Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thu thuế GTGT trên địa bàn tỉnh bình phước - Pdf 30

1

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Mở đầu
1.1.1. Đặt vấn đề
Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước, trên Thế giới hiện nay, bất kì một
Quốc Gia nào cũng đều sử dụng thuế là công cụ quản lý và điều tiết kinh tế, thuế là
nguồn thu quan trọng không thể thiếu trong Ngân sách của mỗi Quốc Gia. Tùy theo
tình hình kinh tế xã hội mà mỗi Quốc Gia có một hệ thống thuế cho riêng mình. Theo
khảo sát của Ngân hàng thế giới (2011) trên 85 nước, thống kê cho thấy khoảng 60
nước có khoản thu thuế chiếm hơn 80% tổng thu Ngân sách nhà nước (trong đó có Việt
Nam). Điều đó cho thấy thuế đóng vai trò cực kỳ to lớn đối với mỗi quốc gia, theo
F.Anghen: “Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những công
dân cho Nhà nước, đó là thuế má”.
Trong cơ chế thị trường với nền kinh tế vận hành ngày càng đa dạng thì công tác
quản lý các đối tượng nộp thuế, kê khai thuế, nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi gian
lận thuế càng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt là đối với thuế GTGT.
Theo quy định của Luật thuế GTGT thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu
đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào Ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu
thụ hàng hóa, dịch vụ. Người nộp thuế không phải là người chịu thuế.Tổ chức, cá nhân
có hoạt động sản xuất kinh doanh lãi hay lỗ vẫn phải nộp thuế GTGT. Chính vì vậy,
thuế GTGT là loại thuế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu cho Ngân sách Nhà nước.
Mặc dù công tác quản lý thuế đã được thực hiện theo Luật quản lý thuế và Quy
trình của Tổng cục thuế. Tuy nhiên, hiện nay việc quản lý thuế đối với các loại hình
doanh nghiệp vẫn còn nhiều kẻ hở, dẫn đến không ít DN trốn thuế. Đặc biệt hơn, thuế
GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN, điều này đặt ra cho các ngành chức năng
2

phải có những biện pháp tích cực và hiệu quả trong công tác quản lý thu thuế GTGT

1.2.1. Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu nhằm xác địnhvà đánh gía sự ảnh hưởng của các
yếu tố đến hiệu quả của công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh Bình Phước.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Tìm hiểu quy trình quản lý thuế GTGT.
+ Phân tích các nhân tố tác động đến công tác quản lý thuế GTGT.
+ Xây dựng và kiểm định thang đo để đánh giá tác động của các yếu tố đến
công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu thuế
GTGT trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
1.2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế GTGT
trên địa bàn tỉnh Bình Phước đối với các Doanh nghiệp cà hộ kinh doanh cá thể.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Công tác quản lý thuế GTGT của cán bộ thuế và
ý thức trách nhiệm của NNT trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
+ Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu từ khi bắt đầu áp dụng Luật thuế GTGT
1.2.3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
1.2.3.1. Phương pháp luận
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác
quản lý thu thuế GTGT tại Tỉnh Bình Phước.
1.2.3.2. Phương pháp nghiên cứu
4

Luận văn nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để tìm hiểu
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, trong đó:
- Phương pháp định tính: Sử dụng bảng câu hỏi để đo lường mức độ tuân thủ Luật
thuế GTGT của các Doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn,
- Phương pháp định lượng:

mô hình như sau:
VAT cost
= a+b
1
SIZE + b
2
AGE +b
3
GROUP + b
4
ACCOUNTING +b
5
COMPLEXITY +
b
6
PSYCHOLOGICAL + b
7
INDIVDUAL + e
Kết quả cho ta thấy được mức độ tạo thành của các yếu tố này như thế nào lên
chi phí thuế GTGT.
Một số nghiên cứu trước đây cũng đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa ý thức
thuế và quy mô hoạt động kinh tế không chính thức.Alm & Torgler (2006) tập trung
nghiên cứu ở châu Âu và Mỹ, họ tìm thấy mối quan hệ nghịch với mức ý nghĩa 0.05.
Alm, Martinez – Vazquez & Torgler (2006) cũng đã sử dụng cách tiếp cận
tương tự ở các quốc gia đang trong thời kì quá độ.Với mức ý nghĩa 0.01cho thấy mối
quan hệ tỷ lệ nghịch giữa hai biến. Tóm lại, ý thức thuế càng cao thì dẫn đến tính tự
giác tuân thủ tăng và điều này sẽ làm giảm quy mô hoạt động kinh tế không chính thức,
như vậy việc quản lý thuế sẽ đơn giản và hiệu quả hơn.
1.3.2. Các nghiên cứu trong nước
Trong bài nghiên cứu, TS.Nguyễn Thị Thanh Hoài và .ctg (2013) đã nêu lên các

7

Chương 5-Kết luận và giải pháp:Trên cơ sở phân tích thực trạng ở chương 3, tác
giả đưa ra kết luận và từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công
tác quản lý thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
8

Có nhiều quan niệm về thuế VAT. Theo Luật số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008
đã nêu: Thuế GTGT (VAT: Value Added Tax)là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm
của hàng hóa và dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và
được thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.
Hay thuế VAT- một loại thuế gián tiếp đánh vào tiêu thụ công cộng và cá nhân.
Loại thuế này được chi trả bởi các tập đoàn mặc dù gánh nặng thuế được chuyển sang
người tiêu dùng (Bendikiene, Saparnis, 2006), giá trị thuế VAT đã được tính trong giá
bán của hàng hóa và dịch vụ (Dilius, Kareivaite, 2010).
Hàng hóa và dịch vụ thường được tính cùng với thuế VAT nhằm thu nhập càng
nhiều thì thuế nộp vào ngân sách nhà nước càng lớn. Thuế VAT thì tương đối đơn giản
và rẻ. Thuế GTGT là một yếu tố của hệ thống thuế và là một nguồn thu quan trọng.
Theo đề án của thuế GTGT, giá trị giá trị gia tăng được tạo ra trong mỗi giai đoạn của
quá trình sản xuất, từ đó mỗi giai đoạn đem lại doanh thu cho ngân sách nhà nước
(Bendikience, Saparnis, 2006).
Thuế VAT là thu nhập sau khi giá tiêu dùng cuối cùng được áp dụng, nhưng không
ảnh hưởng đến sản xuất hoặc phân phối (Dilius, Kareivaite, 2010).
Giá trị gia tăng được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ
với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng.

Giá trị gia tăng
Tổng giá trị hàng hóa,
dịch vụ mua vào tương ứng
Tổng giá trị
hàng hóa,dịch vụ bán ra
10

Có thể thấy thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng

GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người phải trả
khoản thuế đó. Thuế GTGT mang tính chất lũy thoái vì nó không tính đến khả năng thu
nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau
nếu mua cùng một loại hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, khi so sánh với tỷ suất thuế GTGT
trên tổng thu nhập thì người có có thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn so với người có thu
nhập thấp.
Dựa trên cơ sở là giá trị tăng thêm, với việc khấu trừ thuế và hoàn thuế, thuế
GTGT thể hiện một số ưu điểm:
Khắc phục được tình trạng thu thuế trùng lắp
Thuế GTGT chỉ tính trên giá trị mới sáng tạo ra (gia trị tăng thêm) thông
qua việc khấu trừ thuế khâu trước. Do đó, khắc phục được tình trạng thuế chồng thuế.
Thuế GTGT không thu trùng lắp cho nên nó đã góp phần khuyến khích chuyên môn
hóa sản xuất, hợp tác hóa nâng cao sản xuất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm
Thuế GTGT không trung lập về mặt kinh tế
Thuế GTGT mang tính trung lập đối với mức độ dài ngắn giữa các khâu
trong quy trình SXKD – từ lưu thông đến tiêu dùng, dù qua nhiều khâu hay ít khâu thì
tổng số thuế phải nộp qua các khâu là như nhau; nhưng lại không trung lập về mặt
kinh tế, ưu điểm này được thể hiện bởi chính sách khấu trừ và hoàn thuế. Việc khấu
trừ thuế đầu vào và hoàn thuế GTGT sẽ khuyến khích mạnh mẽ việc xuất khẩu và đầu
tư.
Thuế GTGT dễ dàng được người nộp thuế (NNT) chấp nhận
Gánh nặng của thuế được chia sẽ qua từng công đoạn để cuối cùng quy về
người tiêu dùng sản phẩm. Đây là một loại thuế gián thu, người nộp thuế không phải là
12

người chịu thuế. Qua mỗi công đoạn, người nộp thuế chỉ việc trích số tiền thuế có
trong giá bán để nộp cho Nhà nước. Do đó, qua mỗi công đoạn, Nhà nước sẽ thu một
khoản tiền thuế nhất định trong tổng số thuế của hàng hóa, dịch vụ đó. Như vậy, Nhà
nước sẽ thu thành nhiều lần với số tiền nhỏ thay vì thu một lần với số tiền lớn.
Thuế GTGT có ít trường hợp gian lận thuế

all,2001).
- Thuế GTGT không trùng lắp, do thuế GTGT chỉ tính vào giá trị tăng thêm của
hàng hóa, dịch vụ nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản
xuất, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất, phù hợp với
định hướng phát triển nền kinh tế của nước ta trong thời gian tới.
- Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%, DN
xuấtkhẩu hàng hóa, dịch vụ không những không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất
khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng
giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất
khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
- Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán; sử dụng hóa đơn, chứng từ, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc cấn trừ thuế
GTGT được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua vào đã thúc đẩy DN hạch toán đầy đủ
doanh số chưa có thuế, thuế GTGT đầu ra, thuế GTGT đầu vào và thực hiện tốt chế độ
hóa đơn chứng từ, hạch toán kế toán.
Tóm lại, thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến; việc áp dụng thuế GTGT khắc
phục được nhược điểm của thuế doanh thu là “ thuế chồng lên thuế”. Thuế GTGT đã
đem lại rất nhiều lợi ích cho quốc gia áp dụng nó thông qua việc khuyến khích SXKD,
xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu cho NSNN. 14

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quảnlý thuế GTGT
Để thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố và kết quả thu thuế
GTGT, tác giả dựa trên các nghiên cứu trước cùng với thực tiễn tại Bình Phước, bài
nghiên cứu bao gồm các yếu tố sau:
2.2.1. Quy định của pháp luật:
Việc thực hiện pháp luật trong thực tiễn có hiệu quả hay không trước tiên đó là
do bản thân quy định của Pháp luật đã phù hợp hay chưa.

Trình độ, năng lực quản lý thuế cũng như đạo đức của cán bộ quản lý thuế tốt
thì tất nhiên việc thực thi Luật thuế GTGT được nghiêm túc dẫn đến kết quả thu thuế
GTGT đạt hiệu quả cao và ngược lại.
2.2.3. Ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của các Doanh nghiệp
Ý thức chấp hành pháp luật Thuế hay còn gọi là ý thức thuế, điều này khác với
trốn thuế, không đo lường hành vi mà là đo lường thái độ của người nộp thuế. Có thể
định nghĩa ý thức thuế là nghĩa vụ nộp thuế, niềm tin khi đóng góp cho xã hội bằng
cách nộp thuế (ThS,Đặng Thị Bạch Vân, 2014).
Ý thức thuế liên quan chặt chẽ với đạo đức và ý thức chấp hành pháp luật của
người nộp thuế, “Những tiêu chuẩn về hành vi của việc quản lý công dân hay người
nộp thuế trong mối quan hệ của họ với chính phủ” (Song & Yarbrough, 1978, p.443).
Giá trị và thái độ có thể tác động đến hành vi của cá nhân (Ajen & Fishbein 1980 và
Lewis 1982).
Spicer & Lundstedt (1976) cho rằng lựa chọn giữa tuân thủ thuế và trốn thuế
không chỉ do biện pháp trừng phạt mà còn là thái độ và các chuẩn mực. Lewis (1982)
đã chỉ ra “trốn thuế có lẽ là hành động duy nhất của người nộp thuế mà qua đó thể hiện
16

sự ác cảm của họ…Qua dự báo, tác giả có thể tự tin rằng nếu thái độ đối với thuế ngày
càng tệ thì trốn thuế ngày càng tăng” (p.165, 177).
Nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố quyết định hành vi thuế đã cho thấy bằng
chứng trái ngược về khối lượng riêng của các biến số kinh tế: một số nghiên cứu cho
thấy các cuộc kiểm toán và tiền phạt để tăng sự tuân thủ, các nghiên cứu khác đã không
tìm thấy bất kỳ hoặc thậm chí tác động ngược lại ( Fischer, Wartick & Mark, 1992 ;
ANDREONI, Erard & Feinstein, 1998 ). Sự bất nhất của mô hình kết quả cho thấy rằng
yếu tố kinh tế và tâm lý hoạt động khác nhau trong những hoàn cảnh khác
nhau.Kirchler, Hölzl và Wahl (2008) đã phát triển một mô hình cho thấy rằng kiểm
toán và tiền phạt có liên quan trong điều kiện tín nhiệm thấp trong các tổ chức chính
phủ và cơ quan thuế đặc biệt , đặc biệt là nếu chính phủ có quyền lực để phát huy có
hiệu quả các cuộc kiểm toán. Trong một không khí nghi kỵ lẫn nhau, công dân có thể

+ β
3
X
3
+ … + β
k
X
k
+ ε (1)
Trong đó: β –Hệ số (không đổi)
X – Biến độc lập
ε – sai số ngẫu nhiên
Trên cơ sở khảo cứu các mô hình nghiên cứu đã có trong các công trình nghiên
trước có liên quan, tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu gồm các nhân tố được xem
là phù hợp trong điều kiện cụ thể tại tỉnh Bình Phước. Mô hình nghiên này được xây
dựng kết hợp dựa trên các mô hình nghiên cứu của: Alm & Torgler (2006), Martinez –
Vazquez & Torgler (2006),nghiên cứu về mối liên hệ giữa ý thức thuế và tính tự giác
tuân thủ của người nộp thuế, kết hợp với điều kiện nghiên cứu có hạn, tác giả đưa ra
thêm được 2 biến độc lập như sau:
Y = β + β
1
X
1
+ β
2
X
2
+ β
3
XHình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
(Nguồn: Tác giả tự xây dựng)

H2
H1
H3
Kết quả thu
thuếGTGT tại
Bình Phước

Quy định của pháp
luật

Ý thức thuế

nét văn hóa của người Xtiêng. Ngoài ra tỉnh còn có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc
20

như Liên hoan văn hóa các dân tộc thiểu số vào tháng 12 hàng năm, lễ hội cầu mưa của
người Xtiêng, lễ bỏ mả, lễ hội đánh bạc bầu cua, đánh liêng tố xả láng ở điểm 2, lễ
mừng lúa mới của người Khmer.

Bảng 3.1. Đặc điểm địa lý – dân cư tỉnh Bình Phước
Ðơn vị hành
chính cấp
Huyện
Thị xã
Đồng Xoài
Thị xã
Bình Long
Thị xã
Phước
Long
Huyện

Đăng
Huyện
Bù Đốp
Huyện
Bù Gia
Mập
Huyện
Chơn
Thành
Huyện

Mật độ dân
số
(người/km²
)
472
456
421
87
120
85
161
93
144
135
Số đơn vị
hành chính
5 phường
và 3 xã
4 phường
và 2 xã
5 phường
và 2 xã
1thị
trấn và
15 xã
1 thị trấn
và 6 xã
18 xã
1 thị trấn
và 8 xã

Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ ngành

Hình 3.2: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm
Nguồn: Website tỉnh Bình Phước (2014)
Nông nghiệp
Thương mại - dịch
vụ
Công nghiệp
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
Năm 1997 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Định hướng
năm 2015
9.5%
12.33%
9.75%
10-11%
50%
27.4%

22.6% 23


nhân tại Việt Nam.
- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh
doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu.
3.2.1.3. Đối tượng không chịu thuế GTGT
Theo nguyên tắc của thuế GTGT thì mọi hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở Việt
Nam đều thuộc đối tượng chịu thuế GTGT; các hàng hóa không được tiêu dùng tại Việt
Nam không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, trong từng thời kỳ nhất định,
Nhà nước cũng cần phải thực hiện một số chính sách kinh tế xã hội nhất định như: ưu
tiên đối với một số hàng hóa phục vụ nhu cầu thiết yếu của các tầng lớp dân cư, chính
sách đối với người có thu nhập thấp, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản
xuất, chính sách quốc phòng, an ninh, tính hiệu quả trong quản lý thuế và một số chính
sách khác…nên tại các văn bản pháp luật về thuế GTGT hiện hành quy định có 26
nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT.
Ngoài ra,Chính phủ còn ban hành bổ sung thêm một số hình thức thuộc diện
không chịu thuế GTGT (Nghị định 209/2013/NĐ-CP ban hành ngày 18/12/2013).
3.2.1.4. Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
3.2.1.5. Thuế suất
Thuế suất thuế GTGT bao gồm 3 mức : 0%; 5%; 10%;. Các mức thuế suất thuế
GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hoá, dịch vụ, không phân biệt nhập
khẩu, sản xuất, gia công hay thương mại.
Các mức thuế suất thuế GTGT nêu trên đây được áp dụng thống nhất cho từng
loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương
mại.
25

Ví dụ 16: Hàng may mặc áp dụng thuế suất là 10% thì mặt hàng này ở khâu
nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại đều áp dụng thuế suất 10%.
Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có mức thuế suất khác nhau phải
khai thuế GTGT theo từng mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status