TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN VĂN NGOAN ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG
LÚA IR50404 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012 – 2013
TẠI THỊ TRẤN MỘT NGÀN, HUYỆN CHÂU THÀNH A,
TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
ThS. Trần Thị Bích Vân MSSV: 3103514
Lớp: NH K36 Cần Thơ, 2013
i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
O Luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ ngành Nông Học
ĐỀ TÀI:
“ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ SẠ ĐẾN NĂNG SUẤT GIỐNG
LÚA IR50404 VỤ ĐÔNG XUÂN NĂM 2012 – 2013
TẠI THỊ TRẤN MỘT NGÀN, HUYỆN CHÂU THÀNH A,
TỈNH HẬU GIANG ” Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VĂN NGOAN
Kính trình lên hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét.
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Cần Thơ, ngày……tháng… năm 2013
Thành viên Hội đồng DUYỆT KHOA
Trƣởng Khoa Nông Nghiệp & SHƢD iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả đƣợc trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trƣớc đây.
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Ngoan
v QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
LÝ LỊCH SƠ LƢỢC
Họ và tên: Nguyễn Văn Ngoan
Ngày sinh: 1988
Nơi sinh: Châu Phú, An Giang
Dân tộc: Kinh
Chổ ở hiện nay: Ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Điện thoại: 01884045099
E- mail:
QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Năm 2001 tốt nghiệp tiểu học.
gieo sạ đến năng suất giống lúa IR50404 vụ Đông Xuân năm 2012-2013 tại thị trấn
Một Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang” đƣợc thực hiện nhằm mục tiêu
xác định mật độ gieo sạ thích hợp để làm tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân.
Thí nghiệm đƣợc tiến hành trong vụ Đông Xuân 2012- 2013 tại thị trấn Một
Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Thí nghiệm đƣợc bố trí theo thể thức
khối hoàn toàn ngẫu nhiên, ba lần lặp lại, bao gồm 4 nghiệm thức: sạ ở mật độ 200
kg/ha (Đối chứng theo nông dân), sạ ở mật độ 160 kg/ha, sạ ở mật độ 120 kg/ha và
sạ ở mật độ 80 kg/ha.
Kết quả thí nghiệm cho thấy trong vụ Đông Xuân 2012 – 2013, sạ với mật độ
thƣa thì hạn chế sự đổ ngã và sâu bệnh so với mật độ sạ dày. Ngoài ra, sạ với mật
độ 120 kg/ha có số hạt chắc trên bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lƣợng 1000 hạt là cao
hơn so với hai mật độ sạ là 160 kg/ha và 200 kg/ha. Nghiệm thức sạ với mật độ 120
kg/ha đạt 7,2 tấn/ha là cao nhất so với các mật độ khác nhƣ sạ với mật độ 200 kg/ha
đạt 6,7 tấn/ha, sạ với mật độ 160 kg/ha đạt 6,78 tấn/ha và sạ với mật độ 80 kg/ha chỉ
đạt 6,22 tấn/ha (Bảng 3.3). Nhƣ vậy, sạ với mật độ 120 kg/ha tỏ ra hiệu quả trong
hạn chế đổ ngã, sâu bệnh và đạt năng suất cao nhất so với các mật độ sạ 200 kg/ha,
sạ với mật độ 160 kg/ha và sạ với mật độ 80 kg/ha. Từ đó cho ta thấy sạ với mật độ
120 kg/ha giúp giảm đƣợc lƣợng giống đáng kể đồng thời cũng giảm đƣợc chi phí
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và đạt hiêu quả kinh tế hơn so với tập quán sạ dày
của nông dân(200 kg/ha). vii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan iii
Cảm tạ iv
Quá trình học tập v
Tóm lƣợc vi
1.6.7. Ảnh hƣởng của sâu bệnh 16
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP 17
2.1. PHƢƠNG TIỆN 17
2.1.1. Thời gian và địa điểm 17
2.1.2. Phƣơng tiện 17
2.2. PHƢƠNG PHÁP 18
2.2.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm 18
2.2.2. Biện pháp canh tác 19
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi 20
2.2.4. Đánh giá chỉ tiêu về các thành phần năng suất 20
2.2.5. Đánh giá chỉ tiêu về năng suất. 21
2.2.6. Đánh giá khả năng phản ứng với một số sâu bệnh hại 21
2.2.7. Phƣơng pháp phân tích số liệu 22
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN 23
3.2. ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO SẠ ĐẾN SỰ SINH TRƢỞNG
CỦA CÂY LÚA. 24
3.2.1. Chiều cao cây. 24
3.2.2. Số chồi/m
2
25
3.2.3. Chiều dài bông 27
ix
3.3. ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ GIEO SẠ ĐẾN THÀNH PHẦN NĂNG
SUẤT VÀ NĂNG SUẤT. 28
3.3.1. Số bông/m
2
28
3.3.2. Số hạt/bông. 29
24
3.3
Thành phần năng suất của giống lúa IR50404 đƣợc thí
nghiệm ở các mật độ khác nhau tại thị trấn Một Ngàn, huyện
Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang vụ Đông Xuân năm 2012-
2013
28
3.4
Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của giống lúa
IR50404 sạ với các mật độ khác nhau tại, thị trấn Một Ngàn,
huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang vụ Đông Xuân năm
2012-2013
32
3.5
Phân tích hiệu quả kinh tế
34
xi
1 MỞ ĐẦU
Trong những yếu tố kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng, ngoài phân bón và
cách bón phân, thì mật độ quần thể ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng. Sự
cạnh tranh quần thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa, khi cây lúa phải
sống trong đều kiện chật hẹp, thiếu ánh sáng làm cây lúa trở nên yếu ớt sâu bệnh dễ
tấn công và dịch bệnh phát triển mạnh (Nguyễn Kim Chung và Nguyễn Ngọc Đệ,
2005). Ở nước ta nghề trồng lúa nước đã có từ rất lâu và năng suất lúa ngày càng
tăng một phần là do sự góp phần quan trọng của công tác chọn giống lúa, bằng
phương pháp cổ truyền, chọn lọc theo kiểu phả hệ, lai hữu tính, ứng dụng công nghệ
sinh học như tạo biến dị, nuôi cấy mô, biến đổi gen. Tuy nhiên, người dân có tập
quán truyền thống gieo sạ với mật độ cao khoảng 200 kg/ha, nhưng trong thực tế
lúa là loại cây có khả năng tự điều chỉnh trong quần thể, nếu sạ với mật độ quá cao
cây lúa sẽ đẻ nhánh ít hoặc không đẻ nhánh, tỉ lệ chồi vô hiệu cao, thậm chí cây bị
chết do cạnh tranh sinh tồn, cùng với đó là việc bón nhiều phân đạm dẫn đến sâu
bệnh phát triển mạnh và làm giảm năng suất (Nguyễn Trường Giang, 2010 ). Trên
một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao thì số bông càng nhiều. Trong một giới
hạn nhất định việc tăng số bông không làm giảm số hạt/bông và khối lượng nghìn
hạt nhưng nếu vượt qua giới hạn nhất định, số hạt/bông sẽ giảm dần và khối lượng
lượng bức xạ trung bình khoảng 1500 kcal/cm
2
/năm. Nhiệt độ trung bình cao,
khoảng 26,7 – 27
0
C, tổng nhiệt hằng năm là 9.800
0
C. biên độ nhiệt trong năm thấp,
tháng 4 nóng nhất với khoảng 28,6
0
C, tháng 1 lạnh nhất với khoảng 25,5
0
C. Biên độ
nhiệt giữa ngày và đêm dao động lớn, khoảng 7
0
C, mùa khô chênh lệch cao hơn,
mùa mưa chệnh lệch ít hơn. Tính chất mùa thể hiện rõ nét ở chế độ gió và chế độ
ẩm. Trong năm, Hậu Giang chịu ảnh hưởng của hai mùa gió: mùa mưa có gió Tây
Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau. Huyện Châu Thành A có hệ thống sông chằng chịch với lượng nước dồi
dào không chỉ cung cấp nước cho nông nghiệp mà còn có tầm quan trọng trong
ngành giao thông đường thủy.
1.2. THỜI KỲ SINH TRƢỞNG CỦA CÂY LÚA
Trong chu kỳ phát sinh và phát triển của cây lúa, cây lúa phải hoàn thành hai
giai đoạn sinh trưởng phân biệt kế tiếp nhau: dinh dưỡng và sinh dục. Các giống lúa
có thời gian sinh trưởng dài ngắn khác nhau chủ yếu là do sự dài ngắn khác nhau ở
thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh.
3
vô hiệu (nhánh không hình thành bông). Thường thì các nhánh đẻ sớm thì cho bông,
4 còn các nhánh đẻ muộn thì có thể cho bông và không (Yosida, 1981).
Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu
là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn. Thường các giống lúa rất ngắn ngày
và ngắn ngày có giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời điểm phân hóa đòng có thể xảy
ra trước hoặc ngay khi cây lúa đạt được số chồi tối đa. Ngược lại các giống lúa dài
ngày (trên 4 tháng) thường đạt được số chồi tối đa trước khi phân hóa đòng. Thông
thường, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay là chồi có ích) thấp hơn so với
số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được số chồi tối đa. Các chồi
ra sau đó, thường sẽ tự rụi đi không cho bông được, do chồi nhỏ, yếu không đủ khả
năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu, trong
canh tác người ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sản sinh ra số chồi vô hiệu này
bằng cách tạo điều kiện cho lúa nở bụi càng sớm càng tốt và khống chế sự mọc
thêm chồi từ khoảng 7 ngày trước khi phân hóa đòng trở đi, để tập trung dinh dưỡng
cho những chồi hữu hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.2.2. Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn này bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông, giai đoạn
này kéo dài khoảng 27 - 35 ngày, trung bình là 30 ngày, giống lúa dài ngày hay
ngắn ngày thường không khác nhau nhiều, lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh,
chiều cao bắt đầu tăng rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình
thành và phát triển qua nhiều giai đoạn cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ: lúa trổ
bông (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Trong đời sống của cây lúa, giai đoạn này được đặc trưng bởi hiện tượng
thân chính của lúa vươn cao nhanh làm tăng chiều cao cây, giảm nhanh chóng số
nhánh vô hiệu, xuất hiện lá đòng, và cuối cùng là trổ bông (Nguyễn Thành Hối,
2003).
chín sáp, chín vàng và chín hoàn toàn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Trong đó quan trọng nhất của giai đoạn này là thời kỳ chín sữa. Trong quá
trình chín sữa, các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển
vào trong hạt. Hơn 80% lượng vật chất khô tích lũy trong hạt là do quá trình quang
hợp sau trổ cung cấp. Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát
triển của cây lúa và thời tiết giai đoạn sau trổ trở đi hết sức quan trọng đối với quá
trình hình thành năng suất lúa, kích thước và trọng lượng hạt gạo tăng dần làm đầy
vỏ trấu (Nguyễn Bảo Vệ, 2003).
Như vậy, trong giai đoạn này thời kỳ chín sữa là quan trọng nhất, do sự tích
6 lũy vật chất khô vào hạt tăng trong điều kiện đầy đủ ánh sáng và dinh dưỡng. Đó là
quá trình ảnh hưởng rất lớn đến trọng lượng hạt.
1.3. CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) thì năng suất được hình thành và chịu ảnh
hưởng của bốn yếu tố gọi là bốn thành phần năng suất: số bông trên đơn vị diện
tích, số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt. Năng suất lúa được
tính theo công thức:
-5
Y=N×F×w×10
Trong đó:
Y: Năng suất (tấn/ha)
N: số hạt/m
2
F: tỷ lệ hạt chắc
2
ảnh hưởng đến năng suất kinh tế với hệ số tương quan rất
cao r = 0,91 (Phạm Văn Chương, 2002).
Khi phân tích tương quan hệ số Path năng suất và thành phần năng suất cho
thấy số bông/m
2
gia tăng khi mật độ sạ tăng (Trần Thị Ngọc Huân và ctv,. 1999).
Tuy nhiên, trong điều kiện mật độ sạ cao làm tăng số bông/m
2
ở mức vừa phải, nếu
tăng mật độ lên quá cao sẽ gây hiện tượng lốp, đỗ, sâu bệnh dễ bộc phát và số hạt
trên bông sẽ ít đi rõ rệt (Yosida, 1981).
Theo Vũ Văn Hiển và Nguyễn Văn Hoan (1999), số bông trên đơn vị diện
tích được quyết định bởi hai yếu tố: mật độ sạ và tỷ lệ đẻ nhánh. Mật độ sạ đặt cơ sở
cho việc hình thành số bông. Trong điều kiện thâm canh cần mật độ sạ phù hợp tùy
giống, đất đai, phân bón, thời vụ,
Nói chung, đối với các giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu,
nhiều nắng nên gieo cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích. Ngược lại, trên
đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lượng phân bón nhiều (nhất là đạm) và giữ nước thích
hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể gieo cấy thưa hơn. Các giống lúa cải thiện thấp cây
có số bông/m
2
trung bình phải đạt 500 – 600 bông đối với lúa sạ hoặc 350 – 450
bông đối với lúa cấy mới có được năng suất cao (Phạm Sĩ Tân, 2008).
Tóm lại, số bông/m
2
là một thành phần năng suất góp phần quan trọng trong
việc tạo nên năng suất và chịu ảnh hưởng của mật độ gieo sạ. Số chồi hữu hiệu là
yếu tố trực tiếp quyết định đến số bông/m
2
cuối cùng trên bông cao. Ở các giống lúa cải thiện, số hạt từ 80 – 100 hạt đối với lúa sạ
hoặc 100 – 120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện Đồng Bằng Sông Cửu Long
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Như vậy, số hạt/bông là yếu tố quyết định bởi sự sai khác giữa
số hoa được phân hóa và số hoa bị thoái hóa đi, yếu tố thành phần năng suất này chịu ảnh
hưởng của đặc tính về giống và điều kiện ngoại cảnh.
1.3.3. Tỷ lệ hạt chắc
Tỷ lệ hạt chắc được quyết định từ đầu thời kỳ phân hóa đòng đến khi lúa vào chắc
nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ phân bào giảm nhiễm, trổ bông, phơi màu, thụ phấn,
thụ tinh và vào chắc. Tỷ lệ hạt chắc tùy thuộc vào số hoa trên bông, đặc tính sinh lý của
cây lúa và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh, thường số hoa trên bông quá
nhiều sẽ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp. Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và
chuyển vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đỗ ngã sớm, lại trổ
và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược
lại. Muốn có năng suất cao tỷ lệ hạt chắc phải trên 80% (Nguyễn Xuân Trường, 2004).
Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn thụ tinh không thuận lợi, khi ra hoa
9 gặp rét hoặc nóng quá, ẩm độ không khí quá thấp hoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả
năng nảy mầm hoặc trước đó nhị và nhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn
bị hại (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Khi xét mối quan hệ nguồn và sức chứa, số hạt chắc trên bông ảnh hưởng đến năng
suất thực tế (Phạm Văn Chương, 2002). Kết quả phân tích hệ số tương quan Path năng
suất và thành phần năng suất cho thấy khi gia tăng mật độ gieo sạ thì số hạt chắc/bông
giảm và làm giảm tỷ lệ hạt chắc (Trần Thị Ngọc Huân và ctv., 1999).
Nguyễn Thành Hối (2003) cho rằng, lúa Đông Xuân xuống giống muộn sẽ gặp bất
lợi nhiều về điều kiện thời tiết lúc lúa trổ, do lúc này là đầu mùa mưa nên vũ lượng cao,
mưa kéo dài và đặc biệt là trời hay mưa vào buổi sáng nên bông lúa khó thụ phấn, thụ tinh
và hạt bị lép nhiều. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, như nhiệt độ thấp và cao vào
nhưng có giá trị trung bình luôn ổn định. Trọng lượng 1000 hạt do hai bộ phận cấu thành,
trọng lượng vỏ trấu và trọng lượng hạt gạo. Trọng lượng vỏ trấu thường chiếm 20% và
trọng lượng hạt gạo chiếm 80% trọng lượng toàn hạt. Muốn có trọng lượng hạt gạo cao
phải tác động vào cả hai yếu tố này (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997).
Khi xem xét mối quan hệ nguồn và sức chứa cho thấy, trọng lượng 1000 hạt ảnh
hưởng đến năng suất thực tế (Phạm Văn Chương, 2002). Kết quả phân tích tương quan hệ
số Path năng suất và thành phần năng suất cho thấy trọng lượng 1000 hạt là đặc tính của
giống và là nhân tố thứ hai (sau số hạt chắc/bông) trong xác định năng suất cây lúa (Trần
Thị Ngọc Huân và ctv., 1999).
Nguyễn Đình Giao và ctv. (1997) cho rằng hạt lúa được quy định bởi kích thước
của hai vỏ trấu tạo nên sức chứa cho hạt và yếu tố kế đến là lượng chất khô tích lũy tạo nên
hạt gạo. Cho nên, quá trình quang hợp trong giai đoạn chín của cây lúa sẽ làm ảnh hưởng
đến sự cung cấp carbohyrate cho hạt, bên cạnh đó nếu tình trạng đỗ ngã xảy ra sẽ làm ngăn
cản sự chuyển vị sản phẩm của quang hợp làm cho hạt lúa bị lép lững nhiều. Trọng lượng
hạt chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quyết định, điều kiện môi trường có ảnh hưởng
một phần vào thời kỳ giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ) trên cở hạt, cho đến khi vào chắc
rộ (15 – 25 ngày sau khi trổ) trên độ mẩy của hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Như vậy, trọng lượng 1000 hạt chịu ảnh hưởng lớn của đặc tính giống, sự tác động
của điều kiện tự nhiên và kỹ thuật canh tác có thể cũng làm thay đổi trọng lượng hạt phần
nhỏ, sản phẩm quang hợp sau trổ là yếu tố quyết định đến trọng lượng 1000 hạt.
1.4. PHƢƠNG PHÁP GIEO SẠ
Có nhiều phương pháp để gieo sạ. Tuy nhiên, dựa vào điều kiện đất đai và nước
tưới mà chọn lựa phương pháp sạ thích hợp. Những vùng chủ động được nguồn nước tưới
và đất tương đối bằng phẳng thường áp dụng phương pháp sạ ướt. Hiện nay, hầu hết diện
tích trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long là lúa cao sản và phương pháp sạ ướt được áp
dụng nhiều nhất (Nguyễn Thành Hối, 2010).
11
tích nhỏ khó áp dụng và đất thiếu bằng phẳng (Lê Trường Giang, 2005).
Với phương pháp này, cây lúa có sự phân bố trong quần thể ruộng lúa thích
12 hợp nên đã tận dụng được năng lượng mặt trời cho quá trình quang hợp tạo năng
suất và làm giảm thiệt hại do tác động của ngoại cảnh (Nguyễn Văn Luật, 2001).
Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy lượng giống gieo sạ thích hợp cho kỹ thuật
này ở Đồng bằng sông Cửu Long là khoảng từ 70-100 kg giống/ha (Bùi Chí Bửu và
Nguyễn Thị Lang, 2009). Dưới điều kiện quản lý đồng ruộng tốt, mật độ sạ 100 kg
giống/ha được khuyến cáo để nhận năng suất lúa có chất lượng tốt, cũng như đáp
ứng đủ số bông/m
2
cho việc chín đồng bộ trong hệ thống canh tác lúa sạ ướt (Trần
Thị Ngọc Huân và ctv ., 1999).
So với phương pháp sạ lan truyền thống thì phương pháp sạ hàng có thể làm
giảm được lượng giống sử dụng từ 50-75%, lượng giống giảm tương ứng khoảng
100-150 kg/ha (Nguyễn Văn Luật và ctv., 1999). Như vậy, phương pháp sạ hàng có
nhiều ưu điểm so với sạ lan như: giảm được lượng giống gieo sạ, giảm sâu bệnh và
có thể tăng năng suất.
1.5. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ GIEO SẠ
Theo Nguyễn Văn Hoan (1995), thì tùy từng giống lúa để chọn mật độ thích
hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa thông thoáng, các bụi lúa
không chen nhau. Cách bố trí bụi lúa theo hình chữ nhật là phù hợp nhất vì như thế
mật độ trồng được đảm bảo nhưng lại tạo ra được sự thông thoáng trong quần thể,
tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao
hơn.
Mật độ trồng thích hợp, quần thể lúa sẽ sử dụng tốt nước và dinh dưỡng để
tạo ra năng suất cao nhất, mật độ sản xuất giống đảm bảo tạo ra 400-500 bông/ m