Thực trạng cán cân vốn Việt Nam giai đoạn 2005-2010 - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
A. Mở đầu:
Như chúng ta đã biết, Trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay, những mối
quan hệ kinh tế ngày càng được mở rộng, việc hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan của các quốc gia thì Việt Nam
cũng không nằm ngoại lệ. Đặc biệt Vệt Nam lại là đất nước đi lên từ nền nông
nghiệp lạc hậu, lượng tích luỹ tư bản còn thấp. Do đó, để đạt mục tiêu đưa nước
ta đi lên thành nước công nghiệp hoá hiên đại hoá bắt buộc chúng ta cần tìm
kiếm các nguồn đầu tư khác nhau và các dòng vốn từ nước ngoài luôn trở thành
một bộ phận hết sức quan trọng cho công cuộc phát triển,CNH-HĐH đất
nước .Vì vậy chúng ta luôn phải có cái nhìn đúng đắn về nguồn vốn hết sức
quan trọng này ,đặc biệt là cần có sự quan tâm đánh giá đúng mức về cán cân
vốn Việt Nam trong giai đoạn đã qua.Qua phân tích về cán cân vốn của Việt
Nam giai đoạn 2005-2010 đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI),và vốn
đầu tư gián tiếp (FII) chúng ta hãy cùng làm rõ hơn về vấn đề này.
1.Khái niệm và phân loại:
-Cán cân vốn hoặc cán cân tài chính là toàn bộ các giao dịch thu vào và chi
ra của các khoản đầu tư,cho vay,rút vốn,thanh toán nợ giữa những chủ thể ,cá
thể trong một quốc gia với các chủ thể và cá thể bên ngoài quốc gia.
Và trong quy trình vận động tự nhiên của nền kinh tế mở toàn cầu sẽ xảy
ra tình trạng thiếu hụt vốn ở một số quốc gia này và sự thặng dư vốn ở một số
quốc gia khác,khi đó quy luật cung cầu của thị trường sẽ là bàn tay vô hình để
cân bằng cán cân vốn.
-Các bộ phận của cán cân vốn:
 Phân theo thời hạn :
+ Nguồn vốn ngắn hạn
+ Nguồn vốn dài hạn
+Cán cân chuyển giao vốn một chiều
 Theo chủ thể tiếp nhận:-Các luồng vốn chảy vào khu vực tư nhân gồm:
+ Đầu tư trực tiếp (FDI)
+Đầu tư gián tiếp(FII)

các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chuyển giao kỹ thuật công nghệ cho nuớc
nhận đầu tư. Nhờ đó mà nước nhận đầu tư tiếp cận được các kỹ thuật tiên
tiến, kinh nghiệm quản lý và năng lực tiếp thị, đội ngũ lao động được đào tạo
và bồi dưỡng về nhiều mặt.
Việc tiếp nhận FDI không làm tăng nợ cho nuớc tiếp nhận đầu tư, trái
lại FDI còn tạo điều kiện để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
trong nước. Chủ thể của FDI - chủ yếu là các công ty đa quốc gia nắm giữ
khoảng 90% lượng FDI trên thế giới, họ còn tạo điều kiện để khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước. Với xu thế toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế thì FDI sẽ tăng mạnh trên toàn cầu
FDI thông qua 6 hình thức đầu tư:
 Công ty 100% vốn nước ngoài là hình thức công ty hoàn toàn thuộc
quyền sỡ hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự
thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh;
cho ra đời một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư và hoạt động dưới sự chi
phối về pháp luật của nước nhận đầu tư.
 Công ty liên doanh là hình thức công ty được hình thành với sự tham
gia của một hoặc nhiều bên của nước nhận đầu tư và nước đầu tư; cho ra đời
một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư và hoạt động duới sự chi phối của pháp
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
luật của nước nhận đầu tư.
 Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC, BOT, BTO,
BT) là hình thức đầu tư được ký giữa một chiều nhà đầu tư nuớc ngoài với một
hoặc nhiều doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nhằm hợp
tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập
pháp nhân.
 Đầu tư phát triển kinh doanh là trên cơ sở đã đầu tư ban đầu, đầu tư
them để phát triển kinh doanh.
 Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

chỉ giảm khoảng trên 10% so với năm 2008. Đây là kết quả đáng khích lệ trong
điều kiện vốn FDI quốc tế giảm nhiều và FDI của nhiều nước trong khu vực
giảm 20-30%. Thực trạng này phản ánh độ tin cậy khá cao của các nhà đầu tư
nước ngoài đối với Việt Nam.
Đứng ở vị trí thứ 12 trong xếp hạng chung Chỉ số niềm tin FDI, Việt Nam
được báo cáo của A.T. Kearney xếp ở vị trí thứ 93 về mức độ thông thoáng của
môi trường kinh doanh (Ease of Doing Business Ranking).
Trong số các nước Đông Nam Á lọt vào Top 25 của xếp hạng Chỉ số niềm
tin FDI 2010, Việt Nam đứng trên Indonesia (vị trí 21), Malaysia (vị trí 20), và
Singapore (vị trí 24).
Mới đây, Tập đoàn tài chính đầu tư Goldman Sachs (Hoa Kỳ) đã xếp Việt
Nam nằm trong nhóm 11 nước (N-11) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới
trong năm 2010, mở ra những cơ hội cho các nhà đầu tư và là địa chỉ đầu tư tốt
cho các nhà đầu tư thế giới trong các năm tiếp theo…Với những đánh giá trên
và triển vọng tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 được dự báo khá lạc quan có
thể hy vọng FDI sẽ lại khởi sắc mạnh mẽ tại Việt Nam.
- Cơ cấu vốn FDI 2005 - 2010
Theo ngành
Ngành Công nghiệp Dịch vụ Nông nghiệp
Tỉ lệ vốn thực
hiện
60% 35% 5%
Theo số liệu của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
Cơ cấu phân bổ vốn FDI vào Việt Nam hiện nay còn chưa hợp lý. Hiện tại
lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư vốn
FDI nhất, đứng thứ 2 là lĩnh vực bất động sản. Đầu tư vào khai thác tài nguyên
và bất động sản cũng có xu hướng tăng lên.
Trong khi đó, FDI trong lĩnh vực công nghiệp chế biến đã bị giảm liên tục
từ năm 2005 (từ 70,4% năm 2005 xuống còn 13,6% năm 2009). Thậm chí, vốn
đầu tư chủ yếu tập trung vào công nghiệp lắp ráp nhằm tận dụng lao động rẻ, có

Nam Bộ có rất ít dự án FDI, mặc dù Chính phủ đã có chính sách ưu đãi đặc biệt
cho các tỉnh đó và chính quyền địa phương rất quan tâm đến hoạt động xúc tiến
đầu tư. Thực trạng đó đặt ra hai vấn đề cần được giải quyết: phân bố nguồn lực
và hạ tầng kỹ thuật, xã hội.
Việc phân bố nguồn lực bao gồm FDI cần được điều chỉnh theo hướng
vừa tạo ra một số đầu tàu kinh tế ở những địa phương có sức lôi kéo kinh tế
vùng và cả nước như Hà Nội và TPHCM, nhưng lại phải điều phối hợp lý để
thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội ở những địa phương chậm phát triển, chưa
có môi trường thuận lợi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Những địa phương
này cần được Chính phủ ưu tiên trong việc phân bố nguồn vốn từ ngân sách nhà
nước, có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp tại địa phương và
doanh nghiệp trong nước đầu tư và kinh doanh. Các tập đoàn kinh tế nhà nước
có trách nhiệm phân bố nguồn lực cho các địa phương này để giải quyết một số
vấn đề kinh tế- xã hội bức thiết, nhất là xóa đói, giảm nghèo, không làm giãn
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thêm khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế so với các địa phương có điều
kiện thuận lợi hơn.
Để thu hút vốn FDI vào các địa phương kém phát triển thì quan trọng nhất
là xây dựng hạ tầng kỷ thuật và xã hội. Kinh nghiệm của nhiều tỉnh đã chỉ ra
rằng, chính sách ưu đãi thuế, đất đai là cần nhưng chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư,
mà chính là mạng lưới đường giao thông hiện đại, cung ứng điện, nước đầy đủ,
có phương tiện thông tin hoàn chỉnh có thể liên lạc với thế giới, có các trường
đào tạo nghề đủ cung ứng cho các dự án đầu tư về số lượng, cơ cấu và chất
lượng nguồn nhân lực. Từng địa phương không thể tự giải quyết được những
vấn đề to lớn đó, mà cần có sự quản lý thống nhất của Chính phủ để giải quyết
dứt điểm từng vấn đề trong một thời gian nhất định, theo quan điểm hình thành
kinh tế vùng lãnh thổ với sự phân công và hợp tác của nhiều địa phương, được
điều hành bằng cơ chế và cơ cấu tổ chức thích hợp.
Đối tác đầu tư:

trong giai đoạn 2007-2009 cũng gia tăng đáng kể, chiếm khoảng 40% (không kể
dầu thô) tổng XK cả nước, nếu tính cả giá trị XK dầu thô thì tỷ trọng này đạt
khoảng 55%.
Khu vực có vốn ĐTNN cũng đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước,
thể hiện qua việc thu nộp ngân sách tăng dần qua các năm, năm 2007 nộp ngân
sách 1,57 tỷ USD, năm 2008 là 1,98 tỷ USD và năm 2009 là 2,47 tỷ USD. Ngoài
ra, vốn ĐTNN còn góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào nước
ta, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng như viễn thông, thăm dò và khai
thác dầu khí, hoá chất,cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy...
Thứ hai ,tạo công ăn việc làm và đào tạo nghề là một trong những đóng góp
quan trọng của khu vực FDI. Doanh nghiệp có vốn FDI đã tạo việc làm cho trên
1,2 triệu lao động trực tiếp, trong đó nhiều lao động đã được đào tạo ở nước
ngoài.
Thứ ba, đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Về cơ
cấu, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 37% giá trị sản
xuất công nghiệp của cả nước. Về cơ cấu vùng, đầu tư nước ngoài tập trung chủ
yếu ở các vùng kinh tế trọng điểm đã góp phần làm cho các vùng này thực sự là
vùng kinh tế động lực để lôi kéo sự phát triển chung và các vùng phụ cận.
Thứ tư, đầu tư nước ngoài là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền
kinh tế thế giới, thúc đẩy phát triển thương mại, du lịch và tạo điều kiện quan
trọng để Việt Nam hội nhập ngày càng chủ động và sâu hơn vào đời sống kinh
tế thế giới.
Thứ năm, đầu tư nước ngoài có tác động đến kinh tế trong nước, thúc đẩy
các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị
doanh nghiệp cũng như phương thức kinh doanh; đồng thời nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế.
Hạn chế:
-Bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI cũng đã và đang tạo ra những tác
động tiêu cực, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Phần

Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FII lại
có tác động kích thích thịt trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu
quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý
nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ
các mối quan hệ kinh tế. Sau đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu về FII.
II.Khái quát về đầu tư gián tiếp nước ngoài:
1. Khái niệm đầu tư gián tiếp nước ngoài:
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khoản 3 điều 3 Luật đầu tư quy định “Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư
thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng
khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không
trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Một cách đơn giản hơn, FII là đầu
tư tài chính thuần tùy trên thị trường tài chính.
2. Đặc điểm của đầu tư gián tiếp nước ngoài:
2.1 Tính bất ổn định:
Mục tiêu của các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư gián tiếp là tỷ suất lợi tức
cao mà không quan tâm đến quá trình kinh doanh sản xuất. Vì vậy, các nhà đầu
tư luôn có xu hướng thay đổi các chứng khoán hoặc tài sản mình đang sở hữu,
nhằm tìm kiếm mức lợi tức cao nhất họ có thể đạt được với độ rủi ro thấp nhất.
Việc này dẫn tới tính mất ổn định của dòng vốn FII.
2.2. Tính dễ đảo ngược:
Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FII thực sự gây tác động xấu đến nền kinh
tế và là hệ quả tất yếu của tính bất ổn định. Chỉ trong một thời gian ngắn, luồng
vốn FII có thể chuyển sang một thị trường khác để lại hậu quả khôn lường cho
nền kinh tế.
3. Các tác động của FII:
FII có vai trò lớn trong nển kinh tế tòan cầu nói chung và đối với từng nước
nói riêng. FII có tác động nhiều mặt, cả tích cực và tiêu cực đối với nước đầu tư

và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng.
3.2. Một số tác động tiêu cực:
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, việc gia tăng thu hút vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam có thể gây ra một số tác động tiêu cực sau:
Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn về kinh tế có nhân tố nước
ngoài. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện dưới dạng đầu tư tài
chính thuần tuý mang tính thanh khoản cao, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước
ngoài dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn
đầu tư của mình về nước. Trong tình huống như vậy, một sự đổ vỡ, một cuộc
khủng hoảng đầu tư – tài chính - tiền tẹ, nếu không có và triển khai tốt các
phương án phòng ngừa hiệu quả.
Thứ hai, làm gia tăng nguy cơ bị mua lại, sáp nhập, khống chế và lũng đoạn
tài chính đối với các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán.
Thứ ba, làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng
tội phạm kinh tế quốc tế. Đầu tư gián tiếp quốc tế còn là mảnh đất màu mỡ sinh
sôi và phát triển các loại tội phạm kinh tế có yếu tố nước ngoài, thậm chí xuyên
quốc gia, như hoạt động lừa đảo, hoạt động rửa tiền, hoạt động tiếp vốn cho các
kinh doanh phi pháp và hoạt động khủng bố, cùng các loại tội phạm và các đe
doạ an ninh phi truyền thống khác.
Thứ tư, làm tăng áp lực lạm phát trong nước.
3. Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài:
Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài bao gồm: Mua cổ phần, cổ phiếu,
trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác thông qua quỹ đầu tư chứng khoán
hoặc thông qua các định chế tài chính trung gian khác.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status