Tín ngưỡng thờ thành hoàng - Pdf 30

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU: 2
B. NỘI DUNG: 2
1.Vài nét về tín ngưỡng thờ Thành hoàng
1.1.Giới thiệu Thành hoàng 2
1.2.Nguồn gốc và phân loại 3
1.3.Nơi thờ phụng Thành hoàng 4
1.4.Ý nghĩa thờ Thành hoàng 4
2.Tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở hai miền Bắc – Nam
2.1.Thời gian hình thành tục thờ 5
2.2.Đối tượng thờ cúng 5
2.3.Nơi thờ tự Thành Hoàng 8
2.4.Nghi lễ 11
3.Ảnh hưởng của tín ngưỡng đến đời sống dân cư hiện nay 16
C.KẾT LUẬN 17
DANH SÁCH NHÓM 19
1
A. MỞ ĐẦU
Thần làng ấp Việt Nam là thần hộ mệnh hay phúc thần, bảo vệ sinh mệnh đem
lại hạnh phúc cho mỗi cộng đồng người làng ấp. Chỗ ở của thần là các đình, đền,
miếu, đặt trên đất làng ấp, được che chở bởi lũy tre làng. Thần làng người Việt là
một vị thần được dân thờ từ trước, sau đó mới được vua phong tước với chức danh
Thành Hoàng.
Dân ta vẫn lưu truyền câu “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy
thờ” đã nói lên rằng không thần làng nào giống thần làng nào, cho dù hai làng có ở
cạnh nhau. Có thể nhận ra trong hàng nghàn vị Thành Hoàng có các loại như sau:
Các thiên thần; Các sơn thần; Các thủy thần; Thành hoàng là thần động vật hay
hiện vật; Thành hoàng là người nước ngoài; Những tạp thần khác… Tiềm thức về
thờ cúng thần Thành hoàng đã in sâu vào tâm thức của mỗi người Việt, trong từng
thôn xóm, làng ấp. Chính vì vậy, tín ngưỡng thờ cúng thần Thành Hoàng có sự
giống và khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc đã góp phần làm phong phú thêm bản

hoàng của thành Đại La, trụ sở của phủ đô hộ Đường tại nước ta (thế kỷ thứ IX).
Thần Tô Lịch là do Lý Nguyên Gia và Cao Biền tôn vinh là "Đô phủ Thành hoàng
thần quân", chữ Thành hoàng bắt đầu có từ đó.
Còn ở trong văn học Việt, theo các nhà nghiên cứu, thì việc thờ Thần hoàng
được đề cập lần đầu tiên ở bài Chuyện thần Tô Lịch trong sách Việt điện u linh.
• Phân loại
Thành hoàng làng có thể là nhân thần, có thể là nhiên thần, nhưng tựu trung lại
là các vị thần đã được lịch sử hóa hay huyền thoại hóa. Tuy nhiên các thành hoàng
được sắc vua phong (trừ những tà thần, yêu thần ) luôn luôn tượng trưng cho làng
xã mà mình cai quản là biểu hiện của lịch sử, của đạo đức, phong tục, pháp luật
cũng như hy vọng sống của cả làng. Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một
quyền uy siêu việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ.
Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị Thành hoàng thành ba bậc:
Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tuỳ theo sự tích và công
trạng của các vị thần đối với nước với dân, với làng xã. Các vị thần cũng được xét
đưa từ thứ vị nọ lên thứ vị kia, nếu trong thời gian cai quản các vị này đã phù hộ,
3
giúp đỡ được nhiều cho đời sống vật chất và tâm linh của dân chúng. Việc thăng
phong các vị Thành hoàng căn cứ vào sớ tâu của làng xã về công trạng của các vị
thần. Sớ này phải nộp về triều đình trong một thời gian quy định. Mỗi lần thăng
phong triều đình đều gửi sắc vua ban rất linh đình và cất nó trong hòm sắc thờ ở
hậu cung đình làng.
Nhưng có khi Thành hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm, là người
được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là
Thành hoàng sống.
1.3. Nơi thờ phụng Thành hoàng
Theo nhà học giả Nguyễn Văn Tố, thì khởi đầu đình chỉ là cơ ngơi để dân
làng hội họp, là nơi dành để treo những sắc lệnh và huấn dụ của nhà vua
Để thờ phụng Thần hoàng, nhiều làng lập miếu thờ. Rồi theo lệ ngày sóc
(mùng 1) và ngày vọng (ngày rằm) dân làng đến miếu để làm lễ Vấn (theo nghĩa

 Miền Bắc
Tục thờ Thành hoàng ở nước ta xuất hiện đầu tiên tại miền Bắc do ảnh hưởng
từ văn hóa Trung Hoa truyền sang từ thời Đường vào khoảng năm 833. Và sau đó
tiếp tục phát triển và phổ biến ở khắp các vùng miền trên cả nước.
 Miền Nam
Tục thờ Thành hoàng ở miền Nam được hình thành là do những cư dân người
Việt ở miền Bắc di cư vào phương Nam khai khẩn đất đai nên thời gian xuất hiện
muộn hơ so với miền Bắc. Họ cũng lập làng, dựng đình và thờ Thành Hoàng. Tuy
nhiên, cũng giống như trong các nét văn hoá khác trong vùng ĐBĐNCL, họ đã tạo
ra những biến đổi trong văn hoá Việt về phương diện tín ngưỡng.
2.2. Đối tượng thờ thần
Thành Hoàng là vị Thần bảo hộ một thành lũy, là vị Thần linh làm chủ trong
thành, cai quản thôn xã, chở che và phù hộ cho dân làng được an bình, thịnh
vượng.
 Ở miền Bắc:
Người dân cho rằng thần Thành Hoàng có thể là vị thần có nguồn gốc là thiên
nhiên hay nhân thần.
Thành hoàng của các làng không chỉ là và không phải là vị thần bảo vệ thành và
hào của làng, mà đó là người – theo truyền thuyết – có công với dân với nước
trong các cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm, hoặc là người có công lập ra
làng, có công truyền dạy một nghề nào đó cho dân làng, hoặc là một ông quan tốt.
5
Tín ngưỡng thờ thành hoàng của các làng vùng đồng bằng Bắc Bộ hầu hết các
làng đều thờ hai loại thành hoàng, trong đó một vị là biểu tượng của sức mạnh tự
nhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công với làng.
Các vị Thành hoàng được phân chia thành:
1. Thiên thần
Có các vị thần thánh là các hiện tượng tự nhiên được nhân hoá, thánh hoá (sấm,
chớp, mưa gió…), những vị thần có "lý lịch" là những yếu tố thiên nhiên (thần cây,
thần đá, thần nước, thần núi, thần biển, thần động vật…).

6
- Những vị là những nhà khoa bảng tài danh (Trạng nguyên, Tiến sĩ) mở đầu cho
truyền thống khoa bảng của làng, của họ, danh tiếng cho làng: Phạm Bảo, Phạm
Đạo Phú (Dương Phạm - Nghĩa Hưng)
- Có thần là các vị tổ nghề, như Tô Trung Tự nghề trồng Hoa (Vị Khê-Nam Trực),
Lê Công Hành (Hàng Thêu- thành phố Nam Định), Lục Vị tổ sư (Vân Chàng- Nam
Trực )
 Ở Miền Nam:
Đối tượng thờ tự có vài nét tương đồng như đối tượng thờ tự của miền bắc. Tuy
nhiên, theo sách “Việt Nam phong tục”, mỗi làng phụng sự một vị Thần hoàng; có
làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần. Phúc Thần có
ba hạng:
*Thượng đẳng thần là những thần danh sơn Đại xuyên, và các bậc thiên thần
như Đông thiên vương, Sóc thiên vương, Sử đồng tử, Liễu Hạnh công chúa Các
vị ấy có sự tích linh dị, mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiên
thần. Thứ nữa là các vị nhân thần như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo Các vị
này lúc sinh tiền có đại công lao với dân với nước; lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua
tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ. Các
bậc ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự
bao phong làm Thượng đẳng thần.
*Trung đẳng thần là những vị thần ân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ
công trạng; hoặc là có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút
linh vị, tới khi nhà vua sai tinh kỳ đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng
liệt vào tự điển, mà phong làm Trung đẳng thần.
*Hạ đẳng thần do dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng
cũng thuộc về bậc chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm
hạ đẳng thần.
Ngoài ba bậc thần ấy, còn nhiều nơi thờ các vị tạp thần khác, như: thần bán lợn,
thần trẻ con, thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết Các
hạng ấy gọi là tà thần, yêu thần, đê tiện thần vì dân tin bậy mà thờ chớ không được

hữu vu.
Về kiến trúc điêu khắc: Khi bước vào bên trong đình, không khí mát dịu làm ta
như trút bỏ vướng mắc của đời sống, chìm vào không gian tâm linh bao bọc xung
quanh để tĩnh trí mà chiêm bái trước đức Thành Hoàng làng, nhìn ngắm những
hình chạm khắc trên kiến trúc. Và ta hiểu rằng ngôi đình đang ôm vào bên trong,
thầm lặng giữ gìn một di sản nghệ thuật vô giá, mà đến ngày hôm nay nhìn ngắm
nó vẫn thấy hiển hiện, xôn xao đời sống xã hội mấy trăm năm về trước và để lại
những giá trị to lớn về văn hóa, lịch sử và nghệ thuật.
Nhìn một cách khái quát, nghệ thuật điêu khắc đình làng ở đồng bằng Bắc Bộ
phát triển từ những bước đầu tiên ở thế kỷ XVI, đạt dấu ấn rực rỡ đỉnh cao ở thế kỷ
XVII, chững lại, chín muồi ở thế kỷ XVIII và thoái trào ở thế kỷ XIX. Có thể nói,
8
giá trị nhiều mặt mà điêu khắc đình làng để lại tập trung ở di sản điêu khắc đình
làng thế kỷ XVI - XVII. Điêu khắc đình làng của 2 thế kỷ này đại diện điển hình
nhất cho toàn bộ nghệ thuật điêu khắc ở đồng bằng Bắc Bộ.
Các thủ pháp tạo hình của điêu khắc đình làng: Cái nhìn trẻ thơ, Đồng hiện,
Cường điệu, Nhiều điểm nhìn, Kết hợp huyền thoại và hiện thực, trang trí và tả
thực, Biểu tượng hóa.
Đặc trưng của nghệ thuật điêu khắc đình làng: Hồn nhiên, mộc mạc, sinh động
trong phản ánh hiện thực; Khái quát cao trong thủ pháp tạo hình; Giàu tính nhân
bản; Tính lưỡng nguyên trong nghệ thuật tạo hình,
 Ở miền Nam
Về vị trí xây đình làng: Do địa hình tương đối bằng phẳng, ít đồi núi, hệ thống
kênh rạch chằng chịt. Đình thường được xây cất trên những khu đất cao ráo. Về
sau, trong thời Pháp thuộc, nhiều đường bộ được làm ra, một số kênh rạch bị lấp đi
để làm đường bộ thì một số Đình cũng phải thay đổi chính diện cho phù hợp với
hoàn cảnh mới.
Về hướng xây đình: Người dân Miền Nam không hoàn toàn lệ thuộc vào truyền
thống chọn hướng Nam này. Ở Miền Nam, Đình thường được xây trên các khu đất
cao ráo, cạnh bờ kênh rạch, nên phần nhiều hướng theo dòng chảy của các kênh

và Tây Lang (bên trái) dành cho nam giới.
• Nhà Trù, thường xây ngay sau Chánh Điện, bên cạnh Nhà Túc, chính là nhà bếp,
nơi chuẩn bị thức ăn để cúng thần cũng như để đãi khách.
• Nhà Cối, bên cạnh Nhà Trù, chính là kho để chứa vật dụng của Đình.
Nhà Vỏ Ca là một ‘kiến trúc đặc biệt chỉ tồn tại các đình Nam Bộ’.
Trong Chánh Điện, ở giữa và trong cùng là bàn thờ thần. “Đình làng Nam
Bộ không bao giờ thờ tượng mà chỉ thờ một chữ “thần”. Và thần ở đây là thần
Thành Hoàng Bổn Cảnh, một danh xưng gọi chung có nghĩa là “Thành Hoàng của
vùng đất này”, không chỉ định một danh tánh cụ thể nào cả. Chính vì vậy mà Đình
Miền Nam thường không có thờ thần tượng như vừa nói ở trên.
Ngoài việc thờ vị Thần chánh (thường là Thành Hoàng Bổn Cảnh), các Đình
còn thờ rất nhiều vị thần linh phụ khác. Do đó, hai bên bàn thờ chánh còn có thêm
10
từ 4 đến 8 bàn thờ phụ. Hai bàn thờ sát ngay hai bên cạnh của bàn thờ chánh, gọi là
Tả ban và Hữu ban, là để thờ các vị thần hộ vệ cho Thành Hoàng.
Về nghệ thuật điêu khắc: Phần lớn chạm khắc gỗ này đã có từ giữa thế kỷ
XIX. Bốn cột đình thường được trang trí hình rồng, nên gọi là "long trụ". Nhiều
nơi, long trụ chạm rời bên ngoài ốp vào, nhưng cũng có nơi long trụ được trổ một
khối nguyên Ngoài những cột long trụ đình Nam Bộ thường có các bao lam trước
điện thờ, như cửa võng trong các đình miền Bắc, được chạm trổ rất tinh vi, đề tài
thường là tứ linh, cá hóa long, rồng, hổ
Như vậy, điêu khắc trang trí, cùng với kiến trúc đã làm cho đình có những
nét riêng trên chiều dài của đất nước.
2.4. Nghi lễ thờ Thành hoàng
Trong việc thờ cúng thần Hoàng làng thì cúng lễ là 1 điều quan trọng; không
có cúng lễ là không có sự phụng thờ. Tuy nhiên ở 2 miền Bắc – Nam cũng có
những nét riêng biệt trong lễ hội thờ Thành hoàng.
Phần lễ hội thờ Thành hoàng ở miền Nam được diễn ra vào những ngày nhất
định trong năm mà Thần tích đã quy định tuy nhiên ở miền Nam lại tùy vào hoàn
cảnh của từng địa phương mà thời gian tổ chức lễ hội thờ Thành hoàng nhưng

áo, mũ lên ngai.
- Rước thân: Khi mở hội, người ta rước thần từ đền ra đình. Khi kết thúc hội thì lại
rước thần về đền. Ở nhiều làng, người ta thờ Thành Hoàng làng ngay trong đình.
Trong ngày hội, người ta rước thần đi vòng quanh làng và quay về đình.
- Đại tế: Là lễ tế quan trọng nhất. Có một người đứng chủ trì lễ (chủ tế), còn gọi là
mạnh bái. Ngoài ra còn có hai hoặc bốn người bồi tế, hai người đồng xướng, hai
người nội tán, mười đến mười hai người chấp sự.
 Ở miền Nam:
Lễ Kỳ Yên: Lễ Kỳ yên có nghĩa là lễ cầu an, là lễ tế thần Thành Hoàng lớn nhất
trong năm của một ngôi đình thần ở Nam Bộ, Việt Nam.
Cúng Kỳ yên: mỗi làng (ở Nam Bộ) có dựng một ngôi đình, ngày cúng tế phải
chọn cho được ngày tốt, đến buổi chiều ngày ấy lớn nhỏ đều nhóm tại đình, họ ở
lại suốt đêm ấy, gọi là túc yết. Sáng ngày mai học trò lễ mặc áo, mão, gióng trống
khua chiêng làm lễ chánh tế, ngày sau nữa làm lễ dịch tế, gọi là đại đoàn, lễ xong
lui về
Hiện nay, lễ Kỳ yên cũng được tổ chức trong ba ngày, gồm nhiều lễ tế khá phức
tạp nhưng cũng khá bài bản, trong đó có ba lễ chính là: Túc yết, Đàn cả (quan
trọng nhất) và Lễ tế Tiền hiền, Hậu hiền. Tuy mỗi nơi có thể khác về giờ giấc, thứ
tự & chi tiết, nhưng thường thì các lễ được tiến hành đại để như sau:
Ngày thứ nhất
Có các lễ tế:
12
Lễ rước Tổ hát bội: Đến kỳ đáo lệ Kỳ yên (Đại lễ Kỳ yên), ngay từ sáng
sớm, Ban quí tế cử người bưng một khai gỗ có trầu, rượu, hương, đèn, tiền lễ; cùng
4 quân hầu cầm 4 món thuộc bộ Lỗ bộ và Ban nhạc lễ ra tận cổng để rước Tổ hát
bội vào đình, rồi đặt trang trọng sau hậu trường võ ca.
Lễ Thỉnh sắc: Sau khi an vị Tổ hát bội xong, một đám rước với đầy đủ
chiêng, trống, cờ, lộng, long đình cùng đội nhạc lễ, đội lân đi đến chỗ cất giữ sắc
thần (thường thì để ở trong một ngôi nhà kiên cố của một vị chức sắc có uy tín).
Đến nơi, người có trách nhiệm vào tế một tuần hương, ba tuần rượu, đọc một bài

hai bên võ ca cùng với ban nhạc lễ, các lễ sinh và đào thài (đào chuyên hát chúc
tụng) trong tư thế sẵn sàng. Rồi một lễ sinh bắt đầu xướng các nghi thức và các
hương chức được phân công tuần tự thực hiện những nghi thức như sau:
Củ sát tế phẩm: kiểm lại đồ cúng.
Tuần hương: dâng hương.
Tuần rượu thứ nhất: dâng rượu lần nhất.
Đọc văn tế chữ Hán: cầu nguyện thần Thành hoàng phù trợ sao cho mưa thuận gió
hoà, quốc thái dân an,
Tuần rượu thứ hai: dâng rượu lần hai.
Tuần rượu thứ ba: dâng rượu lần ba.
Hiến quả phẩm: dâng trái cây.
Hiến bỉnh: dâng bánh.
Tuần trà: dâng trà
Ẩm phước: giống như lễ "thụ tộ" miền Bắc, tức Ban tế tự được thừa hưởng
lễ vật đã dâng cúng, xem như đây như là lộc của thần ban.
Hóa văn tế: có nghĩa đốt văn tế. Có đình giữ đến xong lễ đoàn cả mới đốt.
Ở Đình Châu Phú, lễ Túc yết diễn ra vào lúc một giờ đêm ngày 11 tháng
Năm âm lịch (tức ngày thứ hai của đại lễ) Ban quản trị đình đã tề tựu đông đủ để
bắt đầu cúng túc yết. Chịu trách nhiệm chính ở buổi lễ cúng là ông Chánh tế - cũng
là trưởng ban quản trị đình. Lễ cúng gồm một mâm xôi, một trái cây, một mâm
trầu cau, một đĩa muối, gạo. Ngoài ra còn có những lễ vật khác do nhân dân mang
đến dâng cúng.
Bắt đầu vào lễ, ông Chánh tế đến dâng hương trước bàn thờ, rồi lần lượt các
thành viên trong Ban quản trị thay nhau vào lễ. Kế đến là phần "Khởi chinh cổ",
sau khi đánh ba hồi trống và ba hồi chiêng mõ. Ban nhạc lễ với các nhạc cụ dân tộc
bắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, chuốc tửu, tiệm trà bắt đầu Sau cùng, bản văn tế
(văn chúc) được mang đến trước bàn thờ. Người được cử quỳ xuống "đọc văn",
trong khi ban nhạc lễ trỗi nhạc phụ họa. Dứt bài văn tế, ông Chánh tế đốt bản văn
này và một ít giấy tiền vàng bạc, phần nghi thức lễ túc yết coi như đã xong.
Lễ Tỉnh sanh và lễ Đàn cả: Theo Sơn Nam thì Lễ Đàn Cả là quan trọng nhất.

này bắt nguồn từ quan niệm dịch lý của đạo Nho: thuận đạo trời (âm dương), an
đạo đất (nhu cương) và hòa đạo người (nhân nghĩa); ba đạo này có hòa hợp thì vạn
vật mới hanh thông, tốt đẹp.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, thì lễ Xây chầu vốn bắt nguồn từ Lễ Đại Bội
trong cung đình nhà Nguyễn. Đây là một cảnh diễn lớn, gồm nhiều tiết mục liên
hoàn nhằm thể hiện sự sinh thành vũ trụ và phát triển của vạn hữu. Bởi vậy, theo
Sơn Nam, Muốn ổn định thời tiết, trật tự xã hội, theo quan niệm xưa, phải tuân
15
theo sự vận hành của Trời Đất mà kim chỉ nam là Kinh Dịch với thuyết âm dương,
Bát quái, Ngũ hành. Việc Xây chầu chính là để nhắc nhở nguyên tắc ấy.
Như vậy trong phần lễ cúng thần Hoàng ở 2 miền Bắc – Nam có những sự khác
nhau rõ rệt ở số lượng lễ, thời gian diễn ra lễ, nghi thức cúng lễ. Ở miền Bắc có sự
phức tạp hơn trong sự chuẩn bị và các quan niệm về nghi lễ. Ở miền Nam việc
cúng lễ thần Thành hoàng diễn ra ngay tại làng mình tuy nhiên ở miền Bắc lại phải
diễn ra lễ rước Thành hoàng [Nếu nhiều làng cùng thờ một thành hoàng thì các
làng phụ thuộc (làng em) phải rước long ngai, bát bửu… từ làng mình về làng
chính (làng anh) để tế công đồng. Hết hội, dân làng lại rước thành hoàng từ đình về
đền] . Tuy nhiên về mặt trang trọng, trang nghiêm và sự chuẩn bị cho lễ ở các làng
đều tương tự nhau.
3.Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng đến đời sống dân cư
Trong tâm thức người dân quê Việt, Đức thành hoàng là vị thần tối linh, có
thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân
làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh.
Có thể cho rằng, thành hoàng chính là vị chỉ huy tối linh của làng xã không
chỉ về mặt tinh thần mà còn một phần về mặt đời sống sinh hoạt vật chất của dân
làng. Cho nên sự thờ phụng thành hoàng xét cho cùng là sự thờ phụng luật lệ làng
xã, lề thói gia phong của làng.
Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu việt, khiến cho
làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ.
Ngày nay, lễ hội làng đang phát triển mạnh mẽ và nở rộ ở khắp nơi. Tục thờ

để phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội ở từng làng ấp.
Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở miền Nam vốn tồn tại và phát huy trên cơ
sở tín ngưỡng vốn xuất phát từ miền Bắc, nhưng được thay đổi cho phù hợp với
hoàn cảnh, từ xuất thân nguồn gốc thần để thờ, đến việc chọn nơi thờ tự và nghi lễ
thờ cúng, cách thức tổ chức các trò chơi phần hội gắn liền với đời sống tín ngưỡng
từng làng xã.
17
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM SỐ 5
Thời gian: 14h00 ngày 26 tháng 10 năm 2014
Địa điểm: Khu nhà II, Kí Túc Xá Đại học Sư Phạm – ĐHĐN
Thành phần các thành viên của nhóm:
1. Nguyễn Văn Thuật
2. Bùi Lệ Thủy
3. Nguyễn Thị Quỳnh Thương
4. Huỳnh Thị Trang
5. Lê Thị Thanh Tâm
6. Nguyễn Ngọc Sơn
7. Mai Thị Thuận
8. Lê Thị Thu Thủy
9. Trần Thị Phương Thùy
10.Ngô Phi Tiên
Nội dung:
Diễn biến: trong quá trình thảo luận, nhóm đã phân chia mỗi bạn làm các công
việc cụ thể như sau:
1. Vài nét về tín ngưỡng thờ Thành hoàng: Nguyễn Ngọc Sơn, Mai Thị Thuận
2. Tín ngưỡng Thành hoàng ở hai miền Nam – Bắc: Huỳnh Thị Trang
2.1.Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở miền Bắc: Lê Thị Thanh Tâm, Lê Thị
Thu Thủy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status