BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHAN KHUÊ VƯƠNG
SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT
LƯỢNG CỦA MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG LÚA THUẦN MỚI
CHỌN TẠO TẠI TỈNH NINH BÌNH
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VIỆT LONG
HÀ NỘI – 2015 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
bè, cùng với sự động viên khuyến khích của gia đình trong suốt thời gian học
tập và nghiên cứu.
Hà Nội tháng năm 2015
Tác giả luận văn PHAN KHUÊ VƯƠNGHọc viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Chương 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
Chương 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1. Nghiên cứu về các tính trạng đặc trưng của cây lúa 3
2.1.1. Thời gian sinh trưởng 3
2.1.2. Chiều cao cây lúa 4
2.1.3. Khả năng đẻ nhánh 4
2.1.4. Số lá và chỉ số diện tích lá 5
Ninh Bình 34
4.2.1. Một số đặc điểm sinh vật học ở giai đoạn mạ của các giống lúa
thí nghiệm 35
4.2.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống lúa khảo
nghiệm 37
4.2.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa 42
4.2.4. Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 46
4.2.5. Chỉ số diện tích lá (LAI) của các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm
trong vụ mùa 2013 tại Yên Khánh và Nho Quan - Ninh Bình 48
4.2.6. Khả năng tích luỹ chất khô 51
4.2.7. Đặc điểm hình thái của các giống lúa tham gia thí nghiệm 54
4.2.8. Đặc điểm lá đòng và bông của các dòng, giống tham gia thí
nghiệm 56 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
4.2.9 Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng, giống tham gia thí nghiệm vụ
mùa 2013 60
4.2.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa
thí nghiệm 63
4.3. Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa tham gia thí
nghiệm 68
4.4. Đánh giá phẩm chất cơm của các giống lúa tham gia thí nghiệm 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
1 Kết luận 71
2 Đề nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 78
2.2 Thị trường gạo trên thế giới 16
2.3 Xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2013 20
2.4 Diện tích và sản lượng lúa của Ninh Bình từ năm 1995-2013 23
2.5 Cơ cấu các giống lúa trên Ninh Bình giai đoạn 2009-2012 24
4.1 Diễn biến một số yếu tố khí hậu chính trong vụ mùa 2013 tại Yên
Khánh và Nho Quan – Ninh Bình 33
4.2 Một số đặc điểm sinh trưởng của mạ trong vụ mùa 2013 tại Yên
Khánh và Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 36
4.3 Thời gian sinh trưởng của các dòng, giống lúa thí nghiệm trong vụ
mùa 2013 tại Yên Khánh và Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 38
4.4 Động thái tăng trưởng chiều cao của các dòng, giống lúa vụ mùa
2013 tại Yên Khánh - Ninh Bình 43
4.5 Động thái đẻ nhánh của các dòng, giống lúa thí nghiệm trong vụ
mùa 2013 tại Yên Khánh và Nho Quan - Ninh Bình 47
4.6 Chỉ số diện tích lá (LAI) của các dòng, giống lúa thí nghiệm vụ
mùa 2013 tại Yên Khánh và Nho Quan – Ninh Bình 50
4.7 Khả năng tích lũy chất khô của các dòng, giống thí nghiệm vụ
mùa 2013 tại Yên Khánh và Nho Quan – Ninh Bình 52
4.8 Đặc điểm hình thái của các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm 55
4.9 Đặc điểm lá đòng và bông của các dòng, giống tham gia thí
nghiệm trong vụ mùa 2013 tại Yên Khánh và Nho Quan tỉnh
Ninh Bình 57
4.10 Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng, giống tham gia thí nghiệm
trong vụ mùa 2013 tại Yên Khánh, Nho Quan tỉnh Ninh Bình 61 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
4.11 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là loại cây lương thực chính, lâu đời của nhân
dân ta và nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc ở Châu Á Trên thế
giới có khoảng 40% dân số lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính và 110 quốc
gia có sản xuất, tiêu thụ gạo. Châu Á là vùng sản xuất lúa gạo chủ yếu chiếm
90% về sản lượng cũng như diện tích, là nơi có nền nông nghiệp cổ xưa nhất gắn
liền với canh tác lúa nước (Nguyễn Đình Giao, 2001)
Ở Việt Nam với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, việc sản xuất lúa có
nhiều thuận lợi. Trong những năm gần đây, nhờ vào những tiến bộ về giống, kỹ
thuật canh tác, cơ chế quản lý mà sản xuất lúa gạo của nước ta có những bước
phát triển vượt bậc và đạt được các thành tựu to lớn, góp phần vào sự tăng
trưởng chung của nền kinh tế cả nước, từ một nước nhập khẩu gạo trở thành
nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới (Nguyễn Thị Trâm, 2002). Trong
năm 2013, nước ta xuất khẩu 8,10 triệu tấn gạo trong sản lượng 43,73 triệu tấn,
tiếp tục giữ vị trí thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo (Tổng cục thống kê,
2013). Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo nước ta còn nhiều thách thức trong chiến
lược an ninh lương thực và phát triển một nền nông nghiệp bền vững, nâng cao
sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế (Nguyễn Văn Sơn, 2013).
Tỉnh Ninh Bình có diện tích sản xuất lúa hàng năm khoảng 41.869 ha
và cơ cấu giống lúa thuần chiếm từ 60 – 70% diện tích. Mặc dù, có các giống
lúa thuần có tiềm năng năng suất cao, chất lượng gạo đảm bảo cho mục đích
tiêu dùng và thương mại nhưng đại đa số người nông dân trong tỉnh vẫn tập
trung vào gieo cấy giống lúa LT2, QR1 và Bắc thơm số 7. Những giống lúa
thuần khác cũng được bà con nông dân sử dụng trong bộ giống sản xuất tại
gia đình nhưng với diện tích nhỏ và mang tính tự phát. Hiện nay, giống Bắc Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Nghiên cứu về các tính trạng đặc trưng của cây lúa
Lúa là cây trồng đa dạng về kiểu hình, mỗi giống có những đặc điểm
riêng biệt mà ta có thể dựa vào đó để phân biệt như: thời gian sinh trưởng,
khả năng đẻ nhánh, chiều cao cây, bộ lá lúa và khả năng quang hợp, dạng hạt,
màu sắc hạt (Bùi Huy Đáp, 1980).
Các nhà chọn tạo và khảo nghiệm giống trước khi chuẩn bị cho bất kỳ
một chương trình chọn tạo và khảo nghiệm giống nào cũng cần có những thông
tin đầy đủ các đặc điểm về nguồn vật liệu khởi đầu của giống. Do vậy, việc
nghiên cứu các đặc điểm hình thái, đặc điểm nông học, khả năng chống chịu…
của các giống lúa đã được tiến hành từ lâu và thu được nhiều kết quả có ý nghĩa
2.1.1. Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ khi hạt lúa nảy mầm đến
khi chín hoàn toàn. Thời gian sinh trưởng phụ thuộc chủ yếu vào giống ngoài
ra còn thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác. Nắm được quy
luật này là cơ sở cho việc xác định thời vụ gieo cấy, cơ cấu giống, luân canh
tăng vụ ở các vùng trồng lúa khác nhau (Vũ Tuyên Hoàng, 2000).
Theo Yoshida (1979) cho rằng, những giống lúa có thời gian sinh
trưởng quá ngắn thì không thể cho năng suất cao vì sinh trưởng sinh dưỡng bị
hạn chế. Ngược lại giống có thời gian sinh trưởng quá dài cũng không cho
năng suất cao vì sinh trưởng quá dài gây hiện tượng lốp đổ. Tuy nhiên, trong
điều kiện đất đai có độ phì thấp như nhau thì giống có thời gian sinh trưởng
dài hơn sẽ cho năng suất cao hơn.
Nguyễn Đình Giao và cs (2000) cho rằng: Các giống lúa ngắn ngày ở
nước ta có thời gian sinh trưởng từ 90-120 ngày, giống trung ngày có thời
chiều cao lý tưởng khoảng 100cm (Nguyễn Thị Trâm, 2000).
2.1.3. Khả năng đẻ nhánh
Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa liên quan chặt chẽ đến
quá trình hình thành số bông và năng suất cây lúa.
Quá trình đẻ nhánh liên quan chặt chẽ với quá trình ra lá. Thường khi ra
lá đầu tiên thì mầm nách ở mắt ra lá thứ nhất bắt đầu phân hoá, trong quá Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
trình ra các lá tiếp theo cũng tương tự như vậy ở các nhánh tiếp theo. Theo
quy luật thì khi lá thứ 4 xuất hiện thì lá thứ nhất kết thúc thời kỳ phân hoá và
bắt đầu xuất hiện nhánh thứ nhất và khi ra lá thứ 5 thì nhánh thứ 2 xuất hiện.
Nghiên cứu về vấn đề đẻ nhánh của cây lúa Vũ Tuyên Hoàng và cs
(2000) khẳng định: Những giống lúa đẻ sớm, đẻ tập trung thì trỗ tập trung và
cho năng suất cao hơn. Đinh Văn Lữ (1978) cho rằng những giống lúa đẻ rải
rác thì trỗ bông không đều, không có lợi cho quá trình thu hoạch dẫn đến năng
suất giảm. Theo Yoshida 1979, đẻ nhánh sớm và tập trung sẽ tạo tiền đề cho
diện tích lá phát triển nhanh, tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao. Đẻ nhánh gọn cho
phép tăng mật độ cấy mà không ảnh hưởng đến quang hợp cho năng suất cao.
2.1.4. Số lá và chỉ số diện tích lá
Lá không chỉ là một đặc trưng hình thái giúp phân biệt các giống lúa
khác nhau mà còn là cơ quan chủ yếu thực hiện chức năng quang hợp của cây,
do vậy việc tăng hay giảm diện tích lá có tác động trực tiếp đến khả năng
quang hợp, ảnh hưởng đến năng suất lúa. Tổng số lá trên cây nhiều hay ít
cũng liên quan đến thời gian sinh trưởng và diện tích lá của quần thể. Theo
Jenning P.R (1979) thì số lá/cây là một đặc điểm di truyền đặc trưng của
giống, có hệ số di truyền cao, số lá/cây biến động lớn từ 9-25 lá/cây tuỳ thuộc
vào giống. Ở Việt Nam, nhóm giống lúa ngắn ngày thường có khoảng 12-15
thuộc vào mật độ cấy, khả năng đẻ nhánh và khả năng chịu phân bón (đặc biệt
là phân đạm) (Phạm Văn Cường, 2005). Đồng thời số bông/m
2
cũng là yếu tố
tương đối dễ điều chỉnh hơn so với hai yếu tố còn lại, số hạt/bông và khối
lượng 1000 hạt được kiểm soát chặt chẽ bởi yếu tố di truyền. Về nguyên tắc
thì mật độ gieo cấy càng cao thì số bông càng nhiều. Trong một giới hạn nhất
định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt/bông, nếu vượt quá giới hạn
đó thì số hạt/bông bắt đầu giảm đi vì lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều
bông. Theo Gupta.P.C (1976) khi tăng số bông đến một phạm vi mà số hạt
chắc/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm ít thì đạt năng suất cao, nếu số bông tăng quá
cao thì số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm nhiều làm cho năng suất giảm.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy số bông có quan hệ nghịch với số
hạt/bông và khối lượng 1000 hạt. Số hạt/bông và khối lượng 1000 hạt có mối
quan hệ thuận với nhau (Nguyễn Thị Trâm, 2002). Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Số hạt/bông phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh, lượng phân bón
và kỹ thuật bón phân. Xét theo khía cạnh cấu trúc, nó phụ thuộc vào số gié, số
hoa phân hoá cũng như thoái hoá. Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ
sinh trưởng sinh thực (từ làm đòng đến trỗ). Số hạt/bông nói lên sức chứa của
cây, sức chứa phải tương ứng với nguồn. Nguồn lớn và sức chứa nhỏ gây ra
hiện tượng vẹo hạt, sức chứa lớn mà nguồn nhỏ thì tỷ lệ hạt lép cao. Vì vậy
nâng cao số hạt/bông thì các nhà chọn giống phải chú ý đến khả năng quang
hợp của cây (Nguyễn Thị Trâm, 2002).
Tỷ lệ hạt chắc là một trong những yếu tố cấu thành năng suất, giống có
tỷ lệ hạt chắc cao sẽ cho năng suất cao và ngược lại. Tỷ lệ hạt chắc được quyết
a) Di truyền bệnh bạc lá
Bệnh bạc lá được phát hiện đầu tiên ở Nhật Bản vào khoảng năm 1884-
1885. Bệnh phổ biến ở hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới, đặc biệt là ở
châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Ấn Độ, Việt Nam ). Vi khuẩn
gây bệnh bạc lá lúa – Xanthomonas Oryzae, chúng khá phổ biến ở khoảng 70
nước có trồng lúa trên thế giới, song vùng gây hại lớn nhất là vùng Đông Nam
Á và châu Á làm thiệt hại nặng nề về năng suất và chất lượng gạo.
Những năm gần đây IRRI và một số các nước phát triển đã lập được
bản đồ gen và dùng phương pháp PCR để phát hiện chọn lọc những gen
chống bệnh bạc lá của lúa, trên cơ sở đó có thể điều tra phát hiện nhiều gen
chống bệnh khác nhau trên cùng một giống một cách chính xác (Inger, 1996)
Theo Phan Hữu Tôn (2003) dùng phương pháp PCR (Polymerase
Chain Reaction) đã phát hiện và chọn lọc những gen chống bệnh ở lúa trong
đó có bệnh bạc lá. Qua nghiên cứu 145 giống lúa địa phương cho thấy có 12
giống chứa gen Xa-5 và không có giống nào chứa gen Xa13 và Xa21
b) Di truyền tính chống chịu sâu đục thân
Trên thế giới sâu đục thân xuất hiện ở nhiều quốc gia như Trung Quốc,
Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ, Philipin, Malaysia, Sri Lanca, Indonesia Ở
nước ta sâu đục thân có ở hầu hết các vùng trồng lúa khắp cả nước. Hàng năm
có 5-6 lứa sâu đục thân, đây là loài sâu nguy hiển, nó gây hại chủ yếu vào thời
kỳ làm đòng đến trỗ bông của hầu hết các trà lúa, làm giảm năng suất rất lớn Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
và là đối tượng sâu hại rất khó phòng trừ. Biện pháp chủ động nhất là chọn
tạo ra những giống lúa ngắn ngày để thuận tiện cho việc bố trí thời vụ lúa trỗ
tránh được cao điểm gây hại của sâu. Chọn tạo ra giống có khả năng chống
chịu sâu đục thân.
gieo trồng trong vụ hè thu có hàm lượng vỏ trấu gấn như nhau, các giống lúa
gieo trồng vụ Xuân hẻ có hàm lượng trấu cao nhất (Lê Doãn Diên, 2003)
Kích thước hạt:
Theo Nguyễn Văn Hiển, 1992 cho biết, tỷ lệ gạo nguyên có mối tương
quan nghịch với chỉ số dài/rộng hạt gạo. Hạt càng nhỏ, dài và độ bạc bụng càng
cao thì tỷ lệ gạo nguyên càng thấp. Chiều dài và đặc tính hình thái hạt di truyền
độc lập với nhau và có thể được kết hợp với các tính trạng phẩm chất như hàm
lượng amylose, hoặc kiểu cây, hoặc thời gian sinh trưởng.
Thị hiếu người tiêu dùng về hình dạng hạt rất khác nhau, có nơi thích hạt
hạt trọng, có nơi thích dạt trung bình nhưng có nơi thích hạt thon dài. Nhưng
nhìn chung hạt thon dài là được ưa chuộng nhiều nhất trên thị trường quốc tế
(Trần Văn Đạt, 2007).
Độ bạc bụng
Độ trong suốt của hạt gạo tuỳ thuộc vào tính chất của phôi nhũ, mức độ
bạc bụng với vết đục xuất hiện ở trên lưng, bụng hoặc ở trung tâm hạt gạo
(gạo hạt lựu). Tinh bột ở vùng bạc bụng xuất hiện rời rạc có cấu trúc kém chặt
chẽ hơn vùng trong suốt nên nó tạo ra các khe hở chứa không khí giữa các hạt
trung bình (Nguyễn Thị Trâm, 1995). Mặc dù độ bạc bụng không ảnh hưởng
gì đến phẩm chất cơm, nhưng ảnh hưởng đến thị hiếu của người tiêu dùng.
Người tiêu dùng thích hạt gạo có nội nhũ trong và trả giá cao hơn cho những
loại gạo này (Lê Doãn Diên, 2003)
Độ bạc bụng của nội nhũ chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền, ngoài ra
còn chịu sự tác động của điều kiện môi trường. Điều kiện môi trường chủ yếu
ảnh hưởng đến độ bạc bụng là nhiệt độ sau khi trỗ, nhiệt độ cao làm tăng độ
bạc bụng, nhiệt độ thấp làm giảm hoặc mất độ bạc bụng (Nguyễn Văn Hoan,
1994). Phơi thóc làm giảm độ ẩm từ từ hạt gạo sẽ trong hơn, ít bạc bụng hơn
so với phơi thóc giảm độ ẩm đột ngột
Theo Nguyễn Văn Hiển (1992), độ trong suốt của gạo Việt Nam ở dải
và dân tộc. Nhóm dân cư ở vùng trồng lúa Japonica hạt dài trung bình, các nước Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Châu Á thích hạt gạo dài và rất dài như Thái Lan, Hông Kông và một số nước
Châu Mỹ. Những vùng trồng lúa cạn như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên Việt
Nam thì người tiêu dùng lại thích hạt gạo to, bầu (Lê Doãn Diên, 2003)
c) Chất lượng dinh dưỡng
So với cây trồng được coi là cây lương thực nuôi sống con người thì lúa
gạo có hàm lượng protein trong hạt ít hơn, chỉ khoảng 7-8%. Tuy nhiên lúa
gạo lại cung cấp 40-80% lượng calo và 40-50% lượng protein trong khẩu
phần dinh dưỡng của con người. Protein của gạo là loại protein có giá trị dinh
dưỡng cao nhất so với tất cả các loại ngũ cốc khác. Nó được đặc trưng bởi
tính dễ đồng hóa, sự cân bằng về các loại aminoacid và có mặt đủ 8
aminoacid không thay thế cũng như các loại vitamin và khoáng chất.
d) Chất lượng nấu nướng và ăn uống
Bên cạnh những chỉ tiêu về xay xát, thương phẩm thì các chỉ tiêu về
chất lượng ăn uống và nấu nướng cũng rất cần thiết trong kinh doanh và sử
dụng. Chất lượng nấu nướng và ăn uống được đánh giá thông qua các chỉ tiêu
về nhiệt độ hóa hồ, hàm lượng amylose, hương thơm và các chỉ tiêu phẩm
chất cơm như độ dính, độ dẻo, độ mềm
Sản phẩm chính của lúa gạo là cơm, tính ngon miệng của cơm được
quyết định do yếu tố vật lý là dẻo, độ mềm của cơm và yếu tố hóa học là mùi
thơm (Nguyễn Văn Hiển, 1992).
Mùi thơm
Mùi thơm là một chỉ tiêu rất quan trọng khi đánh giá chất lượng gạo. Khi
nấu cơm mùi thơm bốc lên cho thấy một hợp chất chính của formaldehydes và
hydrogen sulffide. Mùi thơm có thể được đánh giá tại 3 thời điểm: trên lá,trên
sản xuất lúa gia tăng tại Dominican Republic và Mexico; ở Nam Mỹ sản
lượng lúa tăng không rõ rệt: gia tăng tại Brazil, Guyana, Paraguay và
Venezuela, trong khi giảm sút tại Bolivia và Chile. Ở Mỹ, điều kiện sản xuất
lúa tương đối thuận lợi, nhưng sản lượng giảm 5% so với kế hoạch [50].
Châu Âu: Sản lượng lúa của EU sụt giảm nhiều (4 triệu tấn) trong khi
Liên bang Nga đạt kỷ lục (1,1 triệu tấn).
Châu Úc: Sản lượng lúa tốt nhất trong 10 năm qua (0,92 triệu tấn). Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Bảng 2.1. Sản lượng lúa gạo thế giới trong những năm gần đây
(2009-2013)
Đơn vị: Tấn
Tên nước 2009 2010 2011 2012 2013
Afghanistan
645.000
672.000
672.000
500.000
512.094
Argentina
1.334.155
Ấn Độ
35.673.000
143.963.000
157.900.000
15.7800.000
15.9200.000
Indonesia
64.398.890
66.469.394
65.740.946
6.9056.126
7.1279.709
Nhật Bản
10.592.000
10.604.000
10.500.000
1.0654000
29.009.894
28.080.000
28.000.000
Philippines
16.266.417
15.772.319
16.684.062
18.032.422
18.439.406
Viet Nam
8.950.200
40.005.600
42.398.346
43.661.570
44.039.291
Thế giới
(Tổng)
Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA, 2012), tổng nhu cầu tiêu
thụ gạo trung bình hằng năm của cả thế giới ước tính 452,5 triệu tấn, trong khi
đó sản lượng gạo thế giới không đáp ứng đủ nhu cầu. Theo FAO, tiêu thụ gạo dự
báo sẽ tăng trong năm 2013-2014, đạt khoảng 490,4 triệu tấn, cao hơn khoảng
2,5% so với 478,5 triệu tấn trong năm 2012-2013, với mức tiêu thụ gạo trung
bình người vẫn ở mức khoảng 57 kg/người/năm trong năm 2013-2014.
Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Ấn Độ đứng
đầu về xuất khẩu gạo trong hai năm liên tiếp, với tổng lượng xuất khẩu năm
2013 đạt 9,61 triệu tấn, tiếp tục nới rộng khoảng cách với các nước xuất khẩu
lớn khác. Tuy nhiên, nếu so với mức xuất khẩu kỷ lục của năm 2012, xuất
khẩu gạo của Ấn Độ vẫn giảm gần 9,8%. Xuất khẩu của Thái Lan đứng vị trí
thứ hai với tổng lượng xuất khẩu đạt 6,79 triệu tấn, giảm nhẹ 2,6% so với năm
trước đó. Việt Nam đứng vị trí thứ ba về xuất khẩu gạo, với lượng thấp hơn
Thái Lan, đạt 6,74 triệu tấn, giảm 12,9% so với năm 2012. Đây là mức giảm
mạnh nhất trong số 5 thị trường xuất khẩu gạo chủ chốt trên thế giới
Hình 2.1. Những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
(2012-2014)
(Nguồn: USDA, 2014)
Dự báo của UDSA - tháng 9 - 2013
Triệu
t
ấn
Tên nước