nơi ở, tương quan chiều dài và trọng lượng của cá bống sao (boleophthalmus boddarti (pallas, 1770)) ở huyện cù lao dung tỉnh sóc trăng - Pdf 30


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM
BỘ MÔN SƢ PHẠM SINH HỌC
NƠI Ở, TƢƠNG QUAN CHIỀU DÀI VÀ TRỌNG LƢỢNG CỦA
CÁ BỐNG SAO (BOLEOPHTHALMUS BODDARTI (PALLAS,
1770))
Ở HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH SƢ PHẠM SINH Cán bộ hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện:
ThS. ĐINH MINH QUANG Lê Trần Đức Huy
MSSV 3102523

Cần Thơ, 2014
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh i Bộ môn sư phạm sinh
CẢM TẠ

Để hoàn thành đề tài này tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình từ phía

cơ thể, sự tương quan này không bị ảnh hưởng bởi giới tính, mùa hay chiều dài
thành thục. Kiểm định Student với mức ý nghĩa α = 5% cho thấy hệ số tăng trưởng
b tương đương với 3 chứng tỏ cá bống sao tăng trưởng đồng bộ cả về chiều dài và
trọng lượng cơ thể. Ngoài ra hệ số tăng trưởng này có sự khác biệt giữa đực và
cái, giữa mùa mưa và mùa khô tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt
thống kê. Hệ số điều kiện CF cho biết thức ăn của môi trường cung cấp đủ để loài
có thể phát triển bình thường.

Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh iii Bộ môn sư phạm sinh

MỤC LỤC
CẢM TẠ i
TÓM LƢỢC ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
CHƢƠNG I GII THIU 1
1. Đăt vấn đề 1
2. Mục tiêu đề tài 2
CHƢƠNG II LƢỢC KHẢO TI LIU 3
1. Khái quát về khu vực nghiên cứu 3
1.1 Khái quát về tỉnh Sóc Trăng 3
1.2. Khái quát về đối tƣợng nghiên cứu 4
2. Khái quát về cá bống sao 6
2.1. Đặc điểm hình thái 6
2.2 Cách xác định giới tính cá bống sao 8
2.3. Sự phân bố và tập tính sống 9
2.4. Đặc điểm sinh học sinh dƣỡng 10
2.5. Đặc điểm sinh học sinh sản 10

Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh v Bộ môn sư phạm sinh

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Ý nghĩa của tham số tăng trƣởng (hệ số mũ) b 22
Bảng 2. Các chỉ số đo hang của cá bống sao 26
Bảng 3. Tỉ lệ giới tính cá bống sao 31
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh vi Bộ môn sư phạm sinh

DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Cá bống sao 8
Hình 2. Tƣơng quan chiều dài và trọng lƣợng thân cá bống trân 12
Hình 3. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng của cá kèo vảy nhỏ 12
Hình 4. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng cá bống 13
Hình 5. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng cá bống sao ở Sóc Trăng 13
Hình 6. Tƣơng quan chiều dài và trong lƣợng cá bống sao ở Bến Tre 14
Hình 7. Hang hình chữ “U” (a), chữ “J” (b), chữ “Y” (c) và chữ “I” (d) 15
Hình 8. Hang không có hình dạng xác định (Nguồn: Gonzales et al., 2008) 16
Hình 9. Bản đồ địa điểm thu mẫu 18
Hình 10. Vùng bãi bồi nơi đổ hang và thu mẫu cá 19
Hình 11. Hang hình chữ I 24
Hình 12. Hang hình chữ U chụp từ trên xuống (A) và chụp ngang (B) 25
Hình 13. Miệng hang và dấu vết của vây ngực ở miệng hang cá bống sao 27
Hình 14. Ụ đất xung quanh miệng hang cá Taenioides cirratus (Itani and Uchino, 2003) 28
Hình 15. Các chỉ số đếm và đo hang cá bống sao 29
Hình 16. Giới tính cá bống sao 30
Hình 17. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng cá cái 32
Hình 18. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng cá đực 32
Hình 19. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng quần đàn cá 33

mặn và nƣớc lợ thuộc họ cá bống ngày càng đƣợc quan tâm nhiều hơn, trong đó có
loài cá bống sao (Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)) là một trong những món
ăn đặc sản của ĐBSCL hiện nay. Hiện nay nghiên cứu về đối tƣợng này còn hạn
chế, chỉ có một số nghiên cứu về đặc điểm hình thái, nơi phân bố và một số đặc
điểm sinh sản của một số tác giả nhƣ Mai Văn Hiếu (2009), Tô Thị Mỹ Hoàng
(2009) và Ngô Trúc Bình (2009). Cá bống sao là một loài có tập tính đào hang và
sống trong hang, nhƣng những hiểu biết về nơi ở cũng nhƣ hang của chúng ngoài
môi trƣờng tự nhiên vẫn còn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều chỉ có nghiên cứu của
Nguyễn Thị Trà Giang và ctv. (2013) tuy nhiên, nghiên cứu của Nguyễn Thị Trà
Giang và ctv. (2013) đƣợc thực hiện trong thời gian ngắn nên chƣa thể làm rõ hết
vai trò của hang đối với cá bống sao. Tùy theo tập tính đào hang có thể xác định
hang cá bống sao có cấu trúc hang đơn giản hay phức tạp và dựa vào cấu trúc hang
sẽ phần nào xác định đƣợc mục đích sử dụng hang của cá bống sao. Quá trình tăng
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh 2 Bộ môn sư phạm sinh
trƣởng của cá là một quá trình gia tăng về kích thƣớc cơ thể và khối lƣợng, đồng
thời quá trình này cũng đặc trƣng cho từng loài và thể hiện qua mối tƣơng quan
chiều dài trọng lƣợng, biết đƣợc đặc trƣng của loài sẽ góp phần cho việc nghiên
cứu các đặc điểm sinh học của cá dễ dàng và thuận lợi hơn. Mối tƣơng quan chiều
dài và trọng lƣợng của cá bống sao, một trong những đặc điểm quan trọng đƣợc sử
dụng để đánh giá sự tăng trƣởng của loài vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều chỉ có
nghiên cứu của Mai Văn Hiếu (2009) và Tô Thị Mỹ Hoàng (2009). Tuy nhiên, mối
tƣơng quan chiều dài và trọng lƣợng cá chỉ dừng lại ở mức độ quần đàn mà chƣa
xét đến sự tƣơng quan theo mùa hay theo chiều dài thành thục của cá. Vì vậy,
nhằm nghiên cứu kĩ hơn về nơi ở, mối tƣơng quan giữa chiều dài và trọng lƣợng cá
bống sao thì đề tài “Nơi ở, tƣơng quan giữa chiều dài và trọng lƣợng của cá bống
sao (Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)) ở huyện Cù Lao Dung tỉnh Sóc
Trăng” đƣợc thực hiện.
2. Mục tiêu đề tài
Xác định cấu trúc và vai trò của hang đối với đời sống cá bống sao

Địa hình Sóc trăng tƣơng đối bằng phẳng với độ cao trung bình 0,5 – 1m so
với mực nƣớc biển, địa hình có dạng lòng chảo, hƣớng dốc từ sông Hậu thấp dần
vào trong, từ biển Đông và từ kênh Quản Lộ thấp dần vào trong đất liền. Tiểu địa
hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tƣơng đối
cao và những vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn. Vùng đất phèn có địa hình lòng
chảo ở phía Tây và ven kinh Cái Côn có cao trình rất thấp, từ 0 - 0,5 m. Nam
huyện Mỹ Tú và Nam huyện Thạnh Trị là vùng trũng dƣới dạng lòng chảo nên khó
thoát nƣớc, ngập úng kéo dài. Các huyện còn lại thƣờng không bị ngập lũ hay
không úng lâu (Cục thống kê Sóc Trăng, 2012).
Cù Lao Dung là một huyện ở phía Đông của tỉnh Sóc Trăng. Huyện là một
cù lao lớn nằm trên sông Hậu, giữa phần đất liền hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh.
Phía Đông và Bắc giáp tỉnh Trà Vinh; Phía Tây giáp huyện Long Phú và huyện
Trần Đề, Phía Đông Nam giáp Biển Đông với diện tích 249,5 km
2
. Huyện Cù Lao
Dung ở độ cao so với mực nƣớc biển từ 0,5 – 1,4 m; trong đó, đại bộ phận diện
tích có độ cao từ 0,7 – 0,9 m. Huyện có địa hình khá bằng phẳng nhƣng bị chia cắt
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh 4 Bộ môn sư phạm sinh
thành nhiều cù lao. Cù Lao Dung cũng là một huyện có diện tích lớn về nuôi trồng
và đánh bắt thủy sản đặc biệt là cá bống sao (Cục thống kê Sóc Trăng, 2012).
1.1.3. Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu Sóc Trăng phân làm hai
mùa rõ rệt mùa mƣa và mùa khô. Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô kéo
dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình từ 26 – 27
o
C, biên độ
nhiệt theo mùa trung bình 5 – 6
o
C, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống đến 23 – 24

Giống cá bống sao: Boleophthalmus
Loài: Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)
Nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Nhật Thi (2000) cho rằng cá bống sao
thuộc họ cá thòi lòi Periophthalmidae, giống cá lác và có hệ thống phân loại sau:
Bộ cá vƣợc: Perciformes
Phân bộ cá bống: Gobioidei
Họ cá thòi lòi: Periophthalmidae
Giống cá lác: Apocrypteidae
Loài cá lác đen: Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)
Tuy có nhiều định danh về tên loài nhƣng hiện nay tên loài đƣợc chấp nhận
và sử dụng phổ biến là Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770) (Nguyễn Thị Trà
Giang và ctv. 2013; Froese and Pauly., 2012; Rainboth, 1996).
1.2.1. Khái quát phân bộ cá Bống Gobioidei
Có khoảng 700 loài thuộc phân bộ cá Bống (Gobioidei) trên thế giới đã
đƣợc mô tả và nhiều loài mới đƣợc phát hiện và mô tả hàng năm. Đa số loài có
kích thƣớc nhỏ, nhƣng cũng có loài đạt tới 50 cm nhƣ cá bống tƣợng (Oxyeleotris
macmoratus). Đặc điểm đặc trƣng cho phân bộ này là toàn thân thuôn tròn hoặc hơi
dài, đôi khi dẹp bên. Thƣờng phủ vẩy nhƣng đôi khi da trần. Không có vẩy đƣờng
bên dọc thân, nhƣng ở đầu có nhiều rãnh cảm giác nổi lên rõ rệt. Hai vây lƣng có
thể dính liền với nhau thành một, có gai cứng không điển hình. Vây bụng dính ở
ngực, gồm một gai cứng và 4-5 tia vây. Hai vây bụng thƣờng dính liền nhau thành
đĩa hút, dạng đĩa, dạng chén hoặc hình phễu (Gobiidae). Hai vây bụng có thể tách
biệt nhau (Odontobutididae và Eleotridae). Vây ngực đính cao và có gốc vây phát
triển. Không có bóng hơi (Nguyễn Văn Hảo, 2005).
Các loài trong phân bộ này phân bố rộng rãi khắp thế giới, sống ở các vùng
biển biển cạn ven bờ, có một số loài di cƣ vào nƣớc ngọt hoặc sống hẳn ở trong
nƣớc ngọt (Nguyễn Văn Hảo, 2005).
1.2.2. Họ cá bống trắng Gobiidae
Thân dẹp bên, phủ vẩy hoặc không phủ vẩy. Đầu dẹp bên hoặc dẹp bằng.
Mắt không nhô cao hơn mặt lƣng cửa đầu, không có màng da, mắt tự do. Có hai

Đặc điểm hình thái của cá bống sao đƣợc Trƣơng Thủ Khoa và Trần Thị
Thu Hƣơng (1993) mô tả nhƣ sau: thân dẹp bên, đầu to, mõm tù, hƣớng xuống, có
hai nếp da nhỏ phủ trên môi trên, không có râu. Mắt nhỏ tròn, nằm trên một cuốn
ngắn, dựng đứng ở đỉnh đầu. Mí mắt dƣới tự do và cử động đƣợc. Khoảng cách
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh 7 Bộ môn sư phạm sinh
giữa hai ổ mắt hẹp và ít thay đổi theo kích thƣớc cá. Miệng trƣớc, rộng miệng lớn
hơn vòm miệng. Rạch miệng xiên, kéo dài qua đƣờng thẳng đứng kẻ từ bờ sau của
mắt. Miệng cá màu đen. Răng hàm dƣới một hàng, mọc xiên, đỉnh chẻ hai, sau chỗ
tiếp hợp có một đôi răng chó. Trên một hàm có sáu răng chó, các răng khác nhỏ
mịn. Đầu lƣỡi tròn, lƣỡi dính với sàn miệng. Vảy tròn phủ khắp thân và đầu, trên
mỗi vảy có một u tròn. Vảy phủ quá một phần hai vây ngực và một phần vây đuôi.
Các gai của vây lƣng phát triển thành sợi dài. Cơ gốc vây lƣng, vây đuôi rất phát
triển thích hợp cho việc di chuyển trên cạn. Các tia phía dƣới vi đuôi ngắn, to. Hai
vây bụng dính nhau có dạng hình phễu. Cá có màu xám xanh hoặc xanh đen ửng
vàng. Bụng có màu trắng. Mỗi bên hông có bảy sọc đen vắt từ lƣng xuống bụng và
xiên về phía trƣớc. Có nhiều chấm nhỏ màu xanh da trời. Vây hậu môn, vây đuôi
màu xám, vi bụng màu trắng hồng.
Theo mô tả của Mai Đình Yên (1992), cá bống sao thân hình trụ tròn, dẹp bên
dần về phía đuôi. Cán đuôi ngắn. Đầu hình trụ, trán xuống dốc. Mõm nhọn ngắn,
nếp da của mõm có hai lá bên dài nhƣ 2 râu nhỏ. Mắt gần nhƣ không có cuốn, dính
sát vào nhau và nằm trên đỉnh đầu, có mí mở dƣới tự do. Miệng ở phía dƣới, hơi
xiên, rạch miệng kéo dài đến gàn bờ sau của mắt. Trên mỗi hàm có 1 hàng răng.
Hàm trên có dạng răng chó thƣa. Hàm dƣới gần nhƣ dẹt ngang và có một cặp răng
chó sau tiếp hợp. Lƣỡi cụt, gần nhƣ đính sát với sàn miệng. Các gai đầu tiên của
vây lƣng thứ nhất kéo dài, nhất là ở cá đực, khởi điểm vây lƣng thứ hai hơi trƣớc
hơn khởi điểm vây hậu môn. Cơ gốc vây ngực phát triển. Vây bụng nhọn. Vây đuôi
có dạng chén. lƣng có màu đen, bụng nhạt hơn. Nắp mang có màu xanh lá cây. Dọc
hai bên lƣng có 5 - 6 đốm màu xanh bạc. Bên thân có 4 - 5 đốm đen to. Trên thân
và đầu có các chấm nhỏ tròn xanh lá cây. Mỗi vẩy trên đầu và lƣng có thể có điểm

2.3. Sự phân bố và tập tính sống
Ở Việt Nam cá bống sao phân bố chủ yếu ở vùng ĐBSCL, ngoài ra cá bống
sao còn phân bố ở Indo - Tây Thái Bình Dƣơng, từ bờ biển phía tây của Ấn Độ
(Mumbai, Maharashtra) về phía đông đến Sabah và miền nam Việt Nam, Thái lan,
Campuchia và Trung Quốc (Nguyễn Văn Hảo, 2005; Murdy, 1989).
Cá bống sao sống ở nƣớc lợ và mặn, cũng gặp ở nƣớc ngọt nhƣng rất ít. Là
loài cá đặc trƣng cho khu hệ cá vùng cửa sông và vùng nƣớc ngập triều hạ lƣu sông
Mê Kông (Ananda Rao et al., 1998; Nguyễn Văn Hảo, 2005; Trƣơng Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hƣơng, 1993). Nguyễn Nhật Thi (2000) cho rằng cá bống sao thuộc
loại cá sống ở biển nông và có khả năng thích nghi cao với sự biến đổi của môi
trƣờng, vì vậy cá phân bố ở hầu hết các khu vực của biển Việt Nam từ bãi triều đến
độ sâu 100m và có độ mặn dao động trong khoảng 3,33 đến 38%, mặc dù có độ
phân bố rộng nhƣng ở những vùng cửa sông, bãi triều là nơi cá bống sao thƣờng
tập trung cả về thành phần loài và số lƣợng.
Chúng sống thành từng đàn kiếm ăn và ở trong hang. Cá bống sao xây dựng
hang trú ẩn dọc theo bãi bồi của rừng ngập mặn. Nhờ cơ gốc vây ngực, cơ gốc vây
đuôi và các tia rất khỏe nên cá có thể trƣờn hoặc nhảy nhanh nhẹn trên bùn
(Ananda Rao et al., 1998; Nguyễn Văn Hảo, 2005; Trƣơng Thủ Khoa và Trần Thị
Thu Hƣơng, 1993). Khi mật độ cá thể cao, cá bống sao xây dựng những “bức
tƣờng” làm từ bùn xung quanh lãnh thổ nhằm làm giảm sự xâm lấn của những con
cá khác. Chính vì có các bức tƣờng, vùng lãnh thổ của chúng bao gồm những vũng
nƣớc và những khu đất bùn dốc (Clayton and Wright, 1989).
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh 10 Bộ môn sư phạm sinh
2.4. Đặc điểm sinh học sinh dƣỡng
Theo Nguyễn Thị Trà Giang và ctv. (2013), cá bống sao thuộc loài cá có
tính ăn thiên về thực vật, mùn bã hữu cơ và khuê tảo là hai loại thức ăn chính của
cá bống sao. So với khuê tảo thì mùn bã hữu cơ chiếm tỉ lệ thấp hơn. Trong nhóm
khuê tảo thì chi Navicula là nhóm xuất hiện nhiều nhất so với 2 chi khác là
Pleugrosigma và Nitzshia. Có sự sai khác về thành phần thức ăn giữa cá bống sao

nhuộm tƣơng phản lát cắt ngang tuyến trứng của cá bống sao qua 5 giai đoạn và đi
đến kết luận cá bống sao là loài cá đẻ đồng loạt theo nhóm.
3. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng
Theo Nikolsky (1963) tốc độ sinh trƣởng của cá là quá trình gia tăng về kích
thƣớc và khối lƣợng của cơ thể. Tốc độ sinh trƣởng của cá phụ thuộc vào nhiều yếu
tố nhƣ điều kiện sống và đặc tính di truyền của loài đƣợc thể hiện qua mối tƣơng
quan giữa chiều dài và trọng lƣợng của cá (đƣợc trích dẫn bởi (Phạm Thanh Liêm
và Trần Đắc Định, 2004)). Dữ liệu về chiều dài và trọng lƣợng là tiêu chuẩn hữu
ích cho việc thu mẫu cá (Morato et al., 2001). Sự tăng trƣởng của cá và các sinh
vật khác có ảnh hƣởng đến chiều dài của chúng, có thể nói sự tăng trƣởng và chiều
dài của loài có mối tƣơng quan với nhau (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định,
2004).
Hồi quy chiều dài – trọng lƣợng đƣợc sử dụng thƣờng xuyên để ƣớc tính
trọng lƣợng từ chiều dài vì những phép đo trọng lƣợng trực tiếp có thể tốn nhiều
thời gian trong lĩnh vực này (Sinovcic et al., 2004). Tƣơng quan chiều dài trọng
lƣợng là một trong những phân tích thƣờng đƣợc sử dụng hầu hết ở các dữ liệu
thủy sản (Mendes et al., 2004).
Công thức sinh trƣởng của cá qua mối quan hệ giữa chiều dài và khối lƣợng
theo công thức đƣợc đề xuất bởi Huxley (1924) (đƣợc trích dẫn bởi Phạm Thanh
Liêm và Trần Đắc Định (2004)).
W = a.L
b

Trong đó:
W: là khối lƣợng
L: chiều dài
a: hằng số tăng trƣởng ban đầu
b: hệ số tăng trƣởng
Le Cren (1951) đã chuyển đổi phƣơng trình của Huxley thành dạng log nhƣ sau:
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ

2
=0,9523 (hình 4)

Hình 4. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng cá bống
Từ những biểu đồ (hình 2, 3, 4) thể hiện sự tƣơng quan giữa chiều dài và
trọng lƣợng cơ thể cá ở các loài khác nhau có thể kết luận sự tƣơng quan giữa chiều
dài và trọng lƣợng cơ thể cá đều rất chặt chẽ (R
2
> 0,7) và có sự tăng trƣởng không
đồng đều giữa chiều dài và trọng lƣợng, đặc biệt ở giai đoạn đầu thƣờng tăng
nhanh về chiều dài cơ thể hơn so với trọng lƣợng.
3.2. Các nghiên cứu tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng trên cá bống sao
Nghiên cứu của Mai Văn Hiếu (2009) về mối tƣơng quan chiều dài trọng
lƣợng dựa trên 50 mẫu cá bống sao ở Sóc Trăng đã xác định đƣợc phƣơng trình hồi
qui có dạng W = 0,0051L
3,2623
với R
2
=0,923 (hình 5)

Hình 5. Tƣơng quan chiều dài trọng lƣợng cá bống sao ở Sóc Trăng
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh 14 Bộ môn sư phạm sinh
Kết quả của Tô Thị Mỹ Hoàng (2009) khi nghiên cứu về tƣơng quan chiều
dài trọng lƣợng ở cá bống sao trên 28 mẫu ở Bến tre đã xác định đƣợc phƣơng trình
hồi qui có dạng W= 0,0069L
3,162
với R
2
= 0,8925 (hình 6)

đào hang, cách thứ nhất cá cạp đất để đào hang và tạo thành các ụ đất bao xung
quanh miệng hang (đào hang chủ động), và cách thứ hai cá uốn lƣợn cơ thể để đào
hang và không tạo ra đƣợc các ụ đất xung quang miệng hang (đào hang thụ động),
bên cạnh đó cá cũng có thể chiếm hang của các loài khác sống xung quanh và tạo
hang cho mình. Hình 7. Hang hình chữ “U” (a), chữ “J” (b), chữ “Y” (c) và chữ “I” (d)
(Nguồn: Đặng Ngọc Thanh và ctv., 2001)
Luận văn tốt nghiệp khóa 36 (2014) Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm sinh 16 Bộ môn sư phạm sinh

Hình 8. Hang không có hình dạng xác định (Nguồn: Gonzales et al., 2008)
Cấu trúc điển hình của hang cá gồm 3 phần (Quang, 2012):
Miệng hang (cửa vào) là nơi cá ra vào hang, hang thƣờng có nhiều miệng,
miệng hang chính có đƣờng kính lớn hơn so với những miệng hang còn lại. Miệng
hang có thể có ụ đất bao xung quanh hang nhƣ hang cá Taenioides cirratus (Itani
and Uchino, 2003), cá Valenciennea longipinnis (Takegaki and Nakazono, 2000)
hoặc miệng hang trơn láng nhƣ cá kèo vảy nhỏ Pseudapocryptes elongatus ( Tran
Dac Dinh, 2008). Miệng hang có thể có dấu vết của vây ngực nhƣ cá Taenioides
cirratus (Itani and Uchino, 2003).
(2) Nhánh hang là các đƣờng ống nối giữa miệng hang với chẩm hoặc ống
nối giữa các chẩm với nhau. Cá sử dụng phần này để di chuyển hoặc có thể dễ
dàng trốn tránh kẻ thù. Một số loài dùng nhánh hang nhƣ là buồng chứa trứng vào
mùa sinh sản hoặc nơi để trao đổi khí (Ishimatsu et al., 2007; Ishimatsu et al.,
1998).
(3) Chẩm (nơi nối các nhánh hang và cũng là phần có đƣờng kính to nhất
của hang) đƣợc dùng nhƣ là nơi để cá chuyển hƣớng khi di chuyển hoặc trốn tránh
kẻ thù hoặc dùng nhƣ là “buồng chứa trứng” vào mùa sinh sản nhƣ cá
Valenciennea longipinnis, cá Odontamplyopus lacepedii (Atkinson and Taylor,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status