I.Lý do lựa chọn đề tài:
Việt Nam tự hào là một đất nước có bề dày nghìn năm văn hiến đậm đà bản sắc
phương Đông với những phong tục tập quán thú vị trong đó có tập quán tín ngưỡng
thờ cúng. Nhắc đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng liêng hoá một nhân vật
được gửi gắm vào trong đó một niềm tin tưởng của con người. Quá trình ấy có thể là
quá trình huyền thoại hoá, lịch sử hoá nhân vật phụng thờ. Mặt khác, giữa các tín
ngưỡng đều có những nét văn hoá đan xen và trong từng tín ngưỡng đều có nhiều lớp
văn hoá lắng đọng.
Một trong những loại tín ngưỡng là tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng. Đây là một
loại hình tín ngưỡng có tự lâu đời, đã và đang ảnh hưởng không nhỏ trong tâm thức
người Việt và đặc biệt là trong công cuộc xây dựng và phát huy những nét văn hoá
truyền thống. Hoạt động tín ngưỡng Thành hoàng khá phổ biến đối với mỗi làng quê,
trong các vùng nông thôn Việt Nam.
Những năm gần đây, đất nước đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, hiện
tượng đô thị hóa xâm nhập các vùng nông thôn với nhiều mặt tích cực nhưng cũng
không ít mặt trái. Đáng kể nhất là những nét văn hóa cổ truyền đang ngày càng mai
một dần. Không ít những đền thờ /thành hoàng bị dỡ bỏ lấn chiếm để xây dựng các
nhà máy công nghiệp, dành chỗ cho các dự án, các công trình xây dựng
Trước sự phát triển và đô thị hóa của xã hội, những hoạt động tín ngưỡng hơn bao
giờ hết cần được Đảng và nhà nước tích cực tái tạo, phát triển rộng khắp các miền
quê. Vì thế, để duy trì và phát huy tín ngưỡng Thành hoàng làng cần có cái nhìn đầy
đủ về nó, trên cơ sở đó rút ra những mặt cần phát huy, những mặt cần hạn chế, nhằm
đóng góp thực hiện việc xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Do đó tôi lựa chọn đề tài: “Văn hóa tín ngưỡng thờ Thành hoàng khu vực nông thôn
đồng bằng Băc Bộ”
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng về tín ngưỡng thờ cúng Thành Hoàng của người dân đồng bằng
Bắc Bộ
Từ đó giúp cho các nhà quản lý văn hóa đưa ra các biện pháp củng cố và bảo tồn
những nét văn hóa đẹp trong tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng tại các vùng nôn thôn
đồng bằng Bắc Bộ nói riêng và nông thôn Việt Nam nói chung
đem lại những hệ quả tốt đẹp cho sự phát triển cấu trúc xã hội. Mà mặt khác, nó cũng
đem lại những sự tiêu cực, hể hiện qua sự loạn- phản chức năng. Ngoài ra, ông cũng
nhấn mạnh đến chức năng trội và chức năng lặn, trong đó thể hiện về ý nghĩa về việc
phân biệt về hai loại chức năng này đối với xã hội. Đặc biệt, ông cho rằng người
nghiên cứu không nên tin ngay vào những tuyên bố công khai về tác dụng, mục đích
của hiện tượng mà cần phải đi tìm hiểu xem thực tế ẩn chứa bên trong thì hiện tượng
có chức năng ra sao và làm thay đổi cấu trúc ra sao. Áp dụng lý thuyết này nó chỉ ra
được mối quan hệ giữa con người với xã hội một cách ổn định bền vững, được xem
như là nhu cầu lợi ích, sự tồn tại vận hành của cả một hệ thống mà ở đó nó tồn tại
một thực tế ẩn chứa bên trong các hiện tượng có chức năng ra sao và thay đổi cấu
truc như thế nào
2 .2 Lý thuyết hành vi của Hopmans và Moreno
Đại biểu cho lý thuyết này là hai nhà xã hội học người Mỹ Moreno(1892-1974)
và Hopmans(1910)
Với những người theo thuyết hành vi thì tất cả hay phần lớn hành vi của con
người đều được giải thích theo mô hình: (S) kích thích-phản ứng (R), và những phản
ứng này độc lấp với động cơ chủ quan của con người; tức là lý thuyết này không
quan tâm tới những tác động trong nội tâm con người, cái mà họ quan tâm chính là
những cái bộc lộ ra bên ngoài, là những hành vi của con người. Hành vi rời khỏi đất
nước mình để tới xứ người còn kéo theo hàng loạt các hành vi khác, có thể lệch
chuẩn hoặc không. Khi nghiên cứu những hành vi này thì không những nghiên cứu
những tác nhân bên trong mà còn coi trọng những biểu hiện bên ngoài. Dựa trên
1
Lê Ngọc Hùng- Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB KHXH, 2008, trang 242
cách tiếp cận này chúng ta có thể nghiên cứu những hành vi thực hiện hành vi thờ
cúng Thành Hoàng làng được phản ánh bằng niềm tin, tín ngưỡng thờ cúng
2.3 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý:
Con người luôn hành động vì có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các
nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đam con người là chủ thể quyết
định một cách hợp lý trong điều kiện khan hiếm nguồn lực. Trên cơ sở xem xét đánh
xem có tính tự trị, khép kín, độc lập, là một vương quốc nhỏ trong vương quốc lớn
nên mới có câu "Hương đảng, tiểu triều đình". Năm 1428, Lê Thái Tổ phân chia lãnh
thổ thành các đơn vị, gọi là tiểu xã, trung xã và đại xã. Thời nhà Lê đánh dấu việc
nhà nước tăng cường kiểm soát làng xã. Viên quan cai trị làng lúc đó gọi là "xã
quan". Năm 1467 thì bỏ "xã quan", thay bằng "xã trưởng"[1]. Viên chức này không
còn do triều đình bổ nhiệm nữa mà là do dân làng tuyển cử. Từ đó trở đi triều đình
chỉ kiểm soát từ cấp huyện trở lên còn xã được coi như tự trị. Xã trưởng đến triều
Minh Mệnh nhà Nguyễn thì đổi là "lý trưởng".
1.5 Nông thôn:
là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ mà người dân sống chủ yếu bằng nông
nghiệp. Một định nghĩa khác cho rằng nông thôn là những vùng dân cư chủ yếu sinh
sống bằng nông nghiệp hoặc có liên quan trực tiếp, gián tiếp đến nông nghiệp
2. Đặc điểm tín ngưỡng Thành hoàng làng:
2.1. Thành hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào
bao quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ,
bảo trợ cho cái thành[1]. Nhà văn Sơn Nam cho biết thêm: Ông thần ở đình làng gọi
là thần Thành hoàng, cai quản khu vực trong khung thành. Thoạt tiên là thần ngự trị
nơi thị tứ, sau áp dụng (cả) nơi thôn xóm, (vì) vẫn có điếm canh bố trí bao quanh
Cũng theo Sơn Nam, thần Thành hoàng, theo thông lệ, thờ thần đàn ông, vì khí
Dương đem sức mạnh cho muôn loài, muôn vật.[2]Và gọi ông Thần hoàng là sai
nghĩa, vì cái tên này chỉ là thứ nghi lễ đốt tờ giấy vàng, tức bản sao sắc phong do nhà
vua tặng cho cha mẹ, ông bà đã qua đời của quan chức cao cấp thời phong kiến; và
tục này ở trong Nam Bộ không có[3].
Bởi vậy, khi trích lại đoạn viết về tục "thờ thần" ở trong sách Việt Nam phong
tục của Phan Kế Bính, nhà văn Sơn Nam đã sửa từ "Thần hoàng" ra "Thành
hoàng"[4] cốt để người đọc không còn lầm lẫn giữa hai thứ. Tuy nhiên, xét trong sách
Việt Nam phong tục, lễ Thần hoàng được xếp vào mục Phong tục trong gia tộc; còn
việc thờ phụng Thần hoàng được xếp vào mục Phong tục hương đảng, thì rõ là tác giả
sách đã chỉ ra đó là hai thứ khác nhau.
Điểm đáng chú ý khác nữa, vì là vùng đất mới, nên ở Nam Bộ nhiều đình làng, thần
được đề cập lần đầu tiên ở bài Chuyện thần Tô Lịch trong sách Việt điện u linh[7]:
Thời Đường Mục Tông, niên hiệu Trường Khánh thứ 2 (năm 822) tên Đô hộ Lý
Nguyên Hỷ (hoặc Gia) thấy ngoài cửa bắc thành Long Biên có một dòng nước chảy
ngược mà địa thế khả quan, mới tìm khắp, chọn một nơi cao ráo tốt, để có dời phủ lỵ
đến đó Nhân dịp ấy, y mới giết trâu đặt rượu, mời khắp các vị kỳ lão hương thôn
đến dùng và thuật rõ là muốn tâu vua Tàu xin phụng Vương (ý nói đến thần sông Tô
Lịch) làm Thành Hoàng. Trên dưới đều đồng lòng Đến khi Cao Biền đắp thành Đại
La, nghe đủ sự linh dị, thì lập tức sắm lễ điện tế, dâng cho hiệu là Đô Phủ Thành
Hoàng Thần Quân. Đời Lý Thái Tổ lúc dời đô, thường mộng thấy một cụ đầu bạc,
phảng phất trước bệ rồng (Sau khi hỏi rõ lai lịch) nhà vua liền khiến quan Thái Chúc
(chức quan lo việc cầu đảo phúc lành) đưa rượu chè đến tế, phong làm Quốc Đô
Thăng Long Thành Hoàng Đại Vương. Dân cư (đến) cầu đảo hay thề nguyền điều
chi, thì lập tức họa phúc linh ứng ngay [8]
2.3 Các thứ hạng
` Cũng theo sách Việt Nam phong tục, thì mỗi làng phụng sự một vị Thần
hoàng; có làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần.
Phúc Thần có ba hạng:
Thượng đẳng thần là những thần danh sơn Đại xuyên, và các bậc thiên thần
như Đông thiên vương[9], Sóc thiên vương, Sử đồng tử[10], Liễu Hạnh công
chúa Các vị ấy có sự tích linh dị, mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi
là Thiên thần. Thứ nữa là các vị nhân thần như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng
Đạo Các vị này khi sanh tiền có đại công lao với dân với nước; lúc mất đi, hoặc bởi
nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ.
Các bực ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự
bao phong làm Thượng đẳng thần.
Trung đẳng thần là những vị thần ân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ
công trạng; hoặc là có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút linh
vị, tới khi nhà vua sai tinh kỳ đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào
tự điển, mà phong làm Trung đẳng thần.
Hạ đẳng thần do dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng
một vị thánh. Mỗi làng quê có một vị thánh của mình: “trống làng nào làng ấy đánh,
thánh làng nào làng ấy thờ” Vị thánh đó là vị có công với dân, với nước, có thể là
tướng lĩnh xông pha mặt trận, có thể là vị khai khoa của làng, có công khai hoang lập
ấp, có thể là vị được vua sắc phong và cũng có thể là vật thiêng, là đấng siêu nhiên
mà dân làng thờ phụng, thậm chí là yêu thần, tà thần như thần ăn trộm, thần ăn xin,
thần chết trôi
Như vậy, có thể thấy, thần linh không hẳn là các đối tượng trừu tượng, xa xôi
mà trái lại rất gần gũi với con người, cùng chung sống cộng đồng, và có khác chăng
là ở khả năng bảo vệ, bảo hộ cho dân làng khỏi những bất trắc của cuộc đời. Vì thế,
nhiều vị thần được dân chọn thờ và cũng có thể vị phế bỏ nếu thấy không đủ sự uy
nghiêm phù hộ độ trì cho họ nữa.
Thần Thành hoàng làng ở các làng quê được phụng thờ trong đình làng và
nghè (hay miếu tuỳ theo các gọi của từng địa phương).
Thành hoàng là nhân vật trung tâm của mọi sinh hoạt văn hoá mà dân các làng
quê cũng như nhà nghiên cứu văn hoá dân gian gọi là các lễ hội. Đó là ngày tưởng
niệm vị thánh của làng. Đối với mỗi người dân, thành hoàng làng là chỗ dựa tinh
thần, nơi gửi gắm niềm tin cho họ, giúp họ vượt qua những khó khăn của cuộc sống
đầy sóng gió.
Tìm hiểu tình hình thờ thành hoàng làng ở các vùng nông thôn thuộc tỉnh Bắc
Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Tây, Vĩnh
Phúc và một số làng ngoại thành Hà Nội, cho thấy việc thờ thành hoàng của nhiều
làng thực ra là thờ một sức mạnh tự nhiên nào đó (như thần sông, thần núi, thần sấm,
thần sét, thần mây, thần mưa). Trong số các vị thần này, nơi nào thờ loại thần gì là
tùy thuộc vào đặc điểm cư trú của làng đó. Chẳng hạn, những làng ở hai bên bờ các
con sông thường là thờ các vị thuỷ thần; những làng ở trên sườn núi thường thờ thần
núi. Căn cứ vào cuốn Trương tôn thần sự tích thì vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, ngoại
thành Hà Nội có đến 308 làng thờ thánh Tam Giang. Còn các làng miền núi của các
huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Hiệp Hòa, thì thờ thần núi (mà
trong thần tích thường gọi là Cao Sơn - Quý Minh Đại vương). Những vị thần này
được lịch sử hóa bằng cách điển hình hóa thành những vị anh hùng, mà sự nghiệp của
biệt và mồ côi sớm; có sức khỏe và có tài văn võ khác thường.
- Được nhà vua biết đến và được cử đi (hoặc xung phong) đi đánh giặc và giành được
chiến thắng; được nhà vua phong thưởng.
- Vị tướng đó sau khi thắng trận, về thăm quê hương, gặp gỡ các vị phụ lão, tặng
thưởng vàng bạc cho làng rồi hóa.
- Dân làng làm biểu tâu về triều đình. Triều đình cho lập đền thờ, cấp ruộng, để
dân làng bốn mùa cúng tế.
- Thành hoàng hiển thánh, giúp vị tướng trong những lần chống giặc sau đó và cuộc
chiến đấu nhờ đó giành thắng lợi.
- Các triều đại đều bao phong mỹ tự, ghi vào tự điển và phong là thượng đẳng
hay trung đẳng thần, tùy theo công trạng của thành hoàng.
Các bản Thần tích cũng không quên ghi việc tổ chức tế thành hoàng vào ngày nào, kỵ
húy chữ gì, kiêng cúng lễ vật gì, kiêng màu sắc gì
Một số bản Thần tích có những chi tiết khác đôi chút, nhưng nhìn chung, về cơ
bản, các Thần tích đều có chung cái cốt trên đây.
Về mặt văn bản, hầu như tất cả các bản Thần tích mà chúng tôi được đọc đều
thấy ghi là soạn thảo vào năm Hồng Phúc nguyên niên và được sao lục nhiều lần vào
cuối thời Lê và thời Nguyễn. Người soạn, sao lục Thần tích đều thấy ghi là Nguyễn
Bính hoặc Nguyễn Hiền, hoặc Lê Tung.
4. Như trong Thần tích đã ghi và từ kết quả thu được của những cuộc đi thực tế
về các làng cổ vùng đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình, chúng tôi được biết
rằng, ở thời kỳ đầu, thành hoàng được thờ ở đền (hay miếu). Sau này vị đó được thờ
cả ở đền và hậu cung đình làng. Vì là nơi thành hoàng ngự ở đó nên đền hay miếu và
hậu cung đình làng, không ai cũng có thể tự do đến được; mặt khác, việc thờ tự thành
hoàng là việc tối hệ trọng của làng, cần phải được thực hiện hàng ngày. Vì vậy, làng
phải có một người chuyên trách làm việc sự thần. Người đó là ông Đám (còn gọi là
cai Đám, quan Đám). Ông Đám được hưởng một số quyền lợi do làng quy định (như
được cấy một số diện tích ruộng để phục vụ việc thờ cúng thành hoàng, ) nhưng ông
ta cũng phải thực hiện một số điều kiêng kỵ hết sức chặt chẽ mà nếu vi phạm sẽ bị
làng phạt rất nghiêm khắc (như trong suốt thời gian làm ông Đám, người đó không
thành hoàng. Nếu nhiều làng cùng thờ một thành hoàng thì các làng phụ thuộc (làng
em) phải rước long ngai, bát bửu từ làng mình về làng chính (làng anh) để tế công
đồng. Hết hội, dân làng lại rước thành hoàng từ đình về đền. Sở dĩ có hai cuộc rước là
vì thành hoàng được thờ chính là ở đền, còn đình chỉ là nơi thờ vọng. Để ly kỳ hoá sự
linh thiêng của thành hoàng làng mình, làng nào cũng có những truyền thuyết về sự
khác thường của thời tiết hôm đó (chẳng hạn như: các làngxung quanh hôm đó đều có
mưa - hay nắng to, chỉ duy có đám rước là trời dâm mát), hoặc sự quở phạt của thành
hoàng đối với những ai dám có hành vi xúc phạm hay báng bổ ngài (chẳng hạn: có ai
đó trong người không sạch sẽ đi trong đám rước, bỗng nhiên bị lăn ra bất tỉnh, hoặc ai
đó chỉ trỏ, chê bai một chi biết, một nghi lễ nào đó liền bị hộc máu mồm ).
Nghi lễ tế thành hoàng của làng là cả một chuỗi những quy định rất chặt chẽ của làng,
từ khâu chọn người chủ tế, bồi tế, đông xướng, tây xướng, cho đến các động tác, cử
chỉ, y phục, của những người được tham gia cuộc tế và tuần tự các động tác của
những ngưồi này trong cuộc tế. Làng cũng quy định trong cuộc tế, bắt đầu từ tiết mục
“Khởi chinh cổ” cho đến “Tế tất” có bao nhiêu động tác, vị đông xướng xướng câu
gì, vị chủ tế xướng câu gì, mỗi chức danh trong cuộc tế đứng ở đâu, Tất cả những
điều này đều được ghi chép tỷ mỷ trong điển lễ của làng.
7. Sau nghi lễ rước và tế thành hoàng là các cuộc thi, trò diễn, trò chơi dân
gian. Các cuộc thi, trò diễn, trò chơi dân gian trong lễ hội bao giờ cũng có nội dung
mô tả lại sự tích hay chiến tích của thành hoàng. Địa điểm diễn ra các cuộc rước, tế
và các trò diễn là đình và đền (hoặc miếu) của làng.
Mở đầu cho các cuộc thi là cuộc thi đọc Mục lục. Bài văn Mục lục có nội dung
ca ngợi cuộc sống hòa mục và sự yêu nghề, sung túc của tứ dân, ca ngợi cảnh đẹp của
làng và ngôi đình làng, được trình bày bằng thể phú, viết trên miếng lụa vàng đặt trên
giá gỗ, trước hương án đình. Người dự thi đọc Mục lục phải ăn mặc chỉnh tề, có
giọng tốt, biết ngừng, ngắt, lên giọng, xuống giọng đúng chỗ, đọc không vấp, không
lỗi. Ban Giám khảo cuộc thi là những bô lão và những vị túc nho của làng. Tìm hiểu
thực tế các làng cổ của tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi thấy rằng làng nào cũng có văn Mục
lục và bài văn Mục lục của các làng có nội dung và kết cấu rất giống nhau, chỉ có độ
dài, ngắn là có khác nhau một chút. Như vậy, việc viết văn Mục lục và thi đọc văn
đối (đối từ, đối ý, đối thanh) của các câu đối trong các ngôi đình, đền thờ thành hoàng
thực sự có giá trị văn học và có thể xếp chúng vào bộ môn văn học dân gian. Vì sao?
Vì mấy lẽ sau:
Một là, trong những lần đi thực tế về các làng cổ vùng đồng bằng châu thổ
sông Hồng và sông Thái Bình, chúng tôi được đọc gần 1000 câu đối trong các ngôi
đình, đền thì thấy tất cả những đôi câu đối và những bức hoành phi đó đều có nội
dung ca ngợi, đề cao đức độ, công trạng của vị thành hoàng làng hoặc là ca ngợi vẻ
đẹp về mặt phong thuỷ của ngôi đình làng.
Hai là, mặc dù những đôi câu đối đó được các bậc đại khoa, các nhà nho viết ra
bằng chữ Hán (hoặc chữ Nôm), dù họ viết theo lối triện, lệ, khải, hành hay thảo, dưới
dạng đối thơ hay đối phú, nhưng tất cả đều chỉ được lưu ở đình hay đền làng đó mà
không chuyển hoành phi câu đối từ làng này sang làng khác và cũng không bao giờ
phổ biến một cách rộng rãi.
Ba là, sáng tác câu đối và viết hoành phi không phải là công việc thường xuyên
có tính chuyên nghiệp của nhà nho mà đó chỉ là công việc làm do sự nhờ cậy của
làng hay của cá nhân ai đó.
9. Cũng xuất phát từ tín ngưỡng thờ thành hoàng mà ở một số làng vùng đồng
bằng sông Hồng và sông Thái Bình có những câu thành ngữ và ca dao có liên quan
đến thành hoàng và ngôi đình làng. Xin đơn cử một số câu tương đối phổ biến.
- Chuông làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ. - Thứ nhất Văn
Thai Thứ hai Ngọc Trì
- Trống Chờ, chuông Chõ, Mõ Phù Lưu. - Thứ nhất là đình Đông Khang, Thứ
nhì Đình Bảng, vẻ vang đình Diềm. - Ra đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu
ngói thương tình bấy nhiêu.
Điều này cũng cho chúng ta biết thêm rằng, ngoài nguồn gốc từ lao động sản xuất và
đấu tranh với các lực lượng tự nhiên, ca dao - tục ngữ còn được bắt nguồn từ vẻ đẹp
của làng quê, trong đó có vẻ đẹp của ngôi đình làng.
10. Quan sát những bức chạm khắc trong các chi tiết kiến trúc của những ngôi
đình, đền cổ vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây ai cũng thấy những tác phẩm điêu
khắc của các nghệ nhân dân gian mô tả hình tượng con rồng trên bờ nóc dình, trên
một thời gian dài do chiến tranh. Không ít những đình làng, miếu thờ có giá trị về
mặt kiến trúc nghệ thuật, đã bị phá huỷ và hàng loạt các Thần tích, sắc phong bị thất
lạc, các hoạt động tín ngưỡng Thành hoàng bị lãng quên.
Trong những năm gần đây, hàng loạt các ngôi đình được xây dựng lại, được
Nhà nước công nhận, xếp hạng. Các lễ hội được mở lại. Thực tế, việc tái tạo hoạt
động tín ngưỡng Thành hoàng ngày nay trở nên phổ biến ở khắp các làng quê. Các
hoạt động này như sợi dây gắn kết cộng đồng với nhau, góp phần gìn giữ và phát huy
các giá trị văn hoá truyền thống. Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều vấn đề phức tạp
nảy sinh như hiện tượng “buôn thần, bán thánh”, thương mại hoá văn hoá, xây dựng
các khu di tích nhằm trục lợi, tranh giành khách thăm quan như ở Chùa Hương Hà
Tây, một số khu di tích tái tạo lại sự tích Thần thành hoàng hoàn toàn sai lạc hoặc
“râu ông nọ cắm cằm bà kia” nhằm mục đích được xếp hạng hay thu lợi
Thành hoàng làng được tôn vinh là đại diện tinh thần của làng xóm, luôn phù
hộ, giúp đỡ, che chở dân làng. Trong chừng mực nào đó, Thần thành hoàng được coi
là Tổ tiên của làng xóm. Ngày nay, không ít địa phương còn tôn vinh các danh nhân
thời hiện đại trở thành Thần thành hoàng làng như có nơi tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí
Minh làm vị Đức thánh Tối thượng, tôn vinh các anh hùng liệt sỹ được thờ cúng theo
phong tục thờ cúng Thần hoàng làng như ở Hải Dương, Hải Phòng
Một xu hướng nữa nảy sinh đó là thanh niên hiện nay đang giảm dần đức tin
đối với đấng siêu nhiên. Do vậy nhiều việc làng hiện nay không được thanh niên
quan tâm mà chủ yếu là do các cụ lão làng đảm nhận. Điều đó một phần thể hiện sự
phát triển của khoa học kỹ thuật, nâng cao dân trí nhưng nó cũng thể hiện sự thờ ơ
của thế hệ trẻ đối với các hoạt động tín ngưỡng này.
IIII. Ý nghĩa của tín ngưỡng Thành hoàng làng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay.
Tín ngưỡng Thành hoàng làng ở Việt Nam ngày nay được tái tạo rộng khắp và
mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Trước hết đó là việc thờ cúng tôn nghiêm của tín
ngưỡng thờ Thần thành hoàng đã phát huy được truyền thống đạo đức, lễ nghĩa, tôn
ti, trật tự. Dù dân làng có đi đâu, ở đâu, làm gì đều hướng về làng xã trong các ngày
lễ hội, dịp tế lễ Thần làng. Cũng từ đó, nhằm giúp con người nhất là thế hệ thanh niên
được đặt trong khuôn khổ của pháp luật hiện hành.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cơ sở văn hoá Việt nam. Trần Quốc Vượng chủ biên- NXB Giáo Dục
Việt Nam phong tục. Phan Kế Bính- NXB Hà Nội (tái bản ) Hà Nội 1999
Nguyễn Đức Lữ (chủ biên): Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt nam, học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,2000.
Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng Thành hoàng làng Việt nam, NXB Khoa học xã hội-
1996.
- Toan Anh. Tín ngưỡng Việt Nam, T. 1 và 2. NXB Văn nghệ TP HCM,
TPHCM, 2000.
- Phan Kế Bính.Việt Nam phong tục (tái bản),NXB TP.HCM, TPHCM, 1995.
- Lê Như Hoa (chủ biên). Tín ngưỡng Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, H.,
2001.
- Nguyễn Duy Hinh. Tín ngưỡng thành hoàng, NXB Khoa học xã hội, H., 1996.
- Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, TP HCM, 1999.
- Nguyễn Minh San. Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, NXB Văn hóa dân
tộc, H., 1998.
- Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên). Về tôn giáo-tín ngưỡng Việt Nam hiện nay ,
NXB Khoa học xã hội, N., 1996.
TRÍCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
101 Điều cần biết về Tín ngưỡng và Phong tục Việt Nam
TG: Trương Thìn
NXB Hà Nội
Tuyệt đại đa số nhân dân ta có truyền thống sinh hoạt tín ngưỡng lâu đời. Mỗi
dân tộc anh em đều có những hình thức tín ngưỡng mang nét đặc sắc riêng của mình.
Tag:
Truyền thống này còn gắn bó chặt chẽ với các sinh hoạt văn hoá mang đậm bản
sắc dân tộc qua các nghi lễ thờ cúng, phong tục tập quán và lễ hội dân gian trên khắp
mọi miền đất nuớc.
Chúng ta đều biết, phong tục tập quán là lề lối và thói quen lâu đời của mỗi dân
tục tập quán và vị trí của nó trong nền văn hoá nước nhà, thì phải coi văn hoá dân tộc
là tài sản vô giá, là tài nguyên cho sự phát triển đất nước.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã nói: “Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam
ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường như nhiều nước khác. Nếu tôn giáo là
thờ cúng, thì mọi người đều thờ cúng ông bà, thờ cúng Tổ tiên, làng thì thờ Thành
hoàng và các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ các ngành nghề, các danh nhân văn
hoá”.
Dường như trên đất nước ta, dân tộc ta, từ xưa đến nay thế giới trần tục và thế
giới vô hình hoà quyện và nhau. Con người “uống nước nhớ nguồn”, tưởng niệm
người đã khuất, thờ cúng Tổ tiên như là một tôn giáo chính.
Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên rất giản dị: tin rằng Tổ tiên mình là thiêng liêng, họ
đi vào õi vĩnh hằng nhưng vẫn sống cạnh con cháu, họ phù hộ cho con cháu khi gặp
tai ách rủi ro; vui mừng khi con cháu gặp may, khuyến khích con cháu khi gặp điều
lành và cũng quở trách (mà không trừng phạt) con cháu khi làm điều ác.
Trước khi đạo phât du nhập vào Việt Nam thì người Việt đã có tín ngưỡng thờ
Thành hoàng làng. Thành hoàng được thờ trong các đình làng. Thành hoàng là đại
biểu tinh thần cho cả làng. Làng nào cũng có một ngôi đình, và đình đã trở thành địa
điểm thiêng liêng của cả cộng đồng.
Đạo phật khi truyền vào một nước nào, miền nào cũng đã thích ứng ngay với
phong tục tập quán của địa phương và những tín ngưỡng dân gian “Phật hoá” và “hoá
phật” ngay ở giai đoạn đầu tiên và trong suốt quá trình ở Việt Nam – một nước nông
nghiệp, người ta tôn thờ những hiện tượng tự nhiên như: mây, mưa, sấm, chớp. Nên
khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, người ta đã lấy ngay các vị thần đặt cho chùa
thành: Pháp Vân, Pháp vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện: hay Điện Mẫu được tồn tại và phát
triển ngay trong phạm vi nhà chùa.
Do thích ứng với tín ngưỡng bản địa, với việc thờ cúng Tổ tiên nên trong chùa
cũng có các tượng Thành hoàng hoặc anh hùng dân tộc nhu Đức Thánh Trần ở nhà
hậu đường. Vì vậy, nhiều chùa thờ Phật thường có dạng “Tiền Phật hậu Thánh”,
“Tiền Phật hậu Mẫu”. Người dân Việt đi chùa lễ phật vừa cúng Mộu vừa cúng
Thánh.
sắc vua phong (trừ những tà thần, yêu thần ) luôn luôn tượng trưng cho làng xã mà
mình cai quản là biểu hiện của lịch sử, của đạo đức, phong tục, pháp luật cũng như hy
vọng sống của cả làng. Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu
việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ.
Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị thành hoàng thành ba bậc: Thượng
đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tuỳ theo sự tích và công trạng của các
vị thần đối với nước với dân, với làng xã. Các vị thần cũng được xét đưa từ thứ vị nọ
lên thứ vị kia, nếu trong thời gian cai quản các vị này đã phù hộ, giúp đỡ được nhiều
cho đời sống vật chất và tâm linh của dân chúng. Việc thăng phong các vị thành
hoàng căn cứ vào sớ tâu của làng xã về công trạng của các vị thần. Sớ này phải nộp
về triều đình trong một thời gian quy định. Mỗi lần thăng phong triều đình đều gửi
sắc vua ban rất linh đình và cất nó trong hòm sắc thờ ở hậu cung đình làng.
Thành hoàng cũng được gọi là phúc thần, tức vị thần ban phúc cho dân làng, thường
mỗi làng thờ một thành hoàng, xong cũng có khi một làng thờ hai, ba hoặc hai ba
làng thờ một vị. Thành hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tuỳ sự tích mỗi làng.
Đình làng là nơi thờ phụng thành hoàng và trở thành một biểu tượng văn hoá tâm linh
của mỗi người dân quê Việt. Làng nào cũng có đình, có khi mỗi thôn lại có một đình
riêng. Đình để thờ thành hoàng nhưng đồng thời cũng trở thành nơi hội họp của chức
sắc trong làng, hay là nơi sinh hoạt của cộng đồng làng xã. Mọi hoạt động này đều
xảy ra ở đình với sự chứng kiến của thành hoàng.
Trong tâm thức người dân quê Việt, Đức thành hoàng là vị thần tối linh, có thể bao
quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn
phát đạt, khoẻ mạnh. Các thế hệ dân cứ tiếp tục sinh sôi nhưng thành hoàng thì còn
mãi, trở thành một chứng tích không thể phủ nhận được của một làng qua những cơn
chìm nổi.
Có thể cho rằng, thành hoàng chính là vị chỉ huy tối linh của làng xã không chỉ về
mặt tinh thần mà còn một phần về mặt đời sống sinh hoạt vật chất của dân làng. Cho
nên sự thờ phụng thành hoàng xét cho cùng là sự thờ phụng luật lệ làng xã, lề thói gia
phong của làng.
Chính sự thờ phụng này là sợi dây liên lạc vô hình, giúp dân làng đoàn kết, nếp sống
các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành
hoàng sống.
Tương truyền rằng, khoảng năm 1938 đến năm 1940 của thế kỷ XX, ở xóm Dinh Thị
xã Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc có ông Nguyễn Đình Cận làm nghề nuôi dê lấy sữa. Hàng
ngày ông dẫn đàn dê đến chăn ở khu đồi làng Khai Quang. Mỗi lần ông đi qua đình
làng thì ngai thờ Thành hoàng đổ nhào về phía trước. Nhiều lần như vậy, ông Thủ Từ
lấy làm lạ nên chú ý đến chuyện không bình thường này. Ông thấy, cứ mỗi lần ông
Cận đi qua đình là ngai thờ Thành hoàng đều bị đổ. Ông trình bày đầu đuôi mọi sự
với hương chức làng. Hương chức cùng các vị bô lão họp bàn, làm lễ khấn xin thần
linh báo mộng để dân làng biết lý do việc ngai của thành hoàng đổ. Thần linh báo
mộng rằng: Thành hoàng cũ Thượng đế chuyển sang làm việc khác và chỉ định ông
Nguyễn Đình Cận thay thế. Sau đó, làng làm lễ đón ông Cận về thờ.
Thời xưa, các thành hoàng được vua sắc phong (trừ những tà thần, yêu thần ) thành
ba bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tuỳ theo sự tích và
công trạng của các vị thần đối với nước với dân, với làng xã, biểu hiện của lịch sử,
đạo đức, phong tục, pháp luật cũng như hy vọng sống của cả làng.
Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu việt, khiến cho làng quê
trở thành một hệ thống chặt chẽ.
Chính sự thờ phụng này là sợi dây liên lạc vô hình, giúp dân làng đoàn kết, nếp sống
cộng cảm hoà đồng, đất nề quê thói được bảo tồn. Vì lẽ đó, các hương chức cũng như
các gia đình trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc gì đều phải có lễ
cúng thành hoàng để xin phép trước. Dường như sự ngưỡng mộ thành hoàng của
người dân không kém gì sự ngưỡng mộ đối với tổ tiên của họ.
Hàng năm, ngày giỗ Thành hoàng là ngày hội đông vui nhất của làng, của phố. Trong
những ngày hội, ngoài việc làm cỗ, ăn uống còn rất nhiều nghi lễ như diễn lại sự tích
về Thành hoàng, tế lễ, rước kiệu hay các trò vui: đấu võ, chọi gà, thổi cơm thi, bơi
chải, đánh đu, đánh cờ người, hát chèo, diễn tuồng Không khí vui vẻ cả ngày lẫn
đêm (có nơi hai, ba ngày), từ các lão ông, lão bà đến mỗi cháu bé, và chờ đợi nhất,
vui nhất là những trai gái đương lứa, đây là dịp để gặp gỡ, kết bạn, tỏ tình.
Các thế hệ dân cứ tiếp tục sinh sôi nhưng Thành hoàng thì còn mãi, trở thành một
độc lập của dân tộc. Thời Lý-Trần (từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIV) là thời kỳ
cực thịnh của Phật giáo ở Việt Nam. Vua Trần Nhân Tông là người sáng lập ra Thiền
phái Trúc lâm Yên tử mang bản sắc Việt Nam với tinh thần sáng tạo, dung hợp và
nhập thế. Phật giáo Nam Tông truyền vào phía nam của Việt Nam từ thế kỷ IV sau
Công nguyên. Tín đồ Phật giáo Nam Tông chủ yếu là đồng bào Khơ-me, tập trung ở
đồng bằng sông Cửu Long nên gọi là Phật giáo Nam Tông Khơ-me. Phật giáo hiện
nay ở Việt Nam có khoảng 10 triệu tín đồ, gần 17.000 cơ sở thờ tự, khoảng 40.000
tăng ni và 36 trường đào tạo các chức sắc tôn giáo.
Công giáo: Nhiều nhà nghiên cứu sử học Công giáo lấy năm 1533 là thời mốc đánh
dấu việc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam. Từ năm 1533 đến năm 1614, chủ yếu
là các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô thuộc Bồ Đào Nha và dòng Đa minh thuộc Tây Ban
Nha đi theo những thuyền buôn vào Việt Nam. Từ năm 1615 đến năm 1665, các giáo
sĩ dòng Tên thuộc Bồ Đào Nha từ Ma-cao (Macau, Trung Quốc) vào Việt Nam hoạt
động ở cả Đàng Trong (nam sông Gianh), Đàng Ngoài (bắc sông Gianh). Đến nay,
Giáo hội Công giáo ở Việt Nam có 26 giáo phận, khoảng 6 triệu tín đồ, 6.270 cơ sở
thờ tự, 19.000 chức sắc, 06 Đại chủng viện và 02 cơ sở II đào tạo các chức sắc tôn
giáo.
Tin Lành: Đạo Tin lành có mặt tại Việt Nam muộn hơn so với các tôn giáo du nhập
từ bên ngoài, vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, do tổ chức Liên hiệp Phúc
âm Truyền giáo (The Christian and Missionary Alliance-CMA) truyền vào. Năm
1911 được xem là thời mốc xác nhận việc truyền đạo Tin lành vào Việt Nam. Hiện
đạo Tin Lành có trên 1 triệu tín đồ, 500 chức sắc, 300 cơ sở thờ tự, 01 Viện Thánh
kinh thần học.
Đạo Hồi: Ở Việt Nam, tín đồ đạo Hồi chủ yếu là người Chăm. Theo tư liệu lịch sử,
người Chăm đã biết đến đạo Hồi từ thế kỷ X-XI. Có hai khối người Chăm theo đạo
Hồi: một là, khối người Chăm theo đạo Hồi ở Ninh Thuận, Bình Thuận là khối Hồi
giáo cũ hay còn gọi là Chăm Bà-ni; hai là, khối người Chăm theo đạo Hồi ở Châu
Đốc (An Giang), thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai là khối đạo Hồi mới
hay còn gọi là Chăm Islam. Hiện nay Đạo Hồi ở Việt Nam có khoảng 72.000 tín đồ,
79 cơ sở thờ tự, 700 vị chức sắc.
khoảng 20 triệu tín đồ của 12 tôn giáo và 30 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công
nhận, 83.368 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và 25.331 cơ sở thờ tự tôn giáo, ngoài
ra còn có hàng vạn cơ sở tín ngưỡng dân gian.
Tín đồ tôn giáo hoàn toàn tự do trong việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo, bày tỏ và
thực hành đức tin tôn giáo của mình. Chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo được tự do
trong việc thực hành các hoạt động tôn giáo theo giáo luật. Việc phong chức, bổ
nhiệm, thuyên chuyển chức sắc được thực hiện theo quy định của giáo hội. Các tổ
chức tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân trong những năm qua đều có sự
phát triển về số lượng cơ sở giáo hội, về tín đồ, chức sắc nhà tu hành, về việc xây
dựng mới hoặc tu bổ các cơ sở thờ tự, bảo đảm kinh sách, các hoạt động tôn giáo theo
hiến chương, điều lệ và giáo lý, giáo luật. Các chức sắc, nhà tu hành được tham gia
học tập, đào tạo ở trong nước và nước ngoài hoặc tham gia các sinh hoạt tôn giáo ở
nước ngoài. Nhiều tổ chức tôn giáo nước ngoài đã vào giao lưu với các tổ chức tôn
giáo Việt Nam.
Từ ngày 13-17/5/2008, Việt Nam đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp
quốc 2008 tại Hà Nội với sự tham gia của gần 4.000 đại biểu chính thức trong đó có
gần 2.000 đại biểu đến từ 74 quốc gia, vùng lãnh thổ và hơn 200 Việt Kiều từ các
châu lục; Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới lần
thứ VI vào năm 2010 tại Hà Nội.
Các ấn phẩm tôn giáo: Việc in kinh sách và xuất bản các ấn phẩm khác liên quan đến
tôn giáo được duy trì thường xuyên, bảo đảm phục vụ yêu cầu hoạt động tôn giáo tại
Việt Nam. Năm 2008, Nhà xuất bản Tôn giáo đã xuất bản 613 đầu sách với
1.768.000 bản in và 251 ấn phẩm tôn giáo với 297.200 bản. Hiện nay các tổ chức tôn
giáo ở Việt Nam đã có các báo như: Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Báo Giác ngộ của
Phật giáo; Tập san Hiệp thông, Báo Người Công giáo Việt Nam, Báo Công giáo và
Dân tộc của Công giáo; Tạp văn Hương sen của Phật giáo Hòa Hảo; Bản tin Mục vụ
và Bản tin Thông công của Tin lành…
Tạo bởi admin
Cập nhật 05-01-2010