Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 1 -
Mở đầu
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống.
Quy hoạch sử dụng đất nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền
vững để mang lại lợi ích cao nhất, nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, bảo
vệ đất và môi trường.
Quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2010 và định hướng sử dụng đất
đến năm 2020 của phường Hưng Bình nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của phường: huy động nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm nang
và lợi thế của phường, phấn đấu xây dựng Hưng Bình trở thành một phường
có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hiệu quả, bền vững; nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho người dân; phát triển kinh tế, xã hội gắn chặt với bảo vệ
môi trường sinh thái, đảm bảo ổn định chính trị, an toàn xã hội và an ninh -
quốc phòng.
Các nhu cầu sử dụng đất luôn luôn biến động, đặc biệt trong bối cảnh
nền kinh tế thị trường. Quy hoạch sử dụng đất chi tiết phường Hưng Bình
được lập ra nhằm xây dựng và lựa chọn các phương án quy hoạch phù hợp
nhất với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của phường. Nội dung của quy
hoạch nhằm xác định các mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và các giải pháp sử
dụng đất đai cho từng mục đích sử dụng trên địa bàn phường; xác định nhu
cầu cân đối quỹ đất cho từng mục đích cụ thể; xác định cụ thể vị trí phân bố,
hình thể, diện tích và cơ cấu sử dụng, từng khoanh đất cho các mục đích
nông, lâm, ngư nghiệp, khu dân cư, hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trình
chuyên dùng khác.
Tuy nhiên thực trạng công tác quy hoạch hiện nay vẫn chưa mang lại
hiệu quả cao nhất trong sử dụng đất đai như: các thuộc tính tự nhiên của đất
đai vẫn chưa được xác định phù hợp với mục đích đang sử dụng; chưa có sự
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 2 -
hợp lý về cơ cấu sử dụng đất so với vùng và quy luật biến đổi của nó; sự
dụng đất chi tiết đến năm 2010 và định hướng sử dụng đất đến năm 2020 của
phường Hưng Bình, thành phố Vinh. Nghiên cứu những vấn đề cụ thể đang
diễn ra trên địa bàn phường có ảnh hưởng đến công tác quy hoạch sử dụng đất
chi tiết như thế nào.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
nền tảng, đồng thời kết hợp chặt chẽ với các phương pháp khác như:
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp kết hợp phân tích định tính và định lượng: Phân tích định
tính là việc phán đoán mối quan hệ tương hỗ giữa phát triển kinh tế, xã hội
với sử dụng đất trên cơ sở các tư liệu được điều tra và xử lý. Phân tích định
lượng dựa trên phương pháp số học để lượng hóa mối quan hệ giữa sử dụng
đất với phát triển kinh tế, xã hội.
- Kết hợp phân tích vi mô và vĩ mô: Quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai
bắt đầu từ vĩ mô để xác định tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu chiến lược của quy
hoạch đồng thời căn cứ vào tình hình cụ thể của các đối tượng sử dụng đất, cụ
thể hóa, hoàn thiện và tối ưu hóa quy hoạch, vừa điều tiết khống chế vĩ mô
vừa giải quyết các vấn đề vi mô, tạo điều kiện xử lý tốt mối quan hệ giữa vi
mô và vĩ mô.
- Phương pháp toán kinh tế: nghiên cứu thiết lập chương trình cho các
bài toán cụ thể: xác định vị trí của những điểm, ranh giới, diện tích; xác định
cơ cấu loại đất và cây trồng và tìm giải pháp thực hiện những quyết định đã
thông qua. Lập mô hình bài toán quy hoạch tuyến tính để tìm ra phương án
quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tối ưu.
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 4 -
- Phương pháp dự báo: Xác định rõ sự tác động của các yếu tố đến tiến
trình vận động và phát triển KT-XH trong điều kiện cụ thể, từ đó đưa ra các ý
tưởng khác nhau về sự vận động và phát triển đó. Sử dụng phương pháp này
để dự báo sử dụng đất, trình tự thực hiện như sau: đánh giá biến động sử dụng
do đất đai có những tính chất đặc biệt về đặc điểm tạo thành; tính hạn chế về
số lượng; không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng; tính
không thể thay thế; tính cố định về vị trí và khả năng tăng tính chất sản xuất.
- Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất. Các yếu tố điều kiện tự
nhiê, kinh tế, xã hội ảnh hưởng rất nhiều đến đất đai. Tài nguyên đất đai có
hạn, lại giới hạn về không gian. Đây là yếu tố hạn chế lớn nhất đối với việc sử
dụng đất.
“ Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và
pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý,
khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ
chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và môi trường .”
Về thực chất, quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định
nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững đẻ mang lại lợi ích cao
nhất. Từ đó cho thấy việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng không chỉ trong trước mắt mà cả lâu dài. Mặt kấhc. Quy
hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại
việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 6 -
đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện. Ngăn chặn tình trạng tiêu
cực, tranh chấp. lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái và gây
ô nhiễm môi trường.
II.Cơ sở pháp lý của quy hoạch sử dụng đất đai.
1. Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng
định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai
theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu
quả” (Chương II, Điều 18 ).
Điều 19 Luật Đất đai 1993 khẳng định “Căn cứ để quyết định giao đất,
cho thuê đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước
ích kinh tế, xã hội và môi trường. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm
bảo sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử- văn hóa, danh
lam thắng cảnh. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo dân
chủ và công khai.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét
duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó.
4. Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất.
Điều 22 Luật Đất đai 2003 quy định việc lập quy hoạch sử dụng đất cần
phải căn cứ vào chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, quốc
phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa
phương; kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường; hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu
sử dụng đất; định mức sử dụng đất, các tiến bộ khoa học, công nghệ có liên
quan đến việc sử dụng đất và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ
trước.
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 8 -
Chương II
Thực trạng công tác quy hoạch sử dụng đất chi tiết
tại phường Hưng Bình đến năm 2010 và định hướng sử dụng
đất đến năm 2020.
I. Quy hoạch sử dụng đất chi tiết phường Hưng Bình đến năm 2010 và
định hướng sử dụng đất đến năm 2020.
1. Mục đích của việc lập quy hoạch.
Quy hoạch sử dụng đất chi tiết phường Hưng Bình để phát triển nông nghiệp
và phát triển khu dô thị của phường. Đối với quy hoạch phát triển nông
nghiệp, quy hoạch sử dụng đất chi tiết thực hiện xây dựng kế hoạch phát triển
kinh tế, xã hội, dựa vào nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội đối với sản xuất
nông nghiệp để xác định hướng đầu tư, biên pháp cho các ngành trong nông
nghiệp đạt tới quy mô các chỉ tiêu về đất đai, lao động, sản phẩm hàng hoá…
- Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng
đất 5 năm kỳ cuối 2006-2010 của tỉnh Nghệ An.
- Quyết định số 501/QĐ-UBND ngày 10/8/2006 của Uỷ ban nhân dân
tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề án quy hoạch sử dụng đất thành phố Vinh
đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối 2006-2010 của tỉnh
Nghệ An.
- Định mức sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất các ngành, các cấp trên
địa bàn thành phố.
- Tài liệu, số liệu, bản đồ về thống kê, kiểm kê đất đai các năm 2000,
2005, 2006.
- Các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội của phường đã được nêu trong
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ phường Hưng Bình nhiệm kỳ
2005-2010.
- Báo cáo của Uỷ ban nhân dân phường Hưng Bình về tình hình phát
triển kinh tế, xã hội năm 2005, 2006.
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 10 -
- Quy hoạch và định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực đến năm
2010.
- Các chương trình, dự án lớn trên địa bàn đã được các cấp chính quyền
phê duyệt.
3. Nội dung quy hoạch.
3.1.Điều kiện tự nhiên.
3.1.1. Vị trí địa lý, địa hình.
Hưng Bình là một trong những phường nằm ở trung tâm Thành phố
Vinh. Phường có tổng diện tích tự nhiên là 161,67 ha. Ranh giới hành chính
của phường được xác định như sau:
Phía Bắc giáp phường Hà Huy Tập.
Phía Nam giáp phường Lê Mao và phường Trường Thi.
Phía Đông giáp phường Hưng Phúc
Phía Tây giáp phường Đông Vĩnh và phường Lê Lợi
nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa Đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ
đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau màu ngắn ngày
cho giá trị cao và xuất khẩu. Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là
mưa lớn tập trung theo mùa thường làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây
khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích.
3.1.3.Các nguồn tài nguyên.
* Tài nguyên đất.
Đất phù sa có diện tích khoảng 31 ha, chiếm 19,17% diện tích đất tự
nhiên. Các loại đất trong nhóm phù sa được hình thành trên các trầm tích sông
suối, do sự bồi đắp hàng năm bởi các cấp hạt khác nhau và hàm lượng chất
hữu cơ khác nhau. Đất có thành phần cơ giới thịt nặng,có phản ứng ít chua.
Hiện quỹ đất này đang được sử dụng để phát triển các cây lương thực, thực
phẩm, các cây công nghiệp ngắn ngày.
* Tài nguyên nước.
Nguồn nước mặt: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.665mm nhưng
phân bố không đều và theo 2 mùa rõ rệt.
Nguồn nước ngầm: Việc cấp nước cho các khu vực dân cư trong phường
nhìn chung là rất thuận lợi, cố hộ dân được dùng nước sạch đạt trên 95%. Các
trục đường giao thông nội đô đều có đường ống dẫn nước đảm bảo cho nhu
cầu nước sinh hoạt của người dân.
* Cảnh quan môi trường.
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 12 -
Hiện nay cảnh quan môi trường đang bị ảnh hưởng do chuyển một phần
diện tích đất nông nghiệp sang xây dựng cơ sở hạ tầng, cacsc điểm dân cư kết
hợp với hoạt động của các phương tiện giao thông và việc sử dụng các loại
hóa chất ngày càng tăng đã phá vỡ hệ sinh thái và gây ô nhiễm môi trường.
Một số nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường:
- Trong canh tác nông nghiệp dùng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học có
yếu tố độc hại ngày càng tăng, không được kiểm soát chặt chẽ.
- Quá trình sản xuất tạo ra nguồn rác thải khá lớn chưa được xử lý, làm ô
lĩnh vực trong thời kỳ hội nhập.
a. Khu vực kinh tế công nghiệp.
Cùng với sự tăng trưởng về giá trị sản xuất, cơ cấu kinh tế công nghiệp
có sự chuyển dần từ khu vực kinh tế nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trên địa bàn có trên
180 công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động với
trên 1.300 hộ cá thể tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ
lớn nhỏ, hầu hết đều ổn định và kinh doanh có lãi. Chuyển dần cơ sở sản xuất
gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
b. Khu vực kinh tế nông nghiệp.
Khu vực kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng sản phẩm
quốc nội ( 1,9% GDP). Phường đang từng bước cổ phần hóa, chuyển dần lao
động nông nghiệp sang công nghiệp-dịch vụ-thương mại. Lập một số dự án
cho hội VAC và một bộ phận nhân dân vay vốn ưu đãi để cải tạo vườn tạp,
đầu tư vào chăn nuôi đã tạo được nhiều việc làm cho lao động nông nhàn,
nâng cao thu nhập. Sản xuất nông nghiệp chuyển dần theo hướng sản xuất
hàng hóa tập trung, tích cực chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ đất nông nghiệp.
Tuy nhiên các loại đất nông nghiệp năm 2006 đều có xu hướng giảm so với
năm 2000 do chia tách địa giới hành chính với phường Hưng Phúc.
c. Khu vực kinh tế thương mại – dịch vụ. du lịch.
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 14 -
Hoạt động thương mại đã có những bước phát triển đáng kể. Hiện tại
trên địa bàn phường có 105 doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang hoạt động
ổn định, tăng 74 doanh nghiệp so với năm 2000. Có 1.814 cơ sở sản xuất kinh
doanh cá thể. Riêng hoạt động thương mại- dịch vụ có tới 1.363 cơ sở, tăng
611 cơ sở so với năm 2000.
Về cơ bản, thương mại nội địa tuy có phát triển nhưng vẫn còn ở mức
thấp, chưa tạo được nguồn hàng ổn định, chất lượng cao, cơ cấu tiêu dùng thể
hiện trình độ sản xuất và mức sống của một bộ phận dân cư còn thấp.
*Tóm lại :
2
. Những năm gần đây, tốc độ đô thị không
ngừng phát triển, nhịp độ xây dựng đô thị diên ra khá sôi động nhất là xây
dựng hạ tầng kỹ thuật, nhà ở, các công trình kinh doanh dịch vụ, công trình
công cộng. Sự tăng lên các nhu cầu sản xuất kinh doanh đòi hỏi nguồn lực đất
dai tương đối lớn đủ đáp ứng các nhu cầu này. Và nhiện vụ của quy hoạch sử
dụng đất là giải quyết vấn đề này hợp lý nhất và phù hợp với sự phát triển
chung của phường và của toàn thành phố. Ví dụ như tăng nhu cầu đất đai để
xây dựng nhà xưởng, khu dân cư đáp ứng sự gia tăng dân số và tăng nguồn
lao động ngày càng có chất lượng của phường.
c. Thực trạng về văn hoá.
* Giáo dục - đào tạo.
Công tác xây dựng kiên cố hóa trường học được triển khai tích cực và có
hiệu quả. Thực hiện chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học, đẩy mạnh công
tác xã hội hóa giáo dục :
- Năm 2006 trường mầm non bán công Hưng Bình: bé khỏe, bé ngoan
đạt 98%, là trường học đầu tiên của phường vinh dự được đón nhận đơn vị
chuẩn Quốc gia.
- Công tác phát triển giáo dục tại trường Tiểu học Hưng Bình có nhiều
chuyển biến. Chi bộ đạt trong sạch, vững mạnh, trường đạt danh hiệu tiên
tiến. Các lớp học được duy trì ổn định về sỹ số, không có học sinh bỏ học,
công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 98%. Chất lượng đạo đức
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 16 -
của học sinh: loại tốt chiếm 80%, loại khá tốt chiếm 20%. Có 280 em đạt học
sinh giỏi, chiếm 37%, 305 em đạt loại khá chiếm 40%, loại trung bình có 164
em chiếm 22,5%, loại yếu có 4 em chiếm 0,5%. Về đội ngũ giáo viên đã có ý
thức tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Nhà trường có 1 giáo viên đạt
giáo viên giỏi cấp Tỉnh, 4 giáo viên đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở, 4
giáo viên giỏi cấp thành phố và 19 giáo viên giỏi cấp phường.
- Về chất lượng học sinh và giáo viên trường Trung học cơ sở Hưng
Tổ chức sơ tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự tại địa phương, động viên
thanh niên đi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự đạt chỉ tiêu thành phố giao. Tổ
chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đối tượng 4 và 5. Thực hiện tốt
công tác trật tự an toàn giao thông, an ninh đô thị, kiểm tra hộ tịch, hộ khẩu,
kiên quyết xử lý các vụ việc như: buôn bán và sử dụng trái phép chất ma túy,
trộm cắp, cướp giật,…
d. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng.
* Hệ thống giao thông, thủy lợi.
Giao thông đường bộ được đầu tư phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng
và số lượng. Huy động nội lực trong dân đã làm được 2.853m đường nhựa,
27.144m đường bê tông, 43.485m vỉa hè. Vận động nhiều hộ dân tự nguyện
hiến đất để thông tuyến mở đường. Một số tuyến đường chính như:
- Đường Nguyễn Văn Cừ dài 1,32 km, là đường ranh giới giữa phường
Hưng Bình và phường Hưng Phúc, chạy dọc theo các khối Vinh Quang và
khối 20.
- Đường Dốc Thiết dài 1,11 km, là đường liên phường, điểm đầu từ
đường Lê Lợi chạy qua các khối Tân Yên, Quang Tiến và khối Vinmh Quang
nối vào đường Nguyễn Văn Cừ phường Hưng Phúc.
- Đường Nguyễn Thị Minh Khai dài 1,36km, là đường ranh giới giữa
phường Hưng Bình với các phường Lê Lợi, Quang Trung và phường Lê Mao.
Hệ thống cung cấp nước bao gồm nước máy, nước giếng khơi, nước
khoan và nước mưa. Nguồn nước máy được cung cấp từ nhà mày nước Vinh
Trần Thị Vân Anh- ĐC46 - 18 -
với công suất 20.000m
3
/ngày-đêm. Hiện tại phường vẫn chưa có hệ thống thu
gom và xử lý nước thải riêng. Tình trạng thiếu hệ thống xử lý nước thải có thể
gây ô nhiễm môi trường, hủy hoại môi trường sinh thái và gây thoái hóa đất.
Quy hoạch sử dụng đất phải tập trung giải quyết vấn đề này như xác định địa
điểm, vị trí xây dựng các nhà máy, vị trí thoát nước thải ở những nơi đất đai ít
Hoàn thành công tác lập quy hoạch chung xây dựng đến năm 2020 đồng
thời tiến hành xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm
2020.
- Công tác giao đất, thu hồi đất.
Thực hiện việc quản lý giao đất, thu hồi đất theo đúng trình tự thủ tục
quy định của pháp luật về đất đai.Trong năm 2006, phường đã giao cho các
đối tượng sử dụng đất là 160,13 ha; chiếm 99,05% diện tích đất tự nhiên.
Việc giao đất, cho thuê đất đã cơ bản đáp ứng xây dựng các công trình
trọng điển của phường và cỉa thành phố, tạo điều kiện cho các tổ chức, hộ gia
đình thuê đất phát triển sản xuất kinh doanh.
- Công tác đăng ký, lập và quản lý hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Trong năm qua phường đã làm các thủ tục, giải quyết hồ sơ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho 131 trường hợp, cơ bản cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ở cho hộ gia đình cá nhân đạt trên 97,80%; làm thủ
tục chuyển nhượng cho 55 hộ, xác nhận hồ sơ thế chấp vay vốn bằng quyền
sử dụng đất cho 233 hộ.
Thông qua việc cấp GCNQSDĐ, các cấp chính quyền phường đã nắm
chắc được thực trạng quỹ đất, quản lý chặt chẽ quá trình chuyển dịch đất đai
nhằm khai thác nguồn thu từ đất góp phần tăng thu cho Ngân sách Nhà nước
nhất là thuế chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ…
- Công tác thống kê, kiểm kê đất đai.
Toàn bộ diện tích đất đai của phường được thống kê hàng năm theo quy
định của ngành, cung cấp các tài liệu quan trọng về đất đai, phục vụ công tác