Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một só tổ hợp ngô rau lai trồng vụ thu năm 2014 tại phường xuân hòa, thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
• • • • KHOA SINH - KTNN

NGUYỄN THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT
TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ TÔ HỢP NGÔ RAU
LAI TRÒNG cụ THU NĂM 2014 TẠI PHƯỜNG XUÂN HÒA, THỊ XÃ
PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • • Chuyên ngành: Kỹ thuật nông nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
• • • • KHOA SINH - KTNN

NGUYỄN THỊ TRANG
HÀ NỘI - 2015
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGỒ RAU LAI TRỒNG cụ THU NĂM 2014 TẠI
PHƯỜNG XUÂN HÒA, THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • • Chuyên ngành: Kỹ thuật nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
TS. DƯƠNG TIẾN VIỆN
HÀ NỘI - 2015
Đe hoàn thành khóa luận này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và
chân thành nhất đến với thày giáo TS. Dương Tiến Viện đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa
luận.
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo cô
giáo trong Khoa Sinh - KTNN trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã giúp

sản xuất ngô rau như Thái Lan, Trung Quốc đặc biệt là Trung Quốc đã có ngô
rau thái khoanh chất lượng cao (Hongan Food Company, 2005). Những năm
gần đây đồ hộp ngô rau của Việt sản xuất đã đảm bảo được các yêu cầu về chất
lượng so với các sản phẩm cùng loại của Thái Lan và Trung Quốc. Ngày nay,
khi mà đời sống con người ngày một nâng cao thì nhu càu sử dụng ngô làm
thực phẩm ngày càng lớn. Người ta sử dụng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp,
chế biến thành các món ăn được nhiều người ưa chuộng như ngô bao tử xào,
súp ngô, snack ngô
Sau khi thu hoạch ngô non, phàn thân lá là khối lượng thức ăn xanh giàu
dinh dưỡng cho gia súc, nguồn thức ăn này có thể sử dụng trực tiếp ăn tươi
hoặc ủ chua làm thức ăn trong những ngày mùa đông nghèo nàn cỏ xanh.
Ở Việt Nam việc xen canh cây ngô rau vào hệ thống cây trồng lương
thực đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần đa dạng hoá cây
ừồng, cải thiện hệ sinh thái và tỏ ra là 1 phương thức sản xuất có hiệu quả.
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ có vị trí địa lý thuận lợi
cho sự phát triển kinh tế xã hội, Vĩnh Phúc đã được Chính phủ xác định là một
trong tám tính nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Trong những năm
gần đây, tốc độ phát triển công nghiệp hoá và đô thị hoá của Vĩnh Phúc diễn ra
khá nhanh, do vậy trong một thời gian ngắn diện tích đất trồng trọt của
7
Vĩnh Phúc đã bị giảm rất nhiều. Năm 1997 khi mới tách tỉnh, Vĩnh Phúc có
tổng diện tích đất tự nhiên là 137.224,14 ha, trong đó diện tích đất sản xuất
nông nghiệp là 66.780,85 ha, đến năm 2012 diện tích đất sản xuất nông
nghiệp của Vĩnh Phúc còn 49.906,92 ha (giảm 25,27 %). (Nguồn: Cục thống
kê Vĩnh Phúc; Niên giám thống kê Vĩnh Phúc, 2012)[2].
Việc xây dựng và xác định cơ cấu cây trồng họp lý với điều kiện đất đai và
mức độ thâm canh của địa phương là cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, nâng hệ số sử dụng đất và giá trị
kinh tế cao trên một đơn vị diện tích. Hiện nay, tại Xuân Hòa - Phúc Yên -
Vĩnh Phúc đã có bước đầu chuyển biến trong công tác sản xuất ngô rau. Ngô

Trong sản xuất nông nghiệp, cụ thể là ngành ừồng trọt thì giống cây
trồng là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu
quả của quá trình sản xuất. Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú đa dạng đã
tạo điều kiện cho chúng ta thực hiện quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
mùa vụ nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng và khắc phục những hạn chế
về đất đai, thời tiết khí hậu của từng vùng sinh thái, tạo sự đa dạng hoá sản
phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Sản xuất nông nghiệp là đòn bẩy thúc
đẩy các ngành khác phát triển như ngành chăn nuôi, công nghiệp chế biến do
vậy các biện pháp tác động nhằm tăng năng suất, chất lượng cây trồng là rất
cần thiết. Tuy nhiên, năng suất cây trồng còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại
cảnh, kỹ thuật sản xuất, trình độ dân trí, tập quán sản xuất và việc sử dụng
giống. Do vậy, để có giống mới phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa
9
phương thì cần đánh giá khả năng thích ứng của các giống với điều kiện ngoại
cảnh, mức độ thâm canh thực tế sản xuất hiện nay của địa phương.
Trong thời gian gần đây các nhà khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã
chọn tạo được nhiều giống ngô lai có năng suất cao, chất lượng tốt đưa vào
sản xuất, do vậy diện tích ngô của cả nước tăng lên rất nhanh, đặc biệt là diện
tích trồng ngô lai nên năng suất và sản lượng được cải thiện rõ rệt. Ngoài các
giống ngô tẻ lai, ngô nếp lai cho năng suất cao, các nhà chọn giống đã bắt đầu
chuyển sang hướng tạo giống ngô rau đã thu được một số kết quả và rất nhiều
các giống ngô rau mới có triển vọng của Viện nghiên cứu ngô đang cần được
1
khảo nghiệm và trồng thử nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau để
đưa vào sản xuất đại trà.
Trong những năm gần đây, sản xuất ngô của Việt Nam có sự thay đổi
rất lớn, cây ngô chuyển từ vai trò cây lương thực thảnh loại cây trồng chính
cung cấp thức ăn cho chăn nuôi và nguyên vật liệu cho chế biến. Đặc biệt,
cây ngô được biết đến là cây thực phẩm với việc sử dụng bắp ngô bao tử

lai đơn là chủ yếu. Ở Châu Á, Trung Quốc là cường quốc ngô lai
với diện tích 34,9 triệu ha, trong đó 96% là diện tích trồng ngô lai,
năng suất bình quân đạt 5,95 tấn/ha và sản lượng 208,2 triệu tấn.
Có thể nói, Mỹ và Trung Quốc là hai cường quốc có diện
tích trồng ngô lớn nhất và cao gấp nhiều lần so với các quốc gia
khác. Theo số liệu của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên
hợp quốc (FAO) việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang
Quốc gia Diện tích (triệu Ha) Năng suât (tân/ha) Sản lượng (tạ/ha)
2010 2011 2012 2010 2011 2012 2010 2011 2012
Thê giới 164,30 172,04 177,37 5,18 5,16 4,91 581,17 888,00 872,06
Mỹ 63,8 64,1 67,6 7,07 6,830 6,18 445,19 428,45 418,22
Trung Quôc 32,5 33,5 34,9 5,45 5,74 5,95 177,54 192,90 28,23
Brazin 12,6 13,2 14,1 4,36 4,21 5,00 53,36 55,66 71,07
An Độ 8,55 8,71 8,40 2,54 2,49 2,50 21,72 21,76 21,06
Mêxico 7,14 6,06 6,92 3,20 2,90 3,12 23,30 17,63 22,06
Indonesia 4,13 3,86 3,95 4,43 4,56 4,89 18,32 17,62 17,37
Pháp 1,58 1,59 1,71 8,81 9,90 9,01 13,97 15,91 19,61
Thái Lan 1,16 1,12 1,08 4,10 4,21 4,45 48,60 48,16 48,13
Nguôn: FAOSTAT, 2012 [15]
có sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước
nhập khẩu ngô tăng dần, còn các nước xuất khẩu ngô thì lại có
6
xu hướng giảm. Nước xuất khẩu ngô nhiều là Mỹ, Trung Quốc,
Braxin, các nước nhập khẩu ngô chính là Nhật Bản, Nam Triều
Tiên, Malayxia,
Thái Lan là nước có đóng góp lớn trong việc sản xuất và sử dụng
dạng ngô bao tử làm rau. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô rau ở
Thái Lan (1987-
1991)
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô rau ở Thái Lan

nông nghiệp, kinh tế Việt Nam lên hàng ngũ những nước tiên tiến ở Châu
Á.
Bảng 1. 3. Sản xuất ngô Việt Nam từ năm 1961 - 2012
Năm 1961, năng suất ngô nước ta chỉ bằng 58,8% so với trung bình
thế giới (1,14/1,94 tấn/ha); năm 2005 bằng 75% (3,6/4,8 tấn/ha) và năm
2012 đạt tới 87,3% (4,29/4,91 tấn/ha). Sản lượng ngô Việt Nam so với thế
giới năm 1961 sản lượng đạt 261280 tấn (chiếm 0,12%), năm 2005 đạt
3787100 tấn (chiếm 0,54%) đến năm 2012 đạt 4761900 tấn (chiếm
0,55%). Diện tích trồng ngô nước ta năm 1961 chỉ trồng được 229200 ha
(chiếm 0,21% so với thế giới); năm 2012 diện tích trồng ngô là 1110000 ha
(chiếm 0,94% so với thế giới).
Nhờ chính sách đổi mới, sự quan tâm đầu tư đúng mức của nhà nước và sự
phát huy nội lực cao độ của người làm công tác chọn tạo giống ngô,
chương
1
Năm 1961 1990 2000 2005 2007 2009 2010 2012 2012
Diên tích ■
(1000 ha)
229,2
0
432,0 730,2 1052,6 1096,1
8
1089,
2
1160 1120 1110
Năng suât
(tấn/ha)
1,14 1,55 2,75 3,60 3,93 4,01 4,08 4,31 4,29
Sản lượng
(1000 tấn)

ừong một thời gian ngắn diện tích đất ừồng trọt của Vĩnh Phúc đã bị giảm rất nhiều.
Năm 1997 khi mới tách tỉnh, Vĩnh Phúc có tổng diện tích đất tự nhiên là 137.224,14
ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 66.780,85 ha, đến năm 2009 diện
tích đất sản xuất nông nghiệp của Vĩnh Phúc còn 49.906,92 ha (giảm 25,27 %).
(Nguồn: Cục thống kê Vĩnh Phúc; Niên giám thống kê Vĩnh Phúc, 2009)[2].
Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc, tính đến năm
2009 (sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, tách huyện Mê Linh ra
9
khỏi tỉnh) toàn tỉnh có tổng diện tích đất tự nhiên 123.176,43 ha. Trong đó: đất
nông nghiệp: 85.034,72 ha, chiếm 69,0 %; bao gồm:
- Đất sản xuất nông nghiệp 49.906,92 ha, chiếm 58,7 % diện tích đất nông nghiệp
và 40,5 % diện tích tự nhiên.
- Đất lâm nghiệp 32.804,62 ha, chiếm 38,6% diện tích đất nông nghiệp và 26,6%
diện tích dự nhiên.
-Đất nuôi trồng thuỷ sản 2.283,44 ha, chiếm 2,7% diện tích đất nông
nghiệp.
Vĩnh Phúc cũng là tỉnh đầu tiên miễn thủy lợi phí cho nông dân. Với những điều
kiện thuận lợi như trên nên năng suất, sản lượng lương thực nói chung và cây
ngô nói riêng của VTnh Phúc tăng lên rõ rệt.
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của Vĩnh Phúc
(Nguồn: Cục thống kê Vĩnh Phúc 2000-2009 ; Cục Thống kê Vĩnh Phúc số
536/TK-NN ngày 28/12/2010).
Diện tích đất nông nghiệp của các huyện thị được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.5. Diện tích đất nông nghiệp các huyện, thị tỉnh Vĩnh Phúc
(2010-2012)
Năm 2000 2005 2007 2008 2009 2010
Diện tích
(1000 ha)
20.1369 16.4908 15.2418 18.5068 7.8608 17.8471
Năng suât

sản
Đât nông
nghiệp khác
Vĩnh Yên 1.971,81 144,79 149,60 0,18
Phúc Yên 3.573,48 4.613,12 147,72 1,27
Lập Thạch 8.144,44 4.352,87 205,85 6,38
Tam Dương 5.392,18 1.395,72 267,08 19,77
Tam Đảo 4.374,07 14.618,35 28,00
-
Bình Xuyên 6.299,41 3.633,59 346,29 14,36
Yên lạc 6.283,60
-
1.172,79 4,54
Vĩnh Tường 8.056,30
-
1.124,48 27,37
Sông Lô 6.270,70 3.930,22 148,40
-
- (Nguồn: Niên giám thống kê Nông lâm nghiệp - Thủy sản tỉnh Vĩnh Phúc
2009 - 2010)
1.4. Nguồn gốc, phân loại và đặc tính của ngô rau
Những nghiên cứu về nguồn gốc cây ngô của Vavilop (1926) đã cho thấy
Mêhicô và Pêru là trung tâm phát sinh và đa dạng di truyền của cây ngô. Mêhicô là
trung tâm thứ nhất còn Andet (Pêru) là trung tâm thứ hai, nơi cây ngô đã trải qua quá
trình tiến hoá nhanh chóng. Ở châu Mỹ cây ngô đã được các bộ tộc da đỏ trồng rộng
rãi ở khắp châu lục và để nuôi sống họ (Columbus, 1492).
Năm 1494, cây ngô được đưa về Tây Ban Nha và bắt đầu mang lại nền văn
minh cho châu Âu. Người châu Âu nhanh chóng nhận biết được giá trị lương thực
của cây ngô và đã phổ biến trồng rộng rãi vì cây ngô dễ ừồng, dễ chăm sóc, thu
hoạch lại cho năng suất cao, ăn ngon, giá trị dinh dưỡng cao. Tuy nhiên trong suốt

chỉ ra một nguồn gốc chung đối với mọi loại hình ngô hiện có. Hầu hết các nhà
nghiên cứu tin rằng ngô hình thành tò teosinte, Euchlaena mexicana Shrod, một loại
cây trồng hàng năm có lẽ có họ hàng gần nhất với ngô.
Ngô rau trong điều kiện trồng ừọt bình thường, đảm bảo chu trình
sinh trưởng và phát triển cũng biểu hiện hoàn toàn giống với cây
ngô lấy hạt. Tuy nhiên không phải tất cả các cây ngô lấy hạt khi
thu hoạch non đều có thể làm ngô rau. Thông thường ngô bao tử
được thu hoạch ở giai đoạn còn rất non, phun râu khoảng 1-2 cm.
Các giống ngô rau đang được trồng và sản xuất hiệu nay thuộc hai
nhóm giống chính là thụ phấn tự do và ngô lai.
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 6 tổ hợp ngô rau lai được ký hiệu Rl, R2, R3, R4,
R5, R6 do Bộ môn Chọn tạo giống ngô, Viện nghiên cứu Ngô Trung ương lai tạo với
2 giống đối chứng là LVN23 (Viện nghiên cứu ngô, đã được công nhận tạm thời năm
1998) và SG22 được nhập nội từ Thái Lan.
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian: Vụ thu từ tháng 12/8/2014 - 21/10/2014.
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Phường Xuân Hòa - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3 Nội dung, phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Bố trí thí nghiệm
Các giống ngô được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần nhắc lại.
Diện tích ô 14 m
2
(5 m X 2,8 m). Khoảng cách giữa các lần nhắc lại tối thiểu lm. Mỗi
giống được gieo 4 hàng/ô. hàng cách hàng 60 cm.Giống đối chứng là SG22, LVN23.
2.3.2. Quỉ trình kỹ thuật
Khoảng cách trồng, bón phân, chăm sóc và các chỉ tiêu theo dõi được áp dụng

chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác của giống ngô”, Bộ Nông
nghiệp và PTNT ban hành.
- Thời gian sinh trưởng (ngày): Tổng thời gian tính từ khi gieo đến khi thu
hoạch bắp cuối cùng khi râu ngô phun (1-2 cm).
- Số lá trên cây: Đếm số lá thật ừên cây.
- Trạng thái cây: Quan sát đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, độ đồng
đều về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh, chống đổ của 10
cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô và cho điểm từ 1 - 5.
- Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp (cm) được đo từ mặt đất đến nhánh phân
cờ đầu tiên và đốt mang bắp đầu tiên của 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô.
- Bắp hữu hiệu là những bắp có kích thước đạt tiêu chuẩn ngô bao tử (Bộ Nông
nghiệp và PTNT): chiều dài 7 - 9 cm; đường kính 1 - 1 , 5 cm.
- Chiều dài bắp bao tử (cm) được đo từ đáy bắp đến mút bắp ở thời điểm thu
hoạch khi râu ngô phun (1-2 cm), chỉ đo ở bắp thứ nhất.
- Đường kính bắp bao tử (cm) đo bằng thước kẹp panme, đo ở giữa bắp của bắp
thứ nhất.
- Độ mịn được đánh giá bằng phương pháp cảm quan, chia ở các cấp độ: mịn,
thô và trung bình (TB).
- Mức độ nhiễm sâu bệnh hại, đổ rễ, đổ gẫy thân.
- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất được tính bằng số bắp
bao tử/cây, năng suất thực thu bắp bao tử (tạ/ha); Năng suất thân lá
xanh (tạ/ha).
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu thu được từ thí nghiệm được xử lý bằng chương trình Excel
- Các kết quả nghiên cứu được xử lý thống kê bằng phần mềm IRRISTAT.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ THẢO LUẬN
3.1. Các giai đoạn sinh trưởng và thòi gian sinh trưởng của một số tổ hợp ngô
rau lai
Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước, số lượng như: chiều cao cây, số
lá/cây, số nhánh, số lượng rễ

Sau khi mọc mầm, cây ngô bước sang giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, ở
giai đoạn này các bộ phận trên mặt đất (thân, lá ) sinh trưởng chậm, sau đó thì
thân lá tăng nhanh, bộ rễ phát triển mạnh. Thời gian từ gieo đến trồ cờ của các tổ
họp ngô rau lai từ 47 - 53 ngày. Đối với tổ họp ngô rau lai R2 thì có thời gian trỗ
cờ là 47 ngày. Các tổ họp ngô rau lai Rl, R3, R6 là 49
Bảng 3.1. Thời gian sinh trưởng và thu hoạch của một số tổ họp ngô rau
lai trồng vụ thu 2014 tại Xuân Hòa - Phúc Yên - Vĩnh Phúc
__________________________________________________(Đơn vị: ngày)
N

\. Chỉ tiêu Tổ
hợplaSv
Thời gian tò gieo đên
Thời
gian
sinh
trưởng
Mọc Trô
cờ
Thu
lần 1
Thu
lần 2
Thu
lần 3
Thu
lần 4
Thu
lần 5
RI 4-5 49 51 53 55 57 59 61

hoạch ngắn nhất ( 48 ngày).
3.1.5. Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của mỗi giống ngô phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác
nhau từ thời vụ, đất đai, khí hậu, giống đặc biệt là thời gian sinh trưởng dài hay
ngắn phụ thuộc vào thời vụ.

Trích đoạn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 201 QCVN 01 56:2011/BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status