thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng sau 180 ngày, kể từ ngày đóng bảo
hiểm y tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status