Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng em.
Những số liệu, kết quả ghi trong bài luận là trung thực, xuất phát từ tình hình
thực tế tại Công ty trách nhiệm hữu hạn BMG Việt Nam.
Sinh viên
Hoàng Thị Vân
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
1
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
MỤC LỤC
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
2
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Diễn giải
1 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
2 DN Doanh nghiệp
3 QĐ Quyết định
4 TK Tài khoản
5 DT Doanh thu
6 CP Chi phí
7 GVHB Giá vốn hàng bán
8 TNDN Thu nhập doanh nghiệp
9 HĐKD Hoạt động kinh doanh
10 VAT Thuế giá trị gia tăng
11 GTGT Giá trị gia tăng
có hiệu quả.
Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán bán hàng và xác định kết
quả kinh doanh, qua quá trình học tập và tìm hiểu thực tế tại công ty TNHH
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
4
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
BMG Việt Nam,em chọn đã chọn đề tài: “Kế toán bán hàng và xác định kết
quả kinh doanh tại Công ty TNHH BMG Việt Nam”.
Nội dung luận văn gồm 3 phần được chia thành từng chương cụ thể sau:
Chương 1: Lí luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
tại các doanh nghiệp thương mại.
Chương 2: Thực tế kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công
ty TNHH BMG Việt Nam.
Chương 3: Nhận xét, đánh giá và một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán bán
hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH BMG Việt Nam.
Để hoàn thành bài luận văn này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân,
em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Kế toán, bộ môn
Kế toán doanh nghiệp đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho em những kiến thức
cơ bản nhất, là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện luận văn này. Đặc biệt em
xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Bạch Dương -
người đã hướng dẫn tận tình để em hoàn thành đề tài này với kết quả tốt nhất.
Ngoài ra em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của các
anh/chị thuộc phòng tài chính, kế toán của Công ty TNHH BMG Việt Nam.
Mặc dù có nhiều cố gắng song thời gian thực tế chưa nhiều nên khó có
thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự bổ sung của các
thầy, các cô để bài luận của em hoàn thiện hơn.
Sinh viên
Hoàng Thị Vân
nghiệp) mất quyền sở hữu về hàng hoá và được quyền sở hữu về tiền tệ.
Người mua (khách hàng) được quyền sở hữu về hàng hoá, mất quyền sỡ hữu
về tiền tệ hay có nghĩa vụ phải trả tiền cho người bán.
- Xét về hành vi: Hoạt động bán hàng diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa người
bán và người mua, người bán chấp nhận bán và xuất giao hàng; người mua
chấp nhận mua và trả tiền hay chấp nhận trả tiền.
- Xét về quá trình vận động của vốn: trong hoạt động bán hàng, vốn kinh doanh
chuyển từ hình thái hiện vật( hàng hoá) sang hình thái tiền tệ.
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
7
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
∗ Quá trình bán hàng: chính là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn hàng
hóa sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán và hình thái kết quả
bán hàng. Việc đẩy nhanh quá trình bán hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn
chu kì sản xuất kinh doanh, tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.Có thể chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Người bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết để xuất giao
sản phẩm, hàng hóa cho người mua. Giai đoạn này phản ánh một mặt của quá
trình vận động lưu thông hàng hóa.
- Giai đoạn 2: Khi khách hàng thanh toán. Doanh nghiệp có thể bù đắp chi phí
phát sinh và hình thành kết quả bán hàng, lúc này quá trình bán hàng được
hoàn thành.
∗ Tóm lại quá trình bán hàng trong doanh nghiệp có những đặc điểm:
- Có sự thỏa thuận giữa người mua và người bán về số lượng, chất lượng, quy
cách bán hàng.
- Có sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hóa từ người bán sang
người mua.
- Người bán giao cho người mua một lượng hàng hóa và nhận được tiền hoặc
Kết quả khác = Thu nhập khác - Chi phí khác
Như vậy, bán hàng và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mục
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
Kết quả
hoạt
động
kinh
doanh
thông
thường
Chi phí bán
hàng và chi phí
quản lí doanh
nghiệp
Chi
phí tài
chính
Doanh
thu
hoạt
động
tài
chính
Trị
giá
vốn
hàng
doanh cung cấp, đối tác của doanh nghiệp biết được khả năng tiêu thụ các mặt
hàng của doanh nghiệp trên thị trường, nắm được kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp để từ đó quyết định đầu tư hay cho vay vốn, mở rộng hợp tác
kinh doanh.
1.1.3. YÊU CẦU QUẢN LÍ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
10
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
∗ Xuất phát từ vai trò của công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh,
các doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt yêu cầu quản lý công tác bán hàng và
xác định kết quả kinh doanh.
∗ Việc quản lý này cần bám sát các yêu cầu cơ bản sau:
- Quản lý sự vận động và số hiện có của từng loại hàng hóa theo chỉ tiêu số
lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị của chúng.
- Quản lý chất lượng, cải tiến mẫu mã và xây dựng thương hiệu sản phẩm là
mục tiêu cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
- Tìm hiểu khai thác, mở rộng thị trường
- Áp dụng các phương thức bán hàng phù hợp và có các chính sách sau bán
hàng “ hậu mãi” nhằm không ngừng tăng doanh thu, giảm chi phí của các
hoạt động.
- Quản lý chặt chẽ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các chi
phí hoạt động khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
∗ Để quản lý tốt công tác bán hàng là rất khó, các doanh nghiệp cần phải quan
tâm đầy đủ các khía cạnh của bán hàng. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải có
những công cụ quản lý hữu hiệu. Trong những công cụ quản lý đó thì kế toán
được sử dụng như là một công cụ đắc lực của các doanh nghiệp.
1.1.4. NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
- Xác định đúng thời điểm hàng hoá được coi là bán để kịp thời lập báo cáo bán
hàng và phản ánh doanh thu. Báo cáo thường xuyên kịp thời tình hình bán
hàng và thanh toán với khách hàng chi tiết theo từng loại, từng hợp đồng kinh
tế nhằm giám sát chặt chẽ hàng bán về số lượng, chất lượng, thời gian…Đôn
đốc việc thu tiền khách hàng nộp về quỹ.
- Tổ chức hạch toán chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển chứng từ hợp lí.
Các chứng từ ban đầu phải đầy đủ, hợp pháp, luân chuyển khoa học, hợp lí
không quá phức tạp mà vẫn đảm bảo yêu cầu quản lí, nâng cao hiệu quả công
tác kế toán.
- Xác định đúng giá vốn hàng bán và tập hợp đầy đủ chi phí bán hàng, chi phí
quản lí doanh nghiệp và kết chuyển chi phí để xác định kết quả kinh doanh
chính xác.
- Sử dụng phương pháp tổng hợp cân đối kế toán để phản ánh mối quan hệ cân
đối vốn có giữa chi phí, thu nhập và kết quả.
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
12
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Thực hiện tốt các yêu cầu trên góp phần đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ, nâng
cao hiệu quả hoạt động, thu lợi nhuận cao, đồng thời đáp ứng đầy đủ và kịp
thời nhu cầu thông tin cho các đối tượng.
1.2. KẾ TOÁN BÁN HÀNG
1.2.1. CÁC PHƯƠNG THỨC BÁN HÀNG
Trong các doanh nghiệp thương mại, hoạt động kinh doanh thương mại được
chia thành: Bán hàng trong nước và bán hàng nước ngoài (xuất khẩu).
1.2.1.1. Bán hàng trong nước:
∗ Căn cứ vào điều kiện ghi nhận doanh thu và thời điểm xác định là bán hàng,
quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ trong nước được chia thành 2 phương
thức:
không qua kho của doanh nghiệp bán buôn, thực hiện dưới hai hình thức:
+ Bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp: doanh nghiệp thương mại nhận hàng ở
bên bán và giao trực tiếp cho khách hàng của mình. Khi bên mua nhận đủ
hàng và kí nhận trên hóa đơn bán hàng thì hàng được coi là bán.
+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Doanh nghiệp
thương mại nhận hàng ở bên bán và chuyển số hàng hóa đó cho khách hàng
của mình. Khi hàng đến tay khách hàng, được họ kiểm nhận và trả tiền hoặc
chấp nhận trả tiền thì hàng đã được coi là bán.
2) Bán lẻ: Là bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng. Qua khâu bán lẻ hàng hóa
vĩnh viễn rời khỏi lĩnh vực lưu thông, giá trị của nó được thực hiện đầy đủ.
Các phương thức bán hàng ở khâu bán lẻ bao gồm:
- Bán hàng thu tiền trực tiếp: Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao
hàng cho khách hàng
- Bán hàng thu tiền tập trung: Ở quầy có nhân viên thu ngân chuyên làm nhiệm
vụ thu tiền và viết hóa đơn. Căn cứ vào hóa đơn đã thu tiền nhân viên bán
hàng giao hàng cho khách.
+ Bán hàng trả góp: Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì số
hàng đó được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp không còn quyền sở hữu số
hàng đó. Người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền
người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi nhất
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
định. Thông thường thì số tiền trả ở các kỳ sau phải bằng nhau bao gồm một
phần tiền gốc và một phần lãi trả chậm
+ Bán hàng đổi hàng: Là phương thức tiêu thụ mà trong đó, người bán đem sản
phẩm, vật tư, hàng hóa, dịch vụ của mình đổi lấy vật tư, hàng hóa, dịch vụ của
người mua. Giá trao đổi là giá bán của vật tư, sản phẩm, hàng hóa dịch vụ đó
Là phương thức mà bên chủ hàng xuất hàng giao cho bên nhận đại lý,
bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh
lệch giá. Doanh thu hàng bán được hoạch toán khi đại lý trả tiền hoặc chấp
nhận thanh toán.
1.2.1.2. Bán hàng ngoài nước (xuất khẩu).
Hiện nay hoạt động xuất khẩu thường được thực hiện theo các hình
thức sau: Hình thức xuất khẩu trực tiếp và hình thức xuất khẩu ủy thác.
∗ Hình thức xuất khẩu trực tiếp:
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
thuộc các tỉnh thành phố có đủ các điều kiện cần thiết và được Nhà nước, Bộ
thương mại cấp phép cho xuất khẩu trực tiếp. Theo đó các đơn vị tham gia
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
16
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
xuất khẩu có thể trực tiếp đàm phán, kí hợp đồng với nước ngoài, trực tiếp
giao hàng và nhận tiền hàng. Các doanh nghiệp tiến hành xuất nhập khẩu trực
tiếp trên cơ sở tự cân đối về tài chính, có quyền tự kiếm bạn hàng, định đoạt
giá cả, lựa chọn phương thức thanh toán và tự lựa chọn thị trường, xác định
phạm vi kinh doanh trong khuôn khổ chính sách quản lý xuất nhập khẩu của
Nhà nước.
∗ Hình thức xuất khẩu ủy thác:
Là hình thức mà các doanh nghiệp không có điều kiện và chưa được
Nhà nước, Bộ thương mại cấp phép cho xuất khẩu trực tiếp. Theo hình thức
này đơn vị tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu không đứng ra trực
tiếp đàm phán với nước ngoài mà phải nhờ qua đơn vị xuất nhập khẩu có uy
tín thực hiện hoạt động xuất khẩu cho mình. Đặc điểm hoạt động xuất khẩu
ủy thác là có hai bên tham gia trong hoạt động xuất khẩu:
- Bên giao ủy thác xuất khẩu (bên ủy thác): là bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
hàng được hoàn tất ngay khi giao hàng và nhận tiền.
- Thanh toán trả chậm: Hình thức này có đặc điểm là kể từ khi giao hàng tới lúc
thanh toán tiền hàng có một khoảng thời gian nhất định (tùy thuộc vào hai bên
mua và bán).
Do thực tế tại đơn vị thực tập kế toán theo quyết định 48/2006/QĐ-
BTC ban hành ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính nên bài luận
được trình bày dựa trên cơ sở quyết định này.
1.3. KẾ TOÁN GIÁ VỐN HÀNG BÁN
1.3.1. XÁC ĐỊNH GIÁ VỐN HÀNG BÁN
∗ Đối với doanh nghiệp sản xuất: Trị giá vốn của hàng xuất kho để bán hoặc
thành phẩm hoàn thành không nhập kho đưa bán ngay chính là giá thành sản
xuất thực tế của thành phẩm xuất kho hoặc giá thành sản xuất thực tế của
thành phẩm hoàn thành.
∗ Đối với doanh nghiệp thương mại: Trị giá vốn của hàng xuất kho để bán bao
gồm: trị giá mua thực tế của hàng xuất kho để bán và chi phí mua hàng phân
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
18
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
bổ cho số hàng đã bán.Trị giá vốn hàng xuất kho để bán được tính bằng một
trong các phương pháp sau:
Bước 1: Tính trị giá mua thực tế của hàng hóa xuất bán
- PP tính theo giá đích danh:
Theo phương pháp này, kế toán sử dụng đơn giá thực tế nhập kho của
lô hàng xuất để xác định trị giá vốn thực tế của lô hàng đó. Phương pháp này
đảm bảo sự phù hợp giữa chi phí và thu nhập. Tuy nhiên, để áp dụng được
phương pháp này thì thủ kho cần phải theo dõi được đơn giá thực tế từng lần
nhập, nhận diện được cụ thể từng lô hàng. Áp dụng cho các loại hàng hóa có
giá trị cao, được bảo quản riêng theo từng lô hàng của mỗi lần nhập.
19
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
+ Đơn giá bình quân có thể xác định trước mỗi lần xuất kho:
- PP nhập trước xuất trước: Phương pháp này dựa trên giả định hàng nào nhập
trước sẽ được xuất trước và lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập. Trị giá hàng
tồn kho lúc này được tính theo đơn giá của những lần nhập sau cùng.
- PP nhập sau xuất trước: Phương pháp này dựa trên giả định là hàng nào nhập
sau sẽ được xuất trước và lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập. Trị giá hàng
tồn kho lúc này được tính theo đơn giá của những lần nhập đầu tiên.
=
Hệ số giá (H )
Trị giá thực tế của hàng tồn đầu kỳ
+
Trị giá thực tế của hàng nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán hàng tồn đầu kỳ
+
Trị giá hạch toán của hàng nhập trong kỳ
- PP giá hạch toán: Giá hoạch toán của hàng hóa là giá do doanh nghiệp tự quy
định (có thể lấy giá kế hoạch hoặc giá mua tại một thời điểm nào đó) và được
sử dụng thống nhất ở doanh nghiệp trong một thời gian dài. Hàng ngày sử
dụng giá hoạch toán để ghi sổ chi tiết giá trị hàng nhập, xuất. Cuối kỳ kế toán
tính ra trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho theo hệ số giá:
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
Trị giá thực tế hàng tồn kho tại thời điểm
xuất kho
Đơn giá
bình quân
= +
∗ Xác định chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số
hàng đã bán:
- Nếu doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn, doanh nghiệp thương mại dịch vụ
có dự trữ hàng hóa ít, doanh nghiệp ổn định thì cuối kỳ phân bổ cho số hàng
đã bán trong kỳ.
Chi phí bán hàng - CPBH (Chi phí quản lí doanh nghiệp - CPQLDN) phân
bổ cho hàng đã bán
=
CPBH (CPQLDN) phân bổ cho hàng tồn đầu kỳ
+
CPBH (CPQLDN) được tập hợp trong kỳ
Trị giá hàng tồn cuối kỳ
+
Trị giá vốn hàng xuất trong kỳ
- Nếu doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ dài, doanh nghiệp thương mại dịch vụ
có dự trữ hàng hóa nhiều, doanh thu không ổn định thì cuối kỳ cần phân bổ
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
Trị giá vốn
hàng xuất
bán
Chi phí bán hàng, chi phí
quản lí doanh nghiệp của
số hàng đã bán
Trị giá vốn
của hàng đã
bán
bán trong kì.
∗ Kết cấu TK 632:
- Bên nợ:
+ Giá vốn thực tế của hàng hóa đã bán
+ Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ phần bồi thường do
trách nhiệm cá nhân đây ra
+ Chênh lệch giữa mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập cuối năm nay
lớn hơn khoản đã lập dự phòng cuối năm trước
- Bên có:
Sinh viên: Hoàng Thị Vân GVHD: ThS.Nguyễn Thị Bạch
Dương
Lớp : CQ48/21.13
24
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
+ Hoàn nhập số chênh lệch dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm trước lớn
hơn mức cần lập cuối năm nay
+ Kết chuyển giá vốn thực tế của hàng hóa đã tiêu thụ trong kì để xác định kết
quả
+ Giá vốn thực tế của hàng hóa đã bán bị người mua trả lại
- TK 632 không có số dư.
∗ Trình tự hạch toán:
TK 632
TK 156
TK 911
TK 157
Trị giá vốn hàng xuất bán trong kỳ
Trị giá vốn hàng bán bị trả lại nhập kho
KC GVHB, xác định kết quả kinh doanh
Trị giá vốn hàng gửi bán trong kỳ
TK 1593