Báo cáo thực tập tổng hợp công ty may 10 - Pdf 30

LỜI MỞ ĐẦU
Từ những năm 1980, Việt Nam bắt đầu bước vào công cuộc đổi mới nền
kinh tế theo định hướng của Đáng và Nhà nước. Công cuộc đổi mới và chính
sách mở cửa đã khiến nền kinh tế có những bước chuyển mình lớn sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo hướng đa phương hoá, đa
dạng hoá, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh và các thành phần kinh tế để hội
nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trong điều kiện đó các luồng đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam rất
mạnh kết hợp với nguồn lực tiềm năng trong nước đã thúc đẩy sự tăng trưởng
của nền kinh tế. Ở tất cả các thành phần kinh tếchúng ta đều có thể tìm được
những mô hình sản xuất kinh doanh năng động có hiệu quả cao. Đặc biệt là
ngay trong thành phần kinh tế nhà nước vốn gắn bó lâu năm với cơ chế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp thì nay cũng đã có nhiều biến đổi mạnh
mẽ thích nghi và trụ vững trong cơ chế hoạt động của nền kinh tế thị trường.
Công ty May 10 là một DNNN với chức năng chính là sản xuất và kinh
doanh xuất nhập khẩu hàng may mặc đã có cố gắng nắm bắt những cơ hội và
vượt qua những khó khăn mà xu thế chung của nền kinh tế mang lại để phát
triển và vươn lên.
Trong quá trình thực tập tại Công ty may 10, với sự giúp đỡ nhiệt tình
của cán cán bộ các phòng ban trong Công ty, em đã hoàn thành “Báo cáo thực
tập tổng hợp” phản ánh về thực trạng, những mặt thuận lợi, khó khăn, những
kết quả đã đạt được cũng như những tồn tại cần khắc phục trong công tác kế
hoạch tại Công ty may 10.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Phạm Văn
Vận và các cô, chú, anh, chị trong ban lãnh đạo Công ty, các phòng ban đã
hướng dẫn chỉ bảo, góp ý, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn
thành tốt bản Báo cáo thực tập tổng hợp này.
Báo cáo thực tập tổng hợp 1
PHẦN I. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
CỦA CÔNG TY MAY 10
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty May 10

Họ được Nha Quân nhu tuyển mộ, tập trung rồi tổ chức thành nòng cốt X1.
Đến năm 1952, Xưởng X1 ở Việt Bắc được đổi thành Xưởng May 10 với bí
số là X10. Đây chính là tiền thân của công ty May 10 ngày nay. Năm 1952,
do qui mô lớn hơn nên xưởng X10 di chuyển về Đinhj Hóa (Bộc Nhiêu –
Thái Nguyên).
* Giai đoạn 1954 – 1960:
Năm 1954 kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, Xưởng May 10
được lệnh trở về Hà Nội để có điều kiện sản xuất tập trng hơn. Đồng thời,
Cục Quân nhu cũng quyết định ghép Xưởng May 40 ở Thanh Hoá vào Xưởng
May 10. Với việc ghép hai đơn vị và trở về Thủ Đô, May 10 đã bước vào một
giai đoạn phát triển mới cao hơn. Sau một thời gian tìm hiểu, xã Hội Xá thuộc
tỉnh Bắc Ninh cũ, nay là Phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phô Hà
Nội được chọn làm cơ sở mới của May 10, vì nơi đây đáp ứng được 2 điều
kiện cơ bản:
- Thứ nhất, Hội Xá là cửa ngõ Thủ Đô, tuận tiện về giao thông (sát
đường quốc lộ số 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, gần sân bay Gia Lâm).
- Thứ hai, Hội Xá có khu đất hoang (trước là bãi pháo cua quân đội Pháp
và Nhật) rộng gần 20 ha, đủ để xây dựng xí nghiệp lớn, lại không ảnh
hưởngđến sản xuất của bà con nông dân quanh vùng.
Tháng 10/1955, Tổng cục hậu cần tiến hành biên chế cho Xưởng May 10
số lượng 564 cán bộ, công nhân viên. Ngày 26/7/1956, Xưởng May 10 và
Xưởng May 40 được hợp nhất.
Cuối quý IV năm 1956, một bộ phận của May 10 được tách ra để thành
lập Xưởng May 20 chuyên may đo quần áo cán bộ trung, cao cấp của quân
đội đóng ở khu vực Hà Nội. Riêng Xưởng May 10 được Tổng cục hậu cần
giao nhiệm vụ may sẵn quần áo cấp phát từ cấp uý trở xuống.
Đến cuối năm 1956 đầu năm 1957, quy mô Xưởng May 10 được mở
rộng, máy móc được trang bị nhiều hơn với 253 chiếc máy bay, trong đó có
236 chiếc chạy bằng điện . Nhiệm vụ chủ yếu của Xưởng May 10 vẫn là may
Báo cáo thực tập tổng hợp 3

rẻ, chất lượng phải tốt. Thời gian đầu Xí nghiệp gặp không ít khó khăn về tổ
Báo cáo thực tập tổng hợp 4
chức, nhất là về mặt tư tưởng. nhưng chính truyền thống xây dựng và trưởng
thành trong kháng chiến của tập thể cán bộ công nhân May 10 đã giúp Xí
nghiệp từng bước vượt qua các kho khăn, luôn hoàn thành vượt mức chỉ tiêu
kế hoạch sản xuất Nhà Nước giao và xứng đáng là một trong những lá cờ đầu
nghành may mặc trong xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
* Giai đoạn 1965 – 1975 :
Năm 1965 giặc Mỹ đem không quân ồ ạt đánh phá Miền Bắc để ngăn
chặn nguồn chi viện cho Miền Nam, xí nghiệp May 10 nằm cạnh trục đường
5 cong đường giao thông huyết mạch, gần kho xăng dầu, cạnh sân bay Gia
Lâm nên đã trở thành mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ. Trước tình hình
đó xí nghiệp đã hiểu rõ nhiệm vụ mới và nhanh chóng chuyển hướng hoạt
động, nhiệm vụ chủ yếu vẫn là sản xuất quân trang phục vụ bộ đội.
Năm 1973 sau khi hiệp định Pari được ký kết, nhận thức rõ cuộc đấu
tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta sắp đến ngày kết thúc, cán bộ công
nhân May 10 được cấp trên giao nhiệm vụ may nhiều quân trang phục vụ
quân giải phóng.
* Giai đoạn từ 1975 đến 1986:
Bắt đầu tư giai đoạn này khi đất nước hoàn toàn độc lập, môi trường hoạt
động sản xuất kinh doanh có nhiều biến đổi khác trước. Cuộc kháng chiến đã
kết thúc nên việc sản xuất phục vụ cho quân sự không còn mang nặng tính
chất bắt buộc như trước. Các doanh nghiệp nói chung và May 10 nói riêng
phải tự nỗ lực tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nghiên cứu phát triển sản phẩm và
doanh thu lúc này là mục tiêu rất được quan tâm.
Phương châm hoạt động lúc này của công ty là chuyên sản xuất gia công
và làm hàng xuất khẩu. Hoạt động sản xuất kinh doanh lúc này đặt doanh thu
và lợi nhuận làm mục tiêu. Mọi nỗ lực của công ty là phải tìm cách tháo gỡ
các khó khăn và tìm ra hướng phát triển mới cho hoạt động kinh doanh của
công ty.

mọi tiềm năng đồng thời phải vượt qua những khó khăn, thử thách lớn.
Phương châm hoạt động của công ty là phải thực hiện đổi mới và phát
triển toàn diện, chú trọng đến công tác chất lượng sản phẩm và nâng cao năng
suất lao động.
Báo cáo thực tập tổng hợp 6
Trong giai đoạn này hoạt động kinh doanh của Công ty đã có sự thay đổi
lớn từ nhóm thị trường mục tiêu. Vào những năm 1990-1991, Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, nhiều doanh nghiệp của Việt Nam
nói chung và May 10 nói riêng đã bị chao đảo do mất đi thị trường truyền
thống. Trong khi đó tình hình của May 10 có rất nhiều vấn đề bất cập: nhà
xưởng cũ nát, máy móc lạc hậu, tay nghề công nhân thấp, vốn thiếu, bộ máy
hoạt động cồng kềnh, năng suất lao động thấp… đã trở thành những trở ngại
lớn trên bước đi của doanh nghiệp. Trước tình hình đó, lãnh đạo của công ty
đã chuyển mạnh thị trường chủ đạo sang thị trường “khu vực II” – thị trường
có nhiều yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và mẫu mã mặt hàng như:
Liên bang Đức, Nhật Bản, Bỉ, Đài Loan, Hồng Kông, Canada… Để đáp ứng
được các yêu cầu đó đòi hỏi công ty phải đổi mới trang thiết bị, thay thế 2/3
thiết bị cũ, lạc hậu bằng các thiết bị mới, hiện đại hơn. Đồng thời với đó, công
ty thay đổi lại cơ cấu hoạt động của công ty, đào tạo lại các cán bộ công nhân
viên của công ty để nâng cao tay nghề sản xuất kinh doanh của công ty.
Từ tháng 11 năm 1992, Bộ Công nghiệp nhẹ đã quyết định chuyển xí
nghiệp may 10 thành công ty may 10 có tên quốc tế là : GARCO 10. Cùng
với đó, công ty đã mạnh dạn đầu tư trang bị thêm các thiết bị kĩ thuật, công
nghệ mới, đào tạo công nhân kĩ thuật và cán bộ quản lí, xây dựng thêm các
nhà xưởng mới, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân và mở rộng thị
trường quốc tế.
Kết quả đạt được của May 10:
Từ năm 1986 đến 1990, mỗi năm công ty sản xuất cho thị trường “khu
vực I” (Liên Xô và Đông Âu) từ 4 đến 5 triệu sơ mi theo nội dung các nghị
định hàng hóa kí kết giữa Việt Nam và các nước trong hội đồng tương trợ

Việc đầu tư đó không chỉ làm tăng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản
phẩm mà còn đóng góp lớn vào việc đa dạng hoá sản phẩm.
Tại các phân xưởng việc sản xuất các sản phẩm được bố trí theo dây
chuyền nước chảy, các bộ phận của sản phẩm may sau khi được cắt sẽ được
chuyển sang may lần lượt từng bước từ đầu đến cuối dây chuyền hình thành
nên sản phẩm hoàn chỉnh. Như vậy các bước công việc được dây chuyền hoá,
Báo cáo thực tập tổng hợp 8
phân chia rõ ràng do vậy người quản lý có thể dễ dàng đánh giá được chất
lượng thực hiện của mỗi bước công việc.
Qui trình sản xuất của Công ty được chuyên môn hoá cao, sản phẩm
được sản xuất theo một qui trình khoa học
* Đặc điểm lao động của doanh nghiệp
Do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát
triển để đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh lực lượng lao
động của Công ty không ngừng được nâng lên về số lượng và củng cố về chất
lượng.
Về mặt số lượng: từ một công ty chỉ có gần 1000 lao động đến nay đã
lên tới khoảng 7800 người và số lượng này đã không ngừng tăng thêm mỗi
năm chủ yếu là công nhân sản xuất. Do số lượng lao động không ngừng tăng
mỗi năm trong khi đó diện tích mặt bằng của công ty lại không tăng nên Công
ty đã đầu tư xây dựng một số các xí nghiệp ở các địa phương khác như: Thái
Bình, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Bình…Do đặc điểm của Công nghiệp
may nên lao động của Công ty chủ yếu là lao động nữ chiếm khoảng 80%
tổng số lao động của toàn công ty.
Về mặt chất lượng: ban giám đốc rất chú trọng đến chât lượng lao động
để nhằm nâng cao tay nghề, kiến thức chuyên môn cho cán bộ công nhân
viên. Công ty thường xuyên mở các lớp đào tạo tại doanh nghiệp và gửi đi
học bên ngoài về quản lý kinh tế, an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp,
ngoại ngữ, nâng cấp bậc cho công nhân.
3. Chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Công ty May 10

o
a
n
h
P
h
ò
n
g

Q
A
T


k
i

m

h
o
á
T


q
u

n


x
í

n
g
h
i

p

m
a
y
T


h
ò
m

h

p
T
r
ư

n
g


p
h


t
r

X
N

đ

a

p
h
ư
ơ
n
g
P
h
ò
n
g

k
h
o

k
ĩ

t
h
u

t
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức công ty may 10
Đứng đầu bộ máy lãnh đạo của Công ty là Tổng Giám Đốc (TGĐ) do
cấp trên bổ nhiệm sau khi đã tham khảo ý kiến của Đảng bộ và phiếu tín
nhiệm của cán bộ, công nhân viên trong toàn công ty. Tổng giám đốc là đại
diện toàn quyền của công ty trong mọi hoạt động kinh doanh. Giúp việc cho
Tổng giám đốc gồm có 1 phó Tổng giám đốc đại diện lãnh đạo về chất lượng,
1 giám đốc điều hành đại diện về an toàn sứ khoẻ, môi trường và phụ trách
khối văn phòng, 1 giám đốc điều hành phụ trách phòng kỹ thuật và các phân
xưởng phụ trợ, 1 giám đốc điều hành phụ trách các xí nghiệp địa phương,
phòng kho vận và trường đào tạo may.
* Phòng Kế Hoạch: là bộ phận tham mưu của cơ quan Tổng giám đốc,
quản lý công tác kế hoạch va xuất nhập khẩu,công tác cung cấp vật tư sản
xuất, tổ chức kinh doanh thương mại (FOB). Tham gia đàm phán ký kết các
hợp đồng kinh tế, soạn thảo và thnah toán các hợp đồng. Giải quyết các thủ
tục xuất nhập khẩu trực tiếp theo sự uỷ quyền của Tổng giám đôc. Xây dựng
và đôn đốc thực hiện kế hoạch sản xuất của các đơn vị để bảo đảm hoàn thành
kế hoạch của công ty.
Hiện nay, số lượng cán bộ công nhân viên là 116 người. Với chức năng
nhiệm vụ: nghiên cứu, xây dựng mục tiêu và kế hoạch sản xuất kinh doanh
chung của toàn công ty. Quản lý các hoạt động kinh doanh quốc tế, cân đối kế
hoạch và điều độ sản xuất. Quản lý các kho nguyên phụ liệu, thiết bị, bao bì,
thành phẩm phế liệu. Quản lý các hoạt động xuất, nhập khẩu.

nghệ tiên tiến và kỹ thuật mới, nghiên cứu đổi mới máy móc thiết bị theo yêu
cầu công nghệ nhằm đáp ứng sự phát triển sản xuất của công ty.
* Ban Marketing: nghiên cứu và mở rộng thị trường trong nước và quốc
tế. Xây dựng và phát triển thương hiệu May 10.
* Xí nghiệp may thành viên: là đơn vị sản xuất chính của công ty, tổ chức
sản xuất hoàn chỉnh sản phẩm may từ khâu nhận nguyên phụ liệu đến nhập
thành phẩm vào kho theo quy định. Nhiệm vụ chính là tổ chức sản xuất, triển
khai thực hiện kế hoạch sản xuất của Tổng giám đốc, đảm bảo sản phẩm sản
xuất đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, quản lý va sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thực
hiện các nghĩa vụ đối với người lao động, chăm lo bảo vệ quyền lợi người lao
động, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định của Tổng giám đốc.
Báo cáo thực tập tổng hợp 12
* Trường công nhân kỹ thuật may thời trang: là đơn vị trực thuộc cơ
quan, có chức năng đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ,cán
bộ điều hànhvà công nhân kỹ thuật các nghành nghề, phục vụ cho quy hoạch
cán bộ, sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của các tổ chức kinh tế.
* Trường cao đẳng nghề Long Biên: Chức năng nhiệm vụ là nghiên cứu
khoa học, tổ chức và trực tiếp đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn,
tay nghề cho cán bộ công nhân viên trong Công ty và nhu cầu của xã hội.
* Văn phàng công ty: là đơn vị tổng hợp vừa có chức năng giải quyết về
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, phục vụ về hành chính và xã hội, tham mưu
giúp việc Tổng giám đốc về công tác cán bộ, lao động tiền lương, hành chính
quản trị, y tế nhà trẻ, bảo vệ quân sự và các hoạt động xã hội theo chính sách
và luật pháp hiện hành.
Ban tổ chức hành chính công ty May 10 thuộc khối văn phòng gồm có 9
nhân viên trong đó 1 người phụ trách an toàn lao động của công ty, 2 người
phụ trách giải quyết chế độ chính sách, 6 người phụ trách công tác tiền lương
của các bộ phận phòng ban trong công ty. Ban Tổ chức – hành chính thực
hiện các chức năng chủ yếu sau:
Công tác tổ chức cán bộ: phòng có nhiệm vụ tham mưu và thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status