Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP
(ĐÁNH GIÁ TÂM LÝ XÃ HỘI)
Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
NĂNG ĐỘNG NHÓM
Chân thành cảm ơn Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng
Quốc tế (CFSI) đã hỗ trợ Dự án “Nâng cao năng lực cho
NVXH cơ sở ở TP.HCM” ấn hành tập tài liệu này.
Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
KỸ NĂNG THAM VẤN
TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 1 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
Bài 1:
TỔNG QUAN VỀ THAM VẤN
I. PHÂN BIỆT CÁC KHÁI NIỆM
1. Tư vấn (consultation)
Tư vấn là sự tham khảo và cung cấp ý kiến giữa một bên A (có thể là một cá nhân,
một tổ chức) cần tìm câu trả lời cho một thắc mắc hoặc tìm giải pháp với bên B là một
cá nhân, một tổ chức khác có chuyên môn, kinh nghiệm và giúp họ giải đáp những thắc
mắc hay vấn đề của họ.
Như vậy, người tư vấn có thể đóng vai trò như người chịu trách nhiệm tìm ra những
giải pháp (R. Schein, 1969), hay thu thập thông tin, chẩn đoán vấn đề và đề xuất giải
pháp (D.J. Kurpius & J.C. Brukbaker 1976).
2. Tham vấn
Tham vấn là một quá trình thiết lập tương quan trợ giúp chuyên nghiệp, sử dụng
những kỹ năng và kiến thức chuyên biệt để hiểu vấn đề của một người theo quan điểm
của họ, làm cho họ có thể thực hiện những hành động cần thiết để giải quyết vấn đề của
mình (Vellerman, 2010).
3. Cố vấn
Còn cố vấn là cuộc nói chuyện giữa một chuyên gia về một lĩnh vực nhất định với
một hoặc nhiều người đang cần lời khuyên hay chỉ dẫn về lĩnh vực đó.
Qua hai định nghĩa trên, ta thấy được sự khác biệt giữa cố vấn và tham vấn như sau:
THAM VẤN CỐ VẤN
- Một hoặc vài lần gặp gỡ
Kiến thức và
kỹ năng cần
có của người
hỗ trợ
- Kiến thức về tâm lý, hành vi và sự
phát triển của con người
- Kỹ năng lắng nghe và giao tiếp, khai
thác những vấn đề và cảm xúc của
thân chủ, “tăng quyền” cho thân chủ.
- Có kiến thức về những lĩnh
vực cụ thể và có khả năng
truyền đạt những kiến thức đó
đến người cần hỗ trợ hay
hướng dẫn trong lĩnh vực đó. Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 3 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
4. Trị liệu tâm lý
Trị liệu tâm lý là làm việc với các vấn đề mang tính chất nghiêm trọng liên quan đến
sức khỏe tâm thần, tâm bệnh lý được thực hiện bởi những nhà tâm lý lâm sàng trong các
bệnh viện tâm thần hoặc các cơ sở sức khỏe tâm thần.
Theo Carl Rogers, mục đích cuối cùng của tham vấn là giúp đối tượng phát huy tiềm
năng giải quyết vấn đề, qua đó giúp họ phát triển nhân cách.
Theo tiến sĩ Trần Thị Giồng, tham vấn có những mục tiêu cụ thể sau:
- Giúp thân chủ giải quyết vấn đề hữu hiệu.
- Ngăn ngừa để tránh tình trạng bất ổn, để vấn đề đừng xảy ra hoặc đừng thêm trầm
trọng.
- Giúp củng cố các mối quan hệ, những thói quen tốt và giữ gìn các giá trị hiện có
(mà thời gian đã làm hao mòn).
- Cải thiện, phục hồi.
- Thay đổi, khai mở nhận thức, thái độ, hành vi hướng đến phát triển nhân cách.
2. Nguyên tắc đạo đức
Tham vấn viên phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản sau:
- Công bằng: tham vấn viên tôn trọng quyền và nhân phẩm của mọi người, không
thành kiến với một ai vì bất cứ lý do nào, đối xử bình đẳng và khách quan trong
tiếp cận và cung ứng dịch vụ.
- Quyền tự quyết của thân chủ: tham vấn viên trao quyền quyết định vào tay thân
chủ, không thao túng, điều khiển thân chủ ngược với ý muốn của họ.
- Quyền có sự riêng tư và bảo mật thông tin của thân chủ: tham vấn viên phải
bảo vệ tính riêng tư và tính bảo mật thông tin của thân chủ (chỉ tiết lộ thông tin mật
khi được sự ưng thuận của thân chủ). Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 4 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
Tính cách cá nhân: nhu nhược, tự ti, quá nhạy cảm, cầu toàn, thiếu tự chủ,
ngại va chạm…
Quan điểm / cách nhìn của cá nhân: tiêu cực, bảo thủ, đề cao bản thân, coi
thường người khác…
Hành vi: thiếu làm chủ bản thân, dễ vị kích động, sống theo kỳ vọng của
người khác mà không sống cho chính bản thân mình
3. Những biểu hiện nào cho thấy cần tham vấn?
Người ta có thể trở thành thân chủ của tham vấn khi:
- Nhận thấy xuất hiện những điều hiếm thấy hoặc không có trước đây:
Nói nhiều, hoăc không muốn giao tiếp, luôn không cảm thấy hài lòng trong
cuộc sống hiện tại.
Khó chịu, hoặc bất lực trong quan hệ nào đó với những người xung quanh.
Thường gây bất bình cho những người xung quanh. Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 5 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
Cảm thấy cô đơn, buồn chán, lo âu, căng thẳng, đau khổ, sợ hãi lặp đi lặp lại,
ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại.
mái, nhẹ nhàng và sẵn sàng cho buổi tham vấn
- Thảo thuận và đồng thuận về hình thức và tiến trình tham vấn với thân chủ
- Nêu rõ vai trò của tham vấn viên và thân chủ
Nhưng làm thế nào xây dựng được tương quan với thân chủ? Làm thế nào để thân
chủ tin tưởng và sẵn sàng hợp tác để đạt mục tiêu? Theo Rogers (1975), điều kiện tiên
quyết cho giai đoạn 1 là:
- Thấu cảm: thúc đẩy tương quan tin tưởng lẫn nhau, tạo ra một môi trường an toàn
cho thân chủ cảm thấy thoải mái, cởi mở để họ có thể tâm sự về bất cứ điều gì có
trong lòng. Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 6 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
- Cái nhìn tích cực vô điều kiện: xem thân chủ là một người có giá trị - tách con
người ra khỏi hành động (tham vấn viên có thể không đồng ý hành động của thân
chủ nhưng không lên án con người thân chủ).
- Cư xử phù hợp: bản thân tham vấn viên thành thật trong tương quan với thân chủ,
phản hồi chính xác, diễn đạt rõ ràng.
2. Giai đoạn 2: Tìm hiểu, đánh giá và phân tích vấn đề
Cả hai tham vấn viên và thân chủ thu thập thông tin để tìm ra những gì "thực sự"
đang xảy ra. Công việc này giúp tham vấn viên có thể đánh giá những gì cần xảy ra tiếp
theo, để thay đổi tình hình cho tốt hơn hoặc xây dựng các kỹ năng đối phó vấn đề cho
thân chủ.
Những việc cần làm trong giai đoạn này bao gồm:
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 7 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
- Tham vấn viên và thân chủ muốn đạt được gì?
- Làm thế nào đạt được nó?
- Khi nào thân chủ muốn đạt được mục tiêu đã nêu?
- Mục tiêu thực tế không?
- Theo dự đoán sẽ có thể có những trở ngại là gì?
- Làm thế nào giải quyết những trở ngại này?
- Làm thế nào để đo lường và theo dõi sự tiến bộ?
Tham vấn viên không nên đưa ra các giải pháp cho thân chủ mà để thân chủ tự quyết
định. Trong trường hợp thân chủ không có khả năng đưa ra một giải pháp cụ thể nào,
tham vấn viên cùng động não với thân chủ về các giải pháp có thể có, cung cấp thông tin
và cùng phân tích những thuận lợi, khó khăn và hạn chế của từng giải pháp. Tiếng nói
quyết định sau cùng thuộc về thân chủ.
4. Giai đoạn 4: Can thiệp và giải quyết vấn đề
Đây là bước lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch để đạt được mục tiêu. Các mục tiêu
được thực hiện trong quá trình làm việc trực tiếp với thân chủ hoặc có thể thông qua
những bài tập về nhà của thân chủ.
Việc thực hiện kế hoạch đề ra là một nhiệm vụ có thể vô cùng khó khăn đối với thân
chủ vì nó buộc thân chủ phải thay đổi suy nghĩ, thái độ, hành vi trước một thói quen đã
được lập trình sẵn trong não. Vì thế, tham vấn viên cần thường xuyên giám sát, động
viên và hỗ trợ thân chủ. Nếu có những khó khăn hoặc phát sinh vấn đề, đôi bên sẽ cùng
Trang 8 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
Tham vấn viên Thân chủ
- Đưa ra giải pháp tức thì, dễ dàng. - Có cảm giác như tư vấn viên muốn
ngưng cuộc tham vấn, giải pháp không
từ trong ra, mà nó được áp đặt lên họ.
Tóm tắt ý chính
- Có sự khác biệt giữa các khái niệm tư vấn, cố vấn, tham vấn và trị liệu tâm lý
- Mục đích cuối cùng của tham vấn là giúp đối tượng phát huy tiềm năng giải
quyết vấn đề, qua đó giúp họ phát triển nhân cách
- Các nguyên tắc đạo đức trong tham vấn: Công bằng, quyền tự quyết của
thân chủ, quyền có sự riêng tư và bảo mật thông tin của thân chủ, từ tâm,
tránh gây hại cho thân chủ, tự trọng
- Tiến trình tham vấn trải qua 5 giai đoạn. Trong suốt 5 giai đoạn này, tham
vấn viên đặt thân chủ làm trọng tâm của tham vấn
Richard Nelson John (2005)1 cho rằng động từ “listen” - lắng nghe có thể được diễn giải
bằng:
- L: looking at - nhìn vào người nói (nhưng không nhìn chòng chọc)
- L: Learning - khám phá từ những gì quan sát được (ngôn ngữ cơ thể và vẻ bên ngoài)
- I: Interested in - bày tỏ sự quan tâm đến người đang nói
Involved - sẵn lòng để hết tâm trí vào những gì người kia đang nói
- S: sensing, sensitive, supporting, safe - cảm nhận cảm xúc của người nói, nhạy bén,
nâng đỡ và giữ bí mật an toàn
- T: trusting - tin tưởng rằng người kia biết rõ những gì họ cần, và có khả năng tự quyết
định, hy vọng rằng người đó sẽ tin tưởng tôi
- E: Enabling, empowering, empathizing - làm cho người đó có thể trở nên chính bản
thân, tăng năng lực và thấu cảm
- N: not – không giải quyết vấn đề dùm, không cho lời khuyên, không đáp ứng nhu cầu
bản thân tôi nhưng lắng nghe nhu cầu của người kia.
II. CÁC CẤP ĐỘ CỦA LẮNG NGHE
Lắng nghe chủ động có nhiều cấp độ và ở cấp độ nào cũng cần tính tự kỷ luật
1. Cấp độ 1: Lắng nghe ngôn từ
Ở cấp độ này, người nghe tập trung vào việc tiếp nhận ngôn từ được đối phương phát
ra. Tuy nhiên, tập trung hoàn toàn để lắng nghe trong vòng năm phút là điều không dễ.
Những lời lẽ người nói nói ra gây ra một phản ứng nơi người nghe là điều không tránh
khỏi. Những ý tưởng đó sẽ dội lại trong ta và tạo thành một chuỗi những suy nghĩ. Ta có
thể không đồng ý và muốn đưa ra quan điểm. Bên cạnh đó, có những tiếng động xung
quanh, thời tiết nóng bức, đói bụng hay khó chịu bực bội trong mình cũng cản trở việc
tập trung lắng nghe ngôn từ.
2. Mức độ 2: Nghe và đón nhận toàn bộ thông điệp
Có một rào cản cản trở khả năng lắng nghe cốt yếu này, đó là “biết rồi, khổ lắm, nói
mãi!”
Ví dụ khi ta phải lắng nghe một câu chuyện được kể nhiều lần rồi hay nghe một đồng
nghiệp nói về công việc mà ta biết rành, ta có khuynh hướng “đóng tai lại”, “cắt cái
rụp” rồi chuyển sang một vấn đề khác. Cũng vậy, thân chủ cũng có thể kể lể dài dòng
Sự phân tâm/chia trí: tiếng ồn, những chuyển động, mùi, chỗ ngồi không
thoải mái, các yếu tố bên ngoài có thể cản trở tập trung.
Nghe chập chờn: thông thường ta suy nghĩ nhanh gấp bốn lần nói. Kết quả là
ta có khuynh hướng sử dụng ¾ thời gian cho suy nghĩ hơn là tập trung lắng
nghe.
“Ngoài tầm phủ sóng”: những thông điệp phức tạp làm cho ta khó hiểu và kết
quả là ta “bưng tai” lại. Sau cùng, có thể ta không nhớ người kia nói gì.
Bị sa lầy vào những sự kiện: trong khi cố gắng lắng nghe chính xác nội dung,
ta có thể để vô đầu một số sự kiện nào đó nhưng sau đó thì để người nói đi qua
những sự kiện khác mất và mình thì không theo kịp.
Sử dụng giấy viết: để bảo đảm mình nắm được các sự kiện, ta thử viết ra giấy.
Tuy nhiên, thông thường, không thể nắm bắt được mọi sự bằng cách viết ra
như thế này. Hơn nữa, viết lách lúc này có thể làm cản trở tương quan giữa ta
với thân chủ và ta không thể tiếp xúc bằng mắt cũng như quan sát được những
ngôn ngữ không lời.
Khuynh hướng “Tôi biết rồi”: sau một vài câu chúng ta có thể biết câu
chuyện sắp tới sẽ là gì (vì trước đó có thể ta đã nghe câu chuyện rồi). Vì thế, ta
không thèm nghe nữa bởi vì ta nghĩ mình sẽ chẳng học được điều gì mới hết.
Mơ màng: khi mệt mỏi, mắt ta đờ đẫn, đầu óc ta chạy đâu mất dù vẻ bên
ngoài có vẻ đang chú tâm lắng nghe. Người nói sẽ nhận ra điều này và không
muốn bộc lộ nữa.
Khuynh hướng “Anh/chị sai rồi”: người nói có thể phủ nhận quan điểm, nền
tảng lý thuyết của ta. Trong trường hợp như thế, thay vì lắng nghe, ta có thể
bắt đầu lập kế hoạch điều chỉnh họ hoặc tệ hại hơn nữa, ta bắt đầu xét đoán,
lên án họ.
- Để thể hiện sự đồng cảm với người nói
Kìm chế những cảm giác tiêu cực như chán nghe, cho là không quan trọng để
nghe…
Không phán xét tức thời những gì người khác đang nói
Đặt câu hỏi làm rõ ý hơn của người khác.
Tóm tắt ý chính
- Khác nhau giữa nghe và lắng nghe: Nghe và lắng nghe không giống nhau.
Nghe mang tính thụ động, trong khi lắng nghe mang tính chủ động. Người
lắng nghe không chỉ tiếp nhận âm thanh và còn cố gắng tìm hiểu ý nghĩa
của nó.
- Ba cấp độ của lắng nghe
Lắng nghe ngôn từ: tập trung tiếp thu những gì người đối diện nói ra
Nghe và đón nhận toàn bộ thông điệp: Không chỉ nghe từ ngữ mà
còn đón nhận chúng mà không xét đoán
Không chỉ nghe những gì được nói ra mà còn nghe cách thức nói:
nghe nội dung, nắm bắt cảm xúc và ý nghĩa của những gì được nói rồi
- Một số điều cần lưu ý để có thể lắng nghe chủ động: nghe tận tình, quan sát,
giữ thinh lặng nội tâm, loại bỏ những yếu tố mất tập trung, và tạo điệu kiện
thuận lợi cho người đối thoại cảm thấy thoải mái và muốn nói.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 12 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
ngữ hình thể và hành vi của mình.
Nhờ quan sát những phản ứng của thân chủ, ta có thể điều chỉnh biểu lộ của khuôn
mặt sao cho phù hợp với nội dung, cảm xúc và tông giọng của thân chủ. Bên cạnh đó, ta
cũng phải hết sức ý thức những hành vi không lời kỳ quặc hoặc không phù hợp với
những gì tham vấn viên nghe được (Ví dụ có người cười khi đang nói hoặc nghe một
chuyện buồn).
3. Quan sát tốt cũng có thể giúp tham vấn viên cảnh tỉnh thân chủ để họ thay đổi
hành vi và thái độ sao cho phù hợp hơn.
III. NHỮNG ĐIỂM CẦN QUAN SÁT
Trong khi quan sát, ta để ý đến những đặc điểm sau:
- Phong thái của đối tượng: cởi mở hay khép kín.
- Dáng điệu - cách đứng, ngồi: cứng hay thoải mái.
- Sắc mặt: bình thường hay đang biểu hiện một trạng thái cảm xúc đặc biệt như buồn, sợ,
vui, giận dữ, thất vọng, bồn chồn…
- Ánh mắt: nhìn thẳng, nhìn phía khác hay nhìn xuống, có vẻ lơ là, chú ý.
- Cử chỉ của tay chân, đầu: ít cử động, hay cử động nhiều, nhanh hay chậm. Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 13 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
- Vị trí của đối tượng: cao hơn, ngang tầm hay thấp hơn, khoảng cách xa, vừa hay quá
gần.
Tóm tắt ý chính
- 93% nội dung được thể hiện bằng giao tiếp không lời (cử chỉ, chất giọng…).
- Để thân chủ cảm thấy được lắng nghe và được hiểu, được khích lệ, được tôn trọng; từ
đó cởi mở, sẵn sàng chia sẻ hết để được giải tỏa.
- Rút gọn và làm rõ nghĩa những điều thân chủ muốn nói, làm nổi bật ý chính để cả hai
bên cùng hiểu vấn đề rõ hơn.
- Khiến cho tham vấn viên biết chắc chắn điều mình hiểu là chính xác hay không. Nếu
chưa chính xác, thân chủ có thể điều chỉnh lại.
- Tạo cơ hội cho thân chủ chia sẻ chi tiết hơn và đúng hướng hơn điều họ muốn nói (đi
sâu vào câu chuyện theo hướng nhà tư vấn muốn tìm hiểu).
- Giúp thân chủ nghe lại và ý thức rõ hơn về những điều họ vừa nói, đồng thời sẽ nảy
sinh ý thức trách nhiệm với lời nói của mình.
- Giúp đôi bên kiểm soát nhịp độ và thời gian của một buổi tham vấn: Giúp những thân
chủ nói quá nhiều đừng lặp lại những điều đã nói, nhờ đó đẩy nhanh cuộc đối thoại.
II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHẢN HỒI
1. Phản hồi nội dung
- Phản hồi nội dung là trình bày lại những ý chính đã nghe bằng một vài từ ngắn gọn
theo cách hiểu của mình, để thân chủ có cơ hội kiểm tra xem những thông điệp có
được hiểu đúng không, có cần đính chính, bổ sung hoặc giải thích cho rõ hơn
không. Trong diễn giải, tham vấn viên tập trung vào sự kiện hoặc nội dung của
những gì được nói.
- Phản hồi nội dung tốt có thể giúp thân chủ cảm thấy rõ ràng hơn về những gì họ
đang cố gắng bày tỏ. Nó cũng có thể giúp cho những người có suy nghĩ nhanh hay
những suy nghĩ rối loạn chậm lại. Với tư cách là người nghe, nó giúp ta đồng hành
với người nói.
- Nói lại ý chính của một câu nói bằng từ ngữ riêng của mình không phải là chuyện
dễ dàng. Tham vấn viên không chỉ cần nghe mà còn cần phải ghi nhớ và có một
vốn từ vựng phong phú để có thể nói lại mà không làm thay đổi ý nghĩa câu nói
của người kia.
- Làm như thế nào?
- Lời dẫn + những từ trọng tâm mà thân chủ đã nói + nội dung chính mà thân chủ đã
nói (bằng từ ngữ của mình) + Kiểm tra xem mình hiểu có đúng không.
Chắc lúc đó anh/chị cảm thấy…
Cảm xúc của anh/chị lúc này là…
Tôi cảm nhận anh/chị đang…
Nét mặt/cử chỉ/ánh mắt của anh/chị cho thấy hình như anh/chị đang…
3. Phản hồi nội dung và cảm xúc
Phản hồi cả nội dung và cảm xúc rất hữu ích khi sử dụng song song với nhau vì nó
cho phép người nói biết rằng, cả nội dung và cảm xúc của họ được người kia lắng
nghe.
4. Phản hồi phản chiếu
Tham vấn viên giữ vai trò như một tấm gương “phản chiếu lại” những gì thân chủ đã
nói bằng cách nhắc lại nguyên văn lời của họ. Phương pháp này giúp cho thân chủ nhận
thức lại vấn đề mình đang nói. Tuy nhiên, tham vấn viên không nên lạm dụng kiểu phản
hồi này vì sẽ khiến cho thân chủ cảm thấy khó chịu vì như bị nhại lại những gì mình đã
nói.
III. NHỮNG ĐIỀU NÊN VÀ KHÔNG NÊN LÀM KHI PHẢN HỒI
1. Nên
- Thận trọng cân nhắc khi phản hồi để tránh phản hồi sai và phải rơi vào hoàn cảnh
lúng túng.
- Ở vị trí trung lập: không chê bai, xét đoán, hoặc tâng bốc qua đáng.
- Phản hồi với thông tin cụ thể, ngắn gọn, rõ ràng và đúng lúc: Không làm cho thân
chủ thêm rối vì những câu phản hồi dài dòng, tối nghĩa; không vội hoặc để quá lâu
mới phản hồi mà biết lựa thời điểm phù hợp.
- Sử dụng các từ và cụm từ mang tính giả định: “phải chăng”, “dường như”, “có phải
là” thay vì đưa ra những câu phản hồi mang tính xác quyết và chủ quan. Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 16
ứng của thân chủ.
Không nên: chỉ trích, cường điệu, phán xét, moi móc, nói nhiều.
Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 17 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
Bài 5:
KỸ NĂNG ĐẶT CÂU HỎI
I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC ĐẶT CÂU HỎI TRONG THAM VẤN
Kỹ năng đặt câu hỏi là một kỹ năng rất quan trọng trong tham vấn. Nó đem lại những lợi
ích sau đây:
- Giúp đôi bên có thể bắt đầu câu chuyện.
- Giúp tham vấn viên thu thập thông tin liên quan đến: (a) cái nhìn tổng quát về vấn đề,
(b) những sự kiện then chốt của vấn đề, (c) cảm xúc của thân chủ truớc vần đề, (d)
nguyên nhân dẫn đến vấn đề (e) những điểm mạnh/yếu của thân chủ.
- Khích lệ thân chủ nói hoặc làm thân chủ nói ít lại về những đề tài không nên triển
khai.
- Giúp cho thân chủ cảm nhận được sự quan tâm của tham vấn viên đối với vấn đề của
mình, từ đó họ có thể phòng vệ hay chia sẻ.
- Giúp tham vấn viên hướng thân chủ về đề tài nhất định, tránh lạc đường.
Trang 18 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
3. Câu hỏi gợi ý
Đây là loại câu hỏi người hỏi đưa ra gợi ý cho người được hỏi. Loại câu hỏi có gợi ý
có thể làm cho người trả lời không nói sự thật.
Ví dụ: Cứ chần chừ mãi sẽ làm cho bệnh tình nặng thêm. Vậy chị thấy sao?
Cần:
- Hạn chế dùng câu hỏi đóng vì nó cho chúng ta biết rất ít về người đang nói chuyện
với ta.
- Nên dùng nhiều câu hỏi mở vì khi dùng loại câu hỏi này, ta dễ dàng biết được
người đang đối thoại có suy nghĩ gì và sẽ hành động như thế nào. Câu hỏi mở tạo
điều kiện cho đối tượng chia sẻ thoải mái.
- Không nên dùng câu hỏi gợi ý vì nó dễ cho những câu trả lời không thật.
4. Câu hỏi phức
Câu hỏi phức thường có từ “hoặc/hay” (ví dụ ông cảm thấy buồn hay ông đã cảm
thấy thanh thản?). Đặt câu hỏi phức có thể bị cho là thiếu tôn trọng thân chủ. Thân chủ
có thể nghĩ “tham vấn viên đang nghĩ mình không có khả năng trả lời”.
Vì thế, cần suy nghĩ kỹ trước khi đặt câu hỏi phức. Tốt hơn hết là nên tránh vì chúng
làm cho người nói rối mà không biết nên trả lời cái gì.
5. Câu hỏi “tại sao”
Mặc dù “tại sao”được xem là câu hỏi mở, nhưng dùng câu hỏi “tại sao” thường
không đem lại nhiều hiệu quả. “Tại sao” này có thể dẫn đến những “tại sao” khác (giống
trẻ con thường hay hỏi “tại sao”). Đôi khi thân chủ sẽ cảm thấy như mình bị “bắt bí” dù
mình đâu biết lý do tại sao.
Ví dụ: “Tại sao cha mẹ lại nghĩ rằng cháu điên khùng?”. Câu hỏi này không trả lời được
vì chỉ có ba mẹ mới biết câu trả lời là gì! Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 20 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
I. Tình huống 1: Tham vấn viên phải lòng thân chủ
Bạn (Tham vấn viên) đang giúp đỡ cho một thân chủ được 6 tuần, bạn nhận ra rằng cùng
với sự phát triển của quan hệ trợ giúp là quan hệ giới tính với khách hành. Việc tham vấn khó
khăn mặc dù vẫn cố giữ tỉnh táo nhưng vẫn sao lãng, kéo dài thời gian tham vấn mỗi lần và
có 2 lần mơ tình với thân chủ. Bạn nhận thấy thân chủ cũng có tình cảm đặc biệt với bạn, bạn
thấy mơ hồ (phân vân) là vi phạm nguyên tắc đạo đức.
Bạn có cho rằng sự hấp dẫn này thuộc về cá nhân hay chuyên môn và nó thể hiện như thế
nào?
Bạn có đồng ý trò chuyện với thân chủ về vấn đề này hay không? Nêu lý do, nếu có, sẽ
trò chuyện như thế nào?
Bạn có thảo luận với bạn đồng nghiệp (nhà chuyên môn, người giám sát chuyên môn) về
vấn đề này hay không? Tại sao? Nếu có thì thảo luận như thế nào?
Bạn tiếp tục làm việc với thân chủ này hay chuyển họ cho một tham vấn viên khác. Nếu
tiếp tục làm việc thì phải làm gì với những cảm xúc của mình (tham vấn viên) và cảm xúc
của thân chủ. Chuyển thân chủ cho tham vấn viên khác thì sẽ nói như thế nào?
Trang 21 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
Tham vấn viên không nói về tình cảm, cảm xúc của mình mà chuyển thân chủ cho một
chuyên gia (tham vấn viên) khác (tham vấn viên sẽ được an toàn hơn) nhưng cần phải lưu ý
rằng trường hợp này tham vấn viên đã làm việc với thân chủ được 6 tuần rồi, nếu chuyển thì
thân chủ sẽ rất bất ngờ nên khi chuyển thân chủ cho tham vấn viên khác cần phải lưu ý hai
vấn đề: không làm tổn thương về mặt chuyên môn và không để biểu lộ rằng tham vấn viên
yếu kém về mặt tình cảm.
Khi chuyển tham vấn viên sẽ nói với thân chủ:
Trong trường hợp của chị/anh/cô/chú, tôi và chị/anh/cô/chú đã làm việc với nhau được 6
tuần mặc dù có tiến triển nhưng cũng có một số khó khăn (nhưng công việc không được tiến
triển bao nhiêu). Mặt khác, trong quá trình xây dựng mối quan hệ nghề nghiệp giữa tôi với
chị/anh/cô/chú tôi biết chị/anh/cô/chú cũng có tình cảm với tôi (lưu ý không được nói rằng ta
có tình cảm với thân chủ). Tôi e rằng, những xáo trộn trong tình cảm sẽ ảnh hưởng ít nhiều
đến việc giải quyết vấn đề của chị/anh/cô/chú (nếu công việc cứ tiếp tục thì hiệu quả công
việc sẽ không được tốt). Vậy chị/anh/cô/chú nghĩ gì khi tôi chuyển vấn đề của chị/anh/cô/chú
cho một chuyên gia khác (tôi sẽ nói vấn đề này với người giám sát của tôi và sẽ tìm một
chuyên gia khác giúp đỡ chị/anh/cô/chú tốt nhất).
Lưu ý rằng, trong trường hợp đồng tham vấn luôn ghi nhận một điều gì đó là: Tham vấn
viên và thân chủ có thể chấm dứt hợp đồng khi hai bên thấy công việc tiến triển không tốt.
Tham vấn viên sẽ giải thích cho thân chủ về việc không thể duy trì mối quan hệ này trong
tham vấn vì sẽ vi phạm nguyên tắc đạo đức - hay còn gọi là sự loạn luân chuyên môn, mất đi
thân chủ trọng tâm, phá vỡ tính khách quan trong quá trình tham vấn, nguy cơ tổn hại đến cả
tham vấn viên và thân chủ, có thể tham vấn viên sẽ bị kiện ra tòa.
II. Tình huống 2: Bạn trao đổi với thân chủ về tính bảo mật thông tin (nguyên
tắc giữ bí mật), bạn phải truyền đạt như thế nào để thân chủ hiểu rõ được
SDRC - CFSI
IV. Tình huống 4: Các hành vi sau có đạo đức hay không?
1. Tham vấn viên và thân chủ có thể có mối quan hệ xã hội sau 3 năm
2. Trở thành tham vấn viên cho một trong những người bạn của mình.
3. Không cho thân chủ biết mục đích của trắc nghiệm mình đang làm với thân chủ.
4. Tham vấn viên dùng nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp để chống lại đồng nghiệp mình.
5. Nói cho thân chủ biết mình bực mình với thân chủ
6. Sử dụng các dịch vụ giải thích trắc nghiệm đã được vi tính hóa
7. Chấm dứt hợp đồng khi thân chủ không thể trả tiền
8. Chấp nhận sự phục vụ của thân chủ thay cho tiền thù lao
9. Để thân chủ tự làm trắc nghiệm ở nhà
10. Thay đổi việc chuẩn đoán để tương ứng với bảo hiểm
11. Nói với thân chủ rằng thân chủ rất hấp dẫn tình dục với mình
12. Sử dụng dịch vụ để đòi nợ khi thân chủ trả lệ phí chậm
13. Phá vỡ bí mật nếu thân chủ đã giết người
14. Bộc lộ bản thân như một kỹ thuật tham vấn
15. Tặng quà cho những người môi giới
16. Sử dụng việc tố tụng để thu hồi phí tham vấn cho thân chủ
17. Có quan hệ tình dục với thân chủ trước đây
18. Tránh một thân chủ nào đó vì sợ kiện cáo
19. Gặp thân chủ của đồng nghiệp mà không hỏi ý kiến đồng nghiệp
20. Cho thân chủ vay tiền
21. Chủ động hò hẹn tình cảm với thân chủ
22. Tặng một món quà trị giá ít nhất 500 nghìn đồng cho thân chủ
23. Có quan hệ tình dục với người giám sát
24. Nhận thù lao khi chuyển thân chủ cho người khác
25. Hợp tác kinh doanh với thân chủ
26. Có quan hệ tình dục với thân chủ của mình.
Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
9.
Hành vi này không có đạo đức, tuy nhiên theo kết quả điều tra thực tế có 26% tham vấn
viên chuyên nghiệp làm như vậy.
10.
Hành vi này không có đạo đức, tuy nhiên theo kết quả điều tra thực tế có 0,6% tham vấn
viên chuyên nghiệp làm như vậy.
11.
Hành vi này không có đạo đức, tuy nhiên theo kết quả điều tra thực tế có 17% tham vấn
viên chuyên nghiệp làm như vậy.
12.
Hành vi này không có đạo đức, tuy nhiên theo kết quả điều tra thực tế có 81% tham vấn
viên chuyên nghiệp làm như vậy.
13.
Hành vi này có đạo đức, tuy nhiên theo kết quả điều tra thực tế không có tham vấn viên
chuyên nghiệp nào vi phạm
14.
Hành vi này có đạo đức, tuy nhiên theo kết quả điều tra thực tế chỉ có 92% tham vấn viên
chuyên nghiệp làm như vậy.
15.
Hành vi này không có đạo đức, tuy nhiên theo kết quả điều tra thực tế chỉ có 20% tham
vấn viên chuyên nghiệp làm như vậy.
16.
Hành vi này không có đạo đức, tuy nhiên theo kết quả điều tra thực tế có 67% tham vấn
viên chuyên nghiệp làm như vậy.
17.
đạo đức
Trắc nghiệm này được đưa ra để đánh giá thái độ và niềm tin của bạn về những vấn
đề đạo đức nghề nghiệp chuyên môn. Hãy chọn câu trả lời gần nhất với quan điểm
của bạn, hay viết câu trả lời của riêng bạn vào mục “e”
- Trách nhiệm chính của một người làm tham vấn hoặc trị liệu là:
a) Đối với thân chủ
b) Đối với hãng đại diện của người làm tham vấn hay trị liệu
c) Đối với xã hội Dự án “Nâng cao năng lực cho NVCTXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012
Trang 24 Kỹ năng tham vấn trong CTXH
SDRC - CFSI
d) Đối với gia đình khách hành
e) …………………………………………………….
- Việc tham vấn hoặc trị liệu phải chủ yếu nhằm vào
a) Sự thay đổi hoàn toàn về mặt xã hội và về mặt chính trị
b) Việc loại bỏ những căn bệnh xã hội dẫn tới sự bất lực
c) Việc thay đổi cá nhân
d) Việc thay đổi hoặc điều chỉnh trong vòng cơ cấu gia đình
e) …………………………………………………
- Một người làm tham vấn hoặc trị liệu nên kết thúc một mối quan hệ tham vấn hoặc trị liệu
khi
a) Thân chủ quyết định kết thúc
b) Người làm tham vấn hay trị liệu cho rằng đã tới lúc kết thúc
b) Đạo đức nghề nghiệp nếu NTV hoặc trị liệu qui định rằng nó sẽ là những ham muốn
(mối quan tâm) nhiều nhất của thân chủ.