TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM
BỘ MÔN SƢ PHẠM SINH HỌC
TÍNH ĂN VÀ PHỔ THỨC ĂN CỦA CÁ BỐNG SAO
BOLEOPHTHALMUS BODDARTI (PALLAS, 1770)
Ở HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành SƢ PHẠM SINH – KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP Cán bộ hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS. ĐINH MINH QUANG ĐẶNG THỊ PHƢƠNG TRÚC
Lớp: Sƣ phạm Sinh – KTNN
MSSV: 3108109
NĂM 2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM
BỘ MÔN SƢ PHẠM SINH HỌC
Xin cảm ơn anh Diệp Anh Tuấn, bạn Lý Văn Trọng lớp Sinh – KTNN 36,
bạn Lê Trần Đức Huy lớp Sinh 36, cùng các em: Ngô Nhã Lam Duy lớp Sinh –
KTNN 37, em Nguyễn Thị Trà Giang lớp Sinh 38, gia đình và các bạn đã động
viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp ii Bộ môn Sư phạm Sinh học
TÓM LƢỢC
Cá bống sao (Boleophthalmus boddarti) là loài cá quen thuộc vùng bãi bồi
ven biển huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Cá có kích thước tương đối lớn, thịt chắc
và có giá trị tương đối cao. Cá bống sao là động vật có tập tính ăn thiên về thực
vật, bắt mồi trên nền đáy bùn (RLG 2,19 ± 0,03). So với nghiên cứu trước đó đã
xác định thêm 4 loại thức ăn (Gyrosigma, Coscinodiscus, Desmidiales,
Oscillatoriales) và hệ số béo, chỉ số no, cường độ bắt mồi của cá bống sao. Thành
phần thức ăn của cá bống sao có 8 loại: Mùn hữu cơ (13,26%); Navicula
(35,27%), Pleurosigma (31,53%), Nitzschia (13,44%), Gyrosigma (2,16%) và
Coscinodiscus (0,57%) Oscillatoriales (0,07%), Desmidiales (3,25%). Thành phần
thức ăn giống nhau giữa con non và con trưởng thành, cá bống sao đực và cá bống
sao cái, mùa mưa và mùa khô có và đều sử dụng chung 8 loại thức ăn. Độ béo
Fluton và Clark của con đực (1,02 ± 0,27 và 0,9 ± 0,24) cao hơn con cái (1 ± 0,14
và 0,87 ± 0,1), của mùa mưa (1,072 ± 0,21 và 0,93 ± 0,22) cao hơn mùa khô (0,94
± 0,13 và 0,83 ± 0,12). Độ no và cường độ bắt mồi của con cái (272,98 ± 30,84 và
0,04 ± 0,01) cao hơn con đực (268,92 ± 38,5 và 0,03 ± 0,01) và mùa khô (274,81 ±
0,12 và 0,039 ± 0,019) cao hơn mùa mưa (1,072 ± 0,21 và 0,93 ± 0,22).
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp iii Bộ môn Sư phạm Sinh học
MỤC LỤC
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp iv Bộ môn Sư phạm Sinh học
2.5 Phương pháp nghiên cứu 16
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 19
CHƢƠNG IV. KẾT QUẢ THẢO LUẬN 20
1. Đặc điểm dinh dưỡng chung của cá bống sao 20
2. Đặc điểm dinh dưỡng của cá bống sao chưa trưởng thành và cá bống sao
trưởng thành 24
3. Đặc điểm dinh dưỡng của cá bống sao cái và cá bống sao đực 30
4. Đặc điểm dinh dưỡng cá bống sao mùa mưa và mùa khô. 35
5. Độ béo (khả năng hấp thụ thức ăn) và độ no của cá bống sao cái và cá bống
sao đực 40
6. Độ béo (khả năng hấp thụ thức ăn) và độ no của cá bống sao mùa mưa và mùa
khô 41
CHƢƠNG V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
1. Kết luận 43
2. Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC I Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp v Bộ môn Sư phạm Sinh học
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Danh lục số lượng các taxon tảo nước ngọt ở các thủy vực nội địa Việt
Nam 14
Bảng 2: Chỉ số sinh trắc RLG của cá bống sao 20
Bảng 3: Chỉ số sinh trắc RLG của cá bống sao chưa trưởng thành và trưởng thành 25
Bảng 4: Chỉ số sinh trắc RLG của con cái và con đực 31
37
Hình 19: Điểm số các loại thức ăn của cá bống sao mùa mưa và mùa khô 38
Hình 20: Phổ thức ăn của cá bống sao mùa mưa 39
Hình 21: Phổ thức ăn của cá bống sao mùa khô 39
Hình 22: Bãi bồi tại khu vực nghiên cứu I
Hình 23: Một ngư dân đi bắt cá I
Hình 24: Cá bống sao và cá thòi lòi chấm cam cùng sinh sống trên bãi bồi II
Hình 25: Cá bống sao đang dùng miệng cạp thức ăn II
Hình 26: Oscillatoriales (40X) III
Hình 27: Coscinodiscus (40X) III
Hình 28: Navicula (40X) III
Hình 29: Gyrosigma (40X) III
Hình 30: Pleurosigma (40X) III
Hình 31: Nitzschia (40X) III
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 1 Bộ môn Sư phạm Sinh học
CHƢƠNG I
GIỚI THIỆU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng thủy sản xuất khẩu đứng
hàng thứ 3 trên thế giới (sau Trung Quốc và Ấn Độ) và đạt 1,67 triệu tấn vào năm
2006 đánh dấu bước phát triển mạnh ngành thủy sản Việt Nam (Dương Nhựt Long,
2008). Bên cạnh nguồn lợi thủy sản do đánh bắt thì sản lượng thủy sản do nuôi
trồng cũng có đóng góp sản lượng vào xuất khẩu cả nước. Nuôi trồng thủy sản đã
xuất hiện từ lâu trên thế giới (500 năm trước công nguyên tại Trung Quốc với đối
tượng nuôi là cá chép). Ở Việt Nam, nghề nuôi trồng thủy sản xuất hiện vào 1960,
từ 1970 cho đến trước năm 2010, nghề nuôi trồng thủy sản liên tục phát triển đa
dạng và thâm canh hóa (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2009).
hay ăn tạp. Xác định phổ dinh dưỡng cho đối tượng này đến bậc họ.
So sánh thành phần thức ăn giữa con non và con trưởng thành (theo nhóm
chiều dài), giới đực và giới cái cũng như giữa mùa mưa và mùa khô.
Xác định độ béo (khả năng hấp thụ thức ăn), độ no ở giới đực và giới cái
cũng như hai mùa mưa và nắng.
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 3 Bộ môn Sư phạm Sinh học
CHƢƠNG II
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1. Tổng quan khu vực nghiên cứu
Sóc Trăng là 1 tỉnh ven biển nằm cuối lưu vực sông Hậu, diện tích tự
nhiên 33.1176, 29 km
2
(Dự án quy hoạch và bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Sóc
Trăng đến 2020, 2013). Phía Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía Đông Bắc giáp
tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long, phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và Đông
Nam giáp Biển Đông với đường bờ biển chạy dài 72 km. Địa hình Sóc Trăng
lòi Periophthalmidae, giống cá lác và có hệ thống phân loại sau:
Bộ cá vược: Perciformes
Bộ phụ cá Bống: Gobioidei
Họ cá thòi lòi: Periophthalmidae
Giống cá lác: Apocrypteidae
Loài cá lác đen: Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)
Theo Rainboth (1996), cho rằng cá bống sao thuộc họ cá Bống, phụ họ
Oxudercinae và chỉ có một loại cá bống sao. Hệ thống phân loại như sau:
Bộ: Perciformes
Phân bộ: Gobioidei
Họ: Gobiidae
Phụ họ: Oxudercinae
Giống: Boleophthalmus
Loài: Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)
Hình 1: Cá bống sao Boleophthamus boddarti
(Nguồn: Trần Đắc Định, 2013)
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 5 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Cá có kích thước 10 – 15,2 cm, số vảy đường dọc: 61 – 75, số vảy quanh
cuống đuôi: 20 – 22. Đầu to, thân dẹp, không có râu, cuống đuôi ngắn. Mắt tròn,
nhỏ, nằm trên một cuống ngắn, dựng đứng ở đỉnh đầu, mí dưới mắt tự do và cử
động được. Khoảng cách giữa 2 ổ mắt hẹp và ít thay đổi theo kích thước của cá.
Mõm tù, hướng xuống, rạch miệng xiên. Răng hàm dưới một hàng, mọc xiên, có
một đôi răng chó. Răng hàm trên một hàng phía trước, có 6 răng chó, các răng khác
nhỏ mịn. Lưỡi dính với sàn miệng, đầu lưỡi tròn. Lỗ mang hẹp, màng mang phát
triển, phần dưới dính với eo mang. Vảy tròn, phủ khắp thân và đầu, trên mỗi vảy có
một u tròn. Vảy phủ lên quá 1/2 vi ngực và một phần vi đuôi. Khoảng cách giữa
hai vi lưng lớn hơn chiều dài gốc vi lưng thứ nhất, các gai của vi lng thứ nhất phát
Cá bống sao sống ở nước lợ và mặn, rất ít khi gặp ở nước ngọt. Chúng sống
trong hang và bò từng đàn để kiếm ăn nhờ cơ gốc vi ngực, cơ gốc vi đuôi, các tia vi
đuôi phía dưới khỏe nên cá có thể trườn và nhảy nhanh nhẹn trên bùn. Cá phân bố
ở Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu
Hương, 1993). Cá bống sao là loài đặc trưng cho khu hệ cá vùng cửa sông và vùng
nước ngập triều hạ lưu sông Mê Kông (Nguyễn Văn Hảo, 2005). Môi trường sống
của con trưởng thành là khu vưc rừng đước ven biển chịu ảnh hưởng của thủy triều:
ngập nước khi thủy triều lên và phơi bãi khi thủy triều rút. B. boddarti chưa trưởng
thành phân bố ở khu vực có thời gian ngập nước nhiều hơn B. boddarti trưởng
thành (Takia et al., 1999; Polgar & Crosa, 2009).
Cá bống sao được tìm thấy ở vùng cửa sông và rừng ngập mặn. Chúng đào
hang để làm nơi ở (Ravi, 2013). Hang cá Bống có số lượng miệng hang dao động
từ 2 đến 4 cái, mỗi hang có từ 1 đến 3 chẩm, đường kính chẩm dao động từ 5,21
cm đến 6,99 cm, tổng chiều dài mỗi hang dao động từ 54,4 cm đến 107,3 cm.
Miệng hang cá bống sao thường hơi nghiêng khi thông với chẩm (nơi giao nhau
của nhiều nhánh hang) giúp cá có thể chủ động xoay đầu trong hang để rẽ sang
hướng ngược lại hoặc rẽ sang những hướng khác, xung quanh miệng hang của cá
bống sao có dấu vết của vây ngực. Cá bống sao dùng hang như là nơi để trú ẩn,
tránh kẻ thù và cũng là nơi để chúng có thể dùng cho sinh sản (Nguyễn Thị Trà
Giang, 2013).
3. Tổng quan tình nghiên cứu sinh học sinh dƣỡng cá
3.1 Tƣơng quan chiều dài ruột RLG (Relative length of the gut)
Chỉ số thường được dùng để xác định tính ăn của cá là chỉ số tương quan
giữa chiều dài ruột và chiều dài thân RLG. Alikunhi và Rao (1951), cho rằng chiều
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 7 Bộ môn Sư phạm Sinh học
dài ruột của các loài động vật phụ thuộc vào loại thức ăn tự nhiên mà chúng ăn vào,
chiều dài ruột tăng khi tỉ lệ thức ăn thuộc nhóm thực vật tăng lên trong khẩu phần
ăn của chúng. Ngoài ra giá trị RLG giữa các loài khác nhau và trong từng cá thể
Bước 1: Tất cả cá loại thức ăn hiện diện trong ruột cá sẽ được liệt kê ra
thành một danh sách, sau đó sự hiện diện hay không hiện diện của mỗi loại thức
ăn trong từng dạ dày sẽ được ghi nhận lại.
Bước 2: Số lượng dạ dày (ruột) có hiện diện mỗi loại thức ăn sẽ được
cộng lại sau đó sẽ tính ra phần trăm trên tổng số mẫu quan sát.
Phương pháp này cho phép định tính thành phần thức ăn và tần số xuất
hiện của mỗi loại thức ăn trong tổng số mẫu quan sát có thể suy đoán được tính
lựa chọn thức ăn của cá.
● Phương pháp số lượng (number method): Mỗi loại thức ăn sẽ được ghi
nhận lại số lượng sau đó được tính ra phần trăm trên tổng số lượng các loại thức
ăn có trong dạ dày cá. Phương pháp này có thuận lợi đối với cá ăn sinh vật nổi
(planktonphagus), tuy nhiên, đối với nhóm ăn tạp phương pháp này sẽ lộ nhược
điểm do kích thước các loại thức ăn khác nhau.
● Phương pháp tính nhóm thức ăn ưu thế (dominance method): Các bước
thực hiện tương tự như phương pháp tần số xuất hiện. Tuy nhiên điểm khác ở
phương pháp này là chỉ có loại thức ăn hay nhóm thức ăn có số lượng nhiều
(chiếm ưu thế) trong dạ dày được ghi nhận, sau đó cộng lại số lượng dạ dày có
sự hiện diện loại thức ăn này và tính ra phần trăm trên tổng số mẫu quan sát.
Tuy nhiên, phương pháp này có 1 nhược điểm, khi môi trường bất lợi số lượng
thức ăn ưu thế giảm xuống, một số nhóm thức ăn khác tăng lên làm ảnh hưởng
đến kết quả.
● Phương pháp đếm điểm (Point method): Đây là phương pháp cải tiến
nhất của phương pháp số lượng. Điểm số của mỗi loại thức ăn phụ thuộc vào:
tần số xuất hiện (thức ăn thường xuất hiện sẽ có điểm số cao nhất, thức ăn ít
xuất hiện sẽ có điểm số thấp hơn) và kích thước thức ăn (thức ăn có kích thước
lớn sẽ có điểm số cao hơn thức ăn có kích thước nhỏ). Điểm số của các loại thức
ăn được tính ra theo từng loại và sau đó qui về phần trăm cho từng thức ăn trên
tổng số tất cả thức ăn ghi nhận được.
3.2.2 Phương pháp thể tích
Phương pháp này thường được xem là thỏa mãn và chính xác hơn trong
ăn này chỉ được cá sử dụng khi chúng xuất hiện; (3) thức ăn bắt buộc
(emergency food) là loại thức ăn mà cá bắt buộc phải sử dụng khi môi trường
sống không còn các loại thức ăn ưa thích hay thức ăn phụ (Schaperclaus, 1933)
(trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Đinh, 2004).
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 10 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Ngoài ra thức ăn còn được phân loại dựa trên tầm quan trọng của loại thức
ăn đó trong khẩu phần ăn của cá. Có 4 loại thức ăn chính: (1) Thức ăn cơ bản
(basic food) là loại thức ăn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong khối lượng thức ăn cá và
được cá thường xuyên sử dụng; (2) Thức ăn thứ cấp (secondary food) là loại thức
ăn thường xuyên xuất hiện trong ống tiêu hóa của cá, nhưng có số lượng ít; (3)
Thức ăn ngẫu nhiên (incidental food) là loại thức ăn chiếm số lượng rất ít trong ống
tiêu hóa của cá; (4) thức ăn cưỡng bức (obligatory food) là thức ăn buộc cá phải sử
dụng khi thiếu các loại thức ăn khác (Nikolsky, 1963).
Tùy theo khối lượng thức ăn mà cá sử dụng có thể chia tập tính dinh dưỡng
của cá thành các nhóm: (1) Cá ăn đơn (monophagic) chỉ ăn một loại thức ăn duy
nhất; (2) Cá có phổ dinh dưỡng hẹp (stenophagic) cá chỉ sử dụng một vài loại thức
ăn trong khẩu phần ăn của chúng; (3) Phổ dinh dưỡng rộng (curyphagic) chúng ăn
được nhiều loại thức ăn khác nhau. Ngoài ra tính ăn của cá còn được phân chia dựa
vào nơi mà loại thức ăn ưa thích của cá xuất hiện : cá ăn tầng mặt (surface feeder);
Cá ăn tầng giữa (mid feeder); Cá ăn đáy (bottom feeder) hoặc cá ăn ven bờ
(marginal feeder) (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004).
Phổ dinh dưỡng của cá Bống lá tre có 27 loại thức ăn thuộc 6 ngành động
và thực vật khác nhau. Trong đó chủ yếu là khuê tảo (chiếm 36%), tảo lục và
động vật có xương sống (chiếm 19%), chân khớp (chiếm 11%) và một lượng lớn
mùn bã hữu cơ. Tùy theo kích thước mà mỗi nhóm cá sử dụng các loại thức ăn
khác nhau, tuy nhiên nhìn chung, trong các ống tiêu hóa của cá đều có sự hiện
diện của tảo. Nhóm cá nhỏ có 14 loại thức ăn (chủ yếu là khuê tảo, động vật
không xương sống và một số động vật có xương sống với kích thước bé). Nhóm
khá cao làm cho thủy vực nước có độ mặn giảm nên môi trường nước cũng thay
đổi từ mặn đến ngọt dần vì vậy làm cho loài thủy sinh tăng mạnh về số lượng và
thành phần, hệ quả là thức ăn cá bống cát sẽ nhiều và đa dạng hơn vào mùa mưa
(Trần Trung Kiên, 2013).
Phổ thức ăn chủ yếu là Navicula (27,61%), Nitzschia (11,75%), Pleurosigma
(28,42%), mùn bã hữu cơ (32,22%). Điều này cho thấy cá bống sao là loài ăn thiên về
thực vật, bắt mồi trên nền đáy bùn (Nguyễn Thị Trà Giang, 2013).
Phổ thức ăn của cá kèo vảy to có khuê tảo chiếm 42,19%, tảo lục 6,10% ,
tảo lam 1,12% và nhiều nhất là mùn bã hữu cơ 50,59% và không có thành phần
thức ăn thuộc nhóm động vật (Nguyễn Minh Thành, 2013).
Ravi (2013) nghiên cứu dinh dưỡng của cá bống sao ở vùng bãi bồi, ven
rừng ngập mặn ở Ấn Độ, trong vòng 1 năm, với tổng số 156 cá thể, xác định thành
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 12 Bộ môn Sư phạm Sinh học
phần thức ăn của cá bống sao chủ yếu là khuê tảo, mùn bã hữu cơ, hạt bùn/cát,
trứng cá, giun tròn và giun nhiều tơ. Hoạt động kiếm ăn được ghi nhận lại trong
suốt thời gian nghiên cứu: tháng 1 (sau gió mùa) đến tháng 5 (mùa hè) nhưng sau
đó giảm 50% trong tháng 6 (mùa hè) đến tháng 9 (trước gió mùa), tháng 10 và
tháng gió mùa cường độ tìm kiếm thức ăn giảm thấp. Nguyên nhân dẫn đến khan
hiếm thức ăn có thể là do lũ lụt ở bãi bồi trong suốt thời gian gió mùa.
3.4 Hệ số béo
Hệ số béo được tính bằng công thức Fluton và Clark của Fluton (1902) và
Clark (1928) dùng để xác định độ béo và mức độ tích lũy dinh dưỡng.
Thời kì đầu của quá trình tạo trứng thì mức độ tích lũy vật chất dinh dưỡng
thường cao hơn so với quá trình chuyển hóa tạo ra sản phẩm sinh dục (Chung Lân,
trích dẫn bởi Nguyễn Văn Kiểm, 2007). Theo nghiên cứu của Nguyễn Bạch Loan
và ctv (2006) về sinh học sinh sản của cá Leo (Wallago attu ) xác định độ béo
Fulton và Clark thu được ngoài tự nhiên biến đổi theo sự thành thục và theo thời
gian không lớn và thay đổi từ 0,68%- 0,92% (Fulton) và 0,56%- 0,85% (Clark). Độ
điểm 10 (0,5 dành cho trường hợp ống tiêu hóa chỉ hiện diện dấu vết của thức ăn,
10/10 là điểm dành cho ống tiêu hóa căng phồng thức ăn (được trích dẫn bởi
Nguyễn Thanh Liêm và Trần Đắc Định , 2004).
Một chỉ số khác dùng để ước lượng mức độ thỏa mãn (degree of satiation)
về thức ăn của cá (chỉ số no) bằng cách áp dụng công thức của Shorygin (1952).
Chỉ số dùng để ước lượng cường độ bắt mồi của cá đó là chỉ số sinh trắc dạ dày
(gastro-somatic index) GI của Desai (1970).
Loài Lepturacanthus savala (Cuvier, 1929) có chỉ số no cao nhất là vào tháng
9 (280,98) và thấp nhất là vào tháng 4 (83,24) và tháng 10 (122,93), nguyên nhân
có thể là do trong mùa sinh sản xảy ra hiện tượng cá ngừng ăn. Trong quá trình
nghiên cứu nhận thấy rằng ở các cá thể có tuyến sinh dục chín thì hầu như tuyến
sinh dục chiếm hầu hết khoang cơ thể và khi quan sát thấy dạ dày rỗng và đôi khi
bị dời sang 1 bên. Cho nên đó có thể sau khi cá đẻ trứng xong cá sẽ ăn rất nhiều
dẫn đến sự tăng trọng bất thường (Pakhmode và Mohite, 2014).
Thức ăn của cá Chỉ vàng ở vùng biển Thừa Thiên Huế chủ yếu là động vật
không xương sống với 32 loại và động vật có xương sống có 3 loại. Cường độ bắt mồi
thay đổi theo độ tuổi khác nhau. Cường độ bắt mồi cao nhất ở giai đoạn đầu của vòng
đời giúp cá tăng trưởng nhanh về chiều dài và khối lượng đồng thời tích lũy chất dinh
dưỡng trong cơ thể để sớm đạt trạng thái thành thục về sinh dục và tái sản xuất tạo nên
cân bằng số lượng cá thể trong quần thể (Võ Văn Phú và Nguyễn Thị Hoàn, 2010).
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 14 Bộ môn Sư phạm Sinh học
4. Tổng quan về tảo
Bề mặt Trái đất được bao phủ bởi biển và đại dương, hầu hết những sinh vật
sống và quang hợp trong môi trường nước là tảo. Chúng phân bố đến độ sâu khoảng
150 m và phụ thuộc vào độ trong của nước. Tảo có thể phân bố ở biển và bờ biển,
phân bố gắn với nền đáy hoặc sống trôi nổi. Nhờ vào hoạt động quang hợp, tảo tạo ra
nguồn chất hữu cơ khổng lồ cho Trái đất gồm khoảng phân nữa của tổng năng suất
sinh học sơ cấp trên Trái đất và sự sống của tất cả các sinh vật thủy sinh đều phụ thuộc
lượng loài và 99% về sinh lượng (Vũ Ngọc Út và Dương Thị Hoàng Oanh, 2012).
Tảo Lục phân bố rộng, phát triển chủ yếu ở nước ngọt, phân biệt tảo Lục với
các tảo khác nhờ màu lục của diệp lục tố. Chúng có thể sống tự do, sống bám, bì
sinh nội sinh hoặc ký sinh (Vũ Ngọc Út và Dương Thị Hoàng Oanh, 2012).
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 15 Bộ môn Sư phạm Sinh học
CHƢƠNG III
PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phƣơng tiện nghiên cứu
Cân điện tử, bàn đo cá, kính hiển vi, formol 4%, buồng đếm thức ăn
Sedgewick - Rafter, thước đo, ống đong, ống nghiệm, máy chụp hình, máy vi tính.
2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài cá bống sao là Boleophthalmus
boddarti (Pallas, 1770).
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 08/2013 đến tháng 01/2014 bao gồm: thời gian
thu mẫu ngoài thực địa, phân tích mẫu, xử lí số liệu, viết bài và báo cáo luận văn.
Thời gian thu mẫu ngoài thực địa:
- Đợt 1: Từ tháng 08/2013 đến tháng 10/2013
- Đợt 2: Từ tháng 11/2013 đến tháng 01/2014
Thời gian phân tích mẫu từ tháng 08/2013 đến tháng 01/2014
Thời gian xử lí số liệu từ tháng 02/2014 đến tháng 03/2014
Thời gian viết bài và báo cáo luận văn từ tháng 02/2014 đến tháng 05/2014
2.3 Địa điểm thu mẫu
Để tài được thực hiện tại bãi bồi vùng cửa sông Trần Đề (huyện Trần Đề, tỉnh
Sóc Trăng).
Luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 36- 2014 Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp 16 Bộ môn Sư phạm Sinh học
xây dựng phổ dinh dưỡng.
Xác định hệ số béo: bằng phương pháp của Fulton (1902) và Clark (1928)
● Công thức của Fluton (1902)
Trong đó W: Khối lượng tổng của cá.
L: Chiều dài tổng của cá.
● Công thức của Clark (1928)
Trong đó W
0
: Khối lượng không nội tạng của cá.
L: Chiều dài tổng của cá.
Xác định chỉ số no bằng phương pháp của Shorygin (1952) và Desai (1970)
● Công thức của Shorygin (1952)
Trong đó W
i
: Khối lượng thức ăn trong ruột cá.
BW: Khối lượng tổng của cá.