BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THÀNH NHÂN PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP
TRONG LĨNH VỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ
CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Hữu Hòa Đà Nẵng - Năm 2015LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
1.2.4. Gia tăng sự đóng góp của PPP trong nền kinh tế 37
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN PPP 38
1.3.1. Về chính trị 38
1.3.2. Về thể chế 38 1.3.3. Về kinh tế 38
1.3.4. Về xã hội 39
1.4. KINH NGHIỆM THÀNH CÔNG TRONG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH
PPP TRÊN THẾ GIỚI 39
1.4.1. Hàn Quốc 39
1.4.2. Trung Quốc 40
1.4.3. Kinh nghiệm tại Hồng Kông 41
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ
KẾT HỢP TRONG LĨNH VỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 42
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT
TRIỂN PPP 42
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên của Thành phố Đà Nẵng 42
2.1.2. Đặc điểm về kinh tế 43
2.1.3. Đặc điểm về xã hội 49
2.1.4. Môi trường thể chế 51
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH PPP THỜI GIAN QUA
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 52
2.2.1. Thực trạng phát triển về số lượng, quy mô các dự án PPP trong
thời gian qua 52
2.2.2. Chất lượng các dự án PPP trong thời gian qua 55
2.2.3. Cơ cấu của các dự án PPP trong thời gian qua 55
2.2.4. Mức độ đóng góp của PPP trong nền kinh tế 57
2.2.5. Các chính sách Chính quyền Thành phố áp dụng phát triển PPP
3.3.1. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội nhằm tạo điều kiện cho
PPP 92 3.3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền cho người dân hiểu và ủng hộ
PPP 92
3.3.3. Xây dựng cơ chế phối hợp các đơn vị của Nhà nước với PPP 92
3.4. KIẾN NGHỊ 93
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐÊ TÀI (bản sao)
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOT
Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (Build - Operate -
Transfer)
BTO
Xây dựng - Chuyển giao - Vận hành (Build - Transfer -
Operate)
BOO Xây dựng - Sở hữu - Vận hành (Build - Own - Operate)
BTL Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ
BLT Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao
DBFO
Thiết kế - Xây dựng - Tài trợ - Vận hành (Design - Build
- Finance - Operate)
O&M Kinh doanh - Quản lý
PPP
Nội dung liên quan đến phát triển PPP trong các Nghị quyết
HĐND thành phố Đà Nẵng
61
2.12.
Thang đo 67
2.13.
Kết cấu bảng câu hỏi 68
2.14.
Bảng kết quả phân tích mô tả 70
2.15.
Kết quả kiểm định hệ số Cronback’s Apha lần 2 73
2.16.
Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần 3 76
2.17.
Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần 3 77
2.18.
Danh mục các dự án PPP kêu gọi đầu tư trong thời gian đến 87
DANH MỤC CÁC HÌNH
dịch vụ công cộng đáp ứng nhu cầu tăng lên của người dân. Tuy nhiên, trong
điều kiện nguồn ngân sách của Nhà nước còn hạn chế, không thể dành nhiều
ngân sách cho việc đầu tư vào lĩnh vực công cộng vì còn phải đầu tư cho
nhiều lĩnh vực khác quan trọng như an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế,
xóa đói giảm nghèo… Bên cạnh đó, với cung cách quản lý hành chính quan
liêu, các hiện tượng tiêu cực như tham ô, tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư
công đã đến mức báo động làm cho việc sử dụng vốn không hiệu quả, thất
thoát vốn, thâm hụt vốn, chất lượng công trình không đảm bảo cũng làm hạn
chế hiệu quả đầu tư công, gây lãng phí, làm gia tăng thâm hụt ngân sách… Để
giải quyết yêu cầu này, việc phải tăng cường thu hút các nguồn vốn của xã hội
để đầu tư vào lĩnh vực này là rất cần thiết và cấp bách, trong đó mô hình công
tư kết hợp hay còn gọi là hợp tác công tư (Public Private Partnership, PPP) là
một hình thức đầu tư cần được ưu tiên xem xét. Theo các nhà kinh tế, về cơ
bản khi áp dụng loại hình PPP là tận dụng được lợi thế, điểm mạnh của Nhà
nước và khu vực tư nhân, điều đó mang lại lợi ích cho cả Nhà nước, khu vực
tư nhân và người dân sử dụng dịch vụ - sản phẩm của công tư kết hợp.
Đối với Đà Nẵng, là thành phố Trung ương tại miền Trung, trong
những năm qua Đà Nẵng luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
liên tục (bình quân hàng năm đạt từ 9-10%). Hiện nay thành phố đang đặt ra
mục tiêu phấn đầu là xây dựng thành công “Thành phố đáng sống”, “Thành
2
phố môi trường”; “Thành phố 5 không 3 có” Để hiện thực hóa mục tiêu
này, Thành phố đã triển khai rất nhiều chương trình phát triển như xây dựng
chỉnh trang các khu dân cư; xây dựng mới cầu đường; hoàn thiện hệ thống xử
lý nước thải; xây dựng các khu du lịch, giải trí; trường học, bệnh viện… Nhờ
sự tích cực quan tâm đầu tư của chính quyền Thành phố, sự ủng hộ của người
dân, đến nay Đà Nẵng đã dần định hình là một Thành phố phát triển, văn
minh sạch đẹp hàng đầu ở Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài những thành tích ấn
tượng đó, quá trình đầu tư công tại Đà Nẵng vẫn còn tồn tại một số bất cập,
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến hoạt động
đầu tư theo hình thức “công tư kết hợp” trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trong phạm vi thành phố Đà
Nẵng.
- Về thời gian nghiên cứu:
* Các số liệu thứ cấp: từ năm 2009 đến năm 2014.
* Các số liệu sơ cấp: Từ tháng 02/2015 đến tháng 5/2015.
- Tầm xa của các giải pháp: đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này, luận văn đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng: xem xét sự vật trong
trang thái động và trong mối quan hệ với các sự vật khác.
- Phương pháp nghiên cứu điều tra: sử dụng bảng câu hỏi để thu thập
thông tin cần thiết.
4
Khảo sát 66 cán bộ, nhân viên. Đối tượng được khảo sát được lựa chọn
ngẫu nhiên ở các doanh nghiệp đã tham gia và chưa tham gia PPP
Các dữ liệu được thu thập, mã hóa và thực hiện các thống kê dựa trên
phần mềm SPSS. Kiểm định thang đo sử dụng phương pháp phân tích nhân tố
khám phá Exploatory Factor Analysis, (EFA), hệ số tin cậy Cronbach alpha,
kiểm định giả thiết.
- Các phương pháp khác.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Qua nghiên cứu đề này có thể phát hiện các kết quả khả quan và hướng
đi thích hợp của việc áp dụng loại hình PPP trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình PPP trong lĩnh vực cung
nghị: Việt Nam cần phải hoàn thiện khuôn khổ thể chế PPP để tạo điều kiện
thuận lợi trong việc triển khai PPP.
Tác giả Phan Thị Bích Nguyệt (2013), “PPP - Lời giải cho bài toán
vốn để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí
Minh”. Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 10 (20). Nghiên cứu đã đánh giá
thực trạng cơ sở hạ tầng tại Thành phố Hồ Chí Minh còn yếu kém, đường sá
quá tải, hệ thống giao thông quá tải nên việc triển khai mô hình PPP là hết
sức cần thiết. Trên cơ sở đó tác giả đã phân tích, đánh giá các lợi ích của mô
hình PPP áp dụng trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng tại Thành phố Hồ
Chí Minh và các trở ngại chính trong việc triển khai thực hiện. Từ đó đề xuất
các công tác để nâng cao tính khả thi và hiệu quả cho các dự án về PPP: Hoàn
thiện hành lang pháp lý, Phân bổ rủi ro hợp lý, Lựa chọn dự án tiến hành PPP,
Tiến hành PPP theo chuẩn mực và tập quán quốc tế…
Tác giả La Hoàn (2012), “Thực trạng đầu tư theo hình thức hợp tác
công tư (PPP) tại Việt Nam”. Tác giả đã nghiên cứu, phân tích hình thức đầu
6
tư PPP ở các nước trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm và tỷ trọng
phân bổ nguồn kinh phí đầu tư cho PPP ở các nước đang phát triển. Qua đó
đưa ra các đề xuất: Tạo lập khuôn khổ pháp lý, chính sách thực thi hợp đồng
và giải quyết tranh chấp, cần có sự hỗ trợ chính trị và cam kết mạnh mẽ của
chính phủ.
Tác giả Hồ Công Hòa (2011), "Mô hình hợp tác công tư - giải pháp
tăng nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của tư nhân cho các dự án môi
trường ở Việt Nam". Trên cơ sở phân tích nhu cầu và thực trạng môi trường ở
Việt Nam tác giả đã chỉ ra được sự cần thiết áp dụng mô hình PPP trong các
dự án hạ tầng về môi trường.
Tác giả Phạm Dương Phương (2012),“Kinh nghiệm triển khai mô hình
đầu tư công - tư (PPP) trên thế giới để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô
thị, Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 12 (22). Tác giả đã chỉ ra được kinh
chỉ ra một số phương pháp để kêu gọi và triển khai thành công việc thu hút
vốn đầu tư phát triển ngành đường bộ Việt Nam.
Tác giả Phạm Quốc Trường (2014), Thực trạng PPP đưa ra một số đề
xuất về chương trình khung để vận hành dự án PPP phù với với điều kiện Việt
Nam”. Tạp chí Tài chính số 9/2014. Trong bài viết tác giả đánh giá thực trạng
công tác đầu tư PPP tại Việt Nam chủ yếu là các hình thức như: BOT, BTO,
BOO. Trong đó đáng kể nhất là hình thức BOT áp dụng khá phổ biến tại
ngành giao thông đường bộ nhưng hiệu quả còn hạn chế; đưa ra những nhân
tố ảnh hưởng đến sự vận hành PPP: giá trị tiền tệ, chia sẽ rủi ro, khả năng chi
trả. Qua phân tích tác giả đã đề xuất chương trình khung vận hành PPP tại
Việt Nam, bao gồm 5 giai đoạn: Xác định, ưu tiên và lựa chọn của dự án PPP;
Thẩm định và tính khả thi; Mua sắm; Thông báo trúng thầu và Quản lý hợp
đồng.
8
Tác giả Lê Thị Kim Phương và Nguyễn Thị Thu Hồng (2012), “Báo
cáo Chuyên đề về Mô hình Hợp tác công tư (PPP)”. Báo cáo đánh giá về Lộ
trình chuẩn bị và triển khai thực hiện dự án PPP; Các hình thức PPP; Các mô
hình đối tác giữa Nhà nước và Tư nhân ở Việt Nam và áp dụng các mô hình
này ở Thành phố Đà Nẵng. Qua báo cáo cũng thấy được những thuận lợi, hạn
chế khi triển khai dự án PPP tại Thành phố Đà Nẵng và đưa ra một số giải
pháp căn bản nhằm khuyến khích, đẩy mạnh đầu tư theo mô hình PPP vào
Thành phố Đà Nẵng trong những năm đến.
Ngoài các tài liệu trên, tác giả còn tham khảo các tham luận và phát
biểu tại Hội thảo “Khai thông môi trường đầu tư và lựa chọn mô hình Kết
hợp công tư trong cung cấp dịch vụ y tế”, do Bộ Y tế và Ngân hàng Thế giới
(WB) phối hợp tổ chức năm 2014. Hội thảo đã giới thiệu về kinh nghiệm
trong phát triển và vận hành mô hình PPP tại một số quốc gia như là một
trong những giải pháp hiệu quả huy động các thành phần kinh tế ngoài nhà
nước đầu tư vào mô hình PPP. Hội thảo cũng chỉ ra, điều quan trọng là không
Trong khi đó “Sổ tay hướng dẫn về PPP” do Ngân hàng phát triển châu
Á (ADB) phát hành năm 2008 coi thuật ngữ “mối quan hệ đối tác nhà nước -
tư nhân” miêu tả một loạt các mối quan hệ có thể có giữa các tổ chức nhà
nước và tổ chức tư nhân liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực
dịch vụ khác” (ADB, 2008).
Trong nghiên cứu “Khai thác lợi thế của PPP: Vai trò của chiến lược hỗ
trợ tài chính trong phát triển bền vững”, Colverson và Perera coi PPP “là một
hình thức được áp dụng trong một số dạng hợp đồng giữa nhà nước và khu
vực tư nhân nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ và phát triển cơ sở hạ tầng”
(Colverson và Perera, 2012).
10
Một số tổ chức chuyên hoạt động trong lĩnh vực PPP như Hội đồng
PPP của Canada, Hội đồng quốc gia về PPP của Mỹ cũng đưa ra những khái
niệm riêng của mình về PPP. Chẳng hạn như “PPP là một liên doanh hợp tác
giữa khu vực công và tư, dựa trên lợi thế của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu
của cộng đồng thông qua việc phân bố hợp lý nguồn lực, rủi ro và lợi ích”.
Mặc dù tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau trong thuật ngữ hoặc cách
diễn giải song về bản chất có thể định nghĩa: Hợp tác công tư (hay công tư kết
hợp, PPP) là sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân dựa trên
một hợp đồng dài hạn để cung cấp cơ sở hạ tầng hoặc dịch vụ công cộng.
Công tư kết hợp được thực hiện nhằm chia sẽ kinh nghiệm của mỗi đối
tác và đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của khách hàng thông qua phân bổ phù
hợp các nguồn lực, rủi ro và lợi ích.
b. Khái niệm về phát triển loại hình PPP
Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật. Sự phát triển
không chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, mà còn phải có sự thay đổi về
chất của sự vật, hiện tượng.
Trên cơ sở khái niệm về phát triển ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái
từ đối tác tư nhân; đối tác công trả công cho đối tác tư trong suốt vòng đời của
dự án PPP, căn cứ vào chất lượng dịch vụ cung cấp.
- Chủ thể tham gia PPP đa dạng: Đối tác công ở đây có thể là các Bộ,
ngành, các chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp trong nước. Đối
tác tư nhân có thể là các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư trong nước hoặc
ngoài nước.
12
1.1.2. Những lợi ích, thách thức của loại hình PPP
a. Những lợi ích của loại hình PPP
Thực tế là không phải lĩnh vực nào cũng nên áp dụng PPP bởi bản thân
nó chứa đựng cả lợi ích và thách thức. Trước khi quyết định lựa chọn áp dụng
PPP, việc tiến hành phân tích chi phí - lợi ích của loại hình này là rất quan
trọng. Dựa trên kinh nghiệm thực tế trong việc triển khai PPP ở các quốc gia
trên thế giới, những lợi ích và thách thức PPP mang lại như sau:
Về cơ bản tận dụng được lợi thế của Nhà nước và khu vực tư nhân và
điều đó mang lại lợi ích cho cả hai và người dân sử dụng sản phẩm, dịch vụ
của sự hợp tác công tư. Những lợi ích đáng chú ý nhất là:
- Tạo ra nhiều khoản đầu tư hơn cho cơ sở hạ tầng: với loại hình PPP,
Nhà nước sẽ giảm được gánh nặng phải tìm kiếm, sắp xếp và phân bổ nguồn
vốn đầu tư từ ngân sách cho cơ sở hạ tầng. Do vậy, Nhà nước có thể tiến hành
nhiều dự án đầu tư hơn hoặc tăng quy mô của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng.
- Tạo ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân: Với việc tham
gia vào loại hình PPP, khu vực tư nhân có được nhiều cơ hội đầu tư mang tính
dài hạn hơn, ít rủi ro hơn với sự đảm bảo của Nhà nước. Từ đó, tạo ra sự ổn
định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân, thúc đẩy sự phát triển của công
nghiệp địa phương cũng như tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn cho người lao
động.
- Phân bổ rủi ro tốt và hiệu quả hơn: Bất kỳ một dự án đầu tư nào đều
ẩn chứa những rủi ro, có thể là rủi ro về tài chính, về tiến độ thực hiện, về lợi
ràng được nhiều nghiên cứu và kinh nghiệp quốc tế thực tế chỉ ra đó là chất
lượng các dự án áp dụng loại hình PPP thường tốt hơn so với hình thức đấu
thầu truyền thống.
Chính phủ
- Tối đa hóa doanh thu
- Cung cấp khả năng tiếp cận dịch vụ phổ thông
- Đảm bảo các dịch vụ cơ bản có giá cả hợp lý
- Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh
- Thu hút các nhà đầu tư
- Cải thiện phúc lợi công cộng
Người lao động
- Đảm bảo đối xử công bằng với
người lao động
- Cung cấp các cơ hội việc làm
- Cải thiện năng suất, hiệu quả và
đời sống tinh thần
Người tiêu dùng
- Đảm bảo giá cả hợp lý
- Cải thiện chất lượng và độ tin
cậy của dịch vụ
- Tăng trách nhiệm giải trình và
khả năng phản hồi nhanh
Nhà đầu tư
- Đảm bảo quy trình quản lý điều tiết ổn định, minh
bạch
- Đảm bảo phân bố tài sản và tái cơ cấu tổ chức đem
lại hoạt động hiệu quả
- Cung cấp nguồn nhân lực đã được đào tạo
- Tạo ra nhiều cơ hội đầu tư hơn
dài hạn là những yếu tố cần thiết để tham gia loại hình PPP mà không phải
nhà đầu tư tư nhân nào cũng có thể đáp ứng được. Colverson và Perera (2012)
và Ministry of Municipal Affairs (1999) cho rằng điều này gây ra hai hậu quả:
15
thu hẹp sự lựa chọn đối tác tư nhân của Nhà nước; và tạo ra thị trường độc
quyền, ít sức ép cạnh tranh để các đối tác tư nhân được lựa chọn phấn đấu để
giảm chi phí hoặc nâng cao chất lượng dịch vụ.
- Thiếu năng lực và rủi ro chính trị: loại hình PPP đòi hỏi cả hai bên
Nhà nước và tư nhân đều phải có năng lực đủ mạnh về PPP; song trong rất
nhiều trường hợp, một hoặc cả hai bên đều không đủ năng lực. Ministry of
Municipal Affairs (1999) cho rằng “sự kết hợp của một chính quyền thiếu
năng lực, kinh nghiệm và một đối tác tư nhân không quen thuộc với PPP có
thể dẫn đến những rủi ro về mặt chính trị. Colverson và Perera (2012) lại lo
ngại về một hiện tượng thiếu năng lực khác, đó là việc mô hình PPP lại phụ
thuộc quá nhiều vào chuyên gia tư vấn bên ngoài và cả Nhà nước và Tư
nhân không học hỏi được gì qua quá trình triển khai dự án sau khi chuyên
gia rời đi.
- Thách thức mang tên “quyền kiểm soát”: Bản chất của loại hình PPP
chính là việc chia sẻ rủi ro, lợi ích và quyền quyết định của các bên. Đối tác
tư nhân với việc đầu tư về tài chính, công nghệ, nhân lực…cũng có tiếng nói
quan trọng trong việc xác định ai là người nắm quyền cung cấp dịch vụ.
- Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình thấp: Một trong những vấn
đề quan ngại khi áp dụng loại hình PPP là tính minh bạch của dự án sẽ không
cao như việc chỉ Nhà nước triển khai dự án. Nguyên nhân là do cách tiếp cận
thông tin của tư nhân rất khó khăn, đặc biệt là những thông tin tài chính,
thương mại, được coi là bí mật của các công ty. Ngoài ra việc đánh giá toàn
bộ dự án cũng sẽ rất khó khăn do những lý do tương tự, cộng thêm với việc
nguồn thông tin, dữ liệu do nhiều nguồn nắm giữ, công chúng khó có thể
kiểm tra được.
- Đối tác tư nhân cung cấp vốn cho hoạt động quản lý, điều hành nhưng
không có nhiệm vụ cung cấp vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng.