Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
November 14, 2014 - Chuyên mục: Văn mẫu THPT - Tác giả: Thu Huyền
Đề bài: Hãy nêu những đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật và phân
tích một số dẫn chứng để làm nổi bật những đặc trưng ấy.
Mỗi bộ môn nghệ thuật có một chất liệu riêng, một ngôn ngữ riêng. Nếu hội họa là nghệ thuật của đường nét, màu sắc ôm nhạc là
một nghệ thuật của âm thanh, tiết tấu…, thì văn học là nghệ thuật của ngổn từ. Ngôn từ là vật liệu, chất liệu là tiếng nói của văn
học. Vì thế mà Gorky nhà văn Nga, đã coi yếu tố thứ nhất của văn học là ngôn ngữ. Và cũng vì thế mà nhà văn được mệnh danh
là Nghệ sĩ của ngôn từ. Thực ra ngôn từ nghệ thuật cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ đời sống toàn dân. Nhưng trước khi đi vào tác
phẩm thành ngôn ngữ văn học, nó đã trải qua quá trình chọn lựa, sàng lọc, gọt giũa, tái tạo dưới bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ.
Vì thế mà ngôn từ nghệ thuật vần có những đặc trưng riêng của nó.
Có lẽ không ít người sẽ ngỡ ngàng khi được đề cập đến tinh chính xác của ngôn ngữ văn học. Người ta vẫn nghĩ rằng tính chính
xác là độc quyền của ngôn ngữ khoa học. Văn chương tự có vô bằng cứ kia mài Làm sao có thể nói đến tính chính xác trong một
lĩnh vực vấn mơ hồ như thế. ấy thế nhưng ngôn ngữ văn học vẫn có tính chính xác riêng của nố. Tính chính xác của ngôn ngữ
văn học cũng chính là ở chỗ: nó có khả năng diễn đạt chính xác những cái mơ hồ. Đời sống muôn màu, muôn vẻ, nghìn vạn dạng,
có cả cái hữu hình, cả thứ vô hình, cả thứ bền vững lẫn thứ mong manh hư ảo, cả thứ trưởng tồn lẫn những thứ chỉ thoảng qua…
Đối tượng nào cũng đòi hỏi được nắm bắt và thể hiện. Ngôn ngữ văn học không chịu bó tay, bất lực trước những đòi hỏi càng
ngày càng phức tạp ấy. Thậm chí, một trong những niềm say mê của ngôn ngữ văn học là đuổi bắt cái vô hình, mơ hồ, hư thoảng,
những biến thái tinh vi mong manh, và nhiều khi ngôn ngữ văn học đã đến một độ chính xác bất ngờ đến như là… phi lí. Khi
Nguyễn Du viết:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Thì ta thấy câu thơ đã diễn tả cực kỳ chính xác cái tình thế bi kịch của Thuý Kiều. Kiều muốn cậy nhờ em thay mình nối duyên
với chàng Kim. Việc ấy là hệ trọng, nên lời nhờ cậy thành lời uỷ thác. Bốn chữ cậy, chịu, lạy, thưa đã thể hiện thật chính xác cảm
xúc, suy nghĩ và dáng điệu, cử chỉ của Thuý Kiều. Kiều với Vân là chị em gái. Lối xưng hô vẫn là Chị – em. Như vị thế đã đảo
lộn rồi. Câu thơ ấy đã diễn tả chính xác cái thực tế này của tỉnh thần: quan hệ chị – em đã được thay bằng quan hệ ân nhân –
người chịu ơn. Chị gái thành kẻ dưới, phải nói khó, phiền luỵ; em gái thành kẻ bề trên, có quyền chấp thuận chịu lời hay không.
Cậy, chị, lạy, thưa nhất nhất đều là lời của kẻ dưới nói với người trên. Nó cho thấy tất cả tình huống bi kịch của Thuý Kiều. Nó
chính xác đến đỗi không có một chữ nào khác có thể thay thế. Hoặc khi Xuân Diệu tả:
Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều
thì ta cũng thấy những biến thái tinh vi của tự nhiên đã được diễn tả chính xác. Hiện ra trước mắt chúng ta một con đường tình
cội rễ sâu xa quyết định một đặc trưng vào loại hàng đầu của ngôn ngữ văn học: tính biểu cảm. Thiếu tính biểu cảm, người nghệ
sĩ không thể phô bày được thế giới cảm xúc phong phú mãnh liệt củã mình. Cũng như tính trừu trượng, tính vô cảm là chỗ chết
của nghệ thuật và ngôn từ nghệ thuật. Ngôn ngữ văn học không thể nào chấp nhận được sự khách quan lạnh lùng, xơ cứng, vô
cảm. Mỗi một lời nói bao giờ cũng phải được chất chứa đầy tình cảm. Mỗi một ngôn từ bao giờ cũng phải hàm chứa một sắc thái
biểu cảm nào đó. Để tất cả hợp lại mới thành điệu tình cảm chung, điệu tâm hồn của tác phẩm. Viết về thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử
đã có một đoạn thật xúc động:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cao nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Có thể nói câu chữ nào cũng chan chứa một niềm thiết tha của Hàn Mặc Tử với mảnh vườn Vĩ Dạ, với cảnh sắc trần gian. Mở
đầu là một câu hỏi thật nhiều sắc thái tình cảm: vừa hỏi han, vừa hờn trách, vừa nhắc nhở, vừa mời mọc… Nó là câu hỏi của ai?
của chính Hàn đó thôi. Hàn Mặc Tử đang tự phân thân để hỏi chính mình, để trách chính mònh, để mời chính mình, để nhắc nhở
chính mình vể một việc đáng ra phải làm từ lâu, mà giờ đây khi đã bị chia lia khỏi cuộc đời, không biết có còn cơ hội để thực
hiện nữa không, ấy là trở về nơi cũ, thâm lại cảnh xưa! Cái điều bình thường ấy giờ đây đã thành một ao ước – ao ước vô vọng,
thậm chí thành một hạnh phúc – hạnh phúc đã ngoài tầm tay. Biết bao tình ý dấu kín trong một giọng hỏi thông thưởng ấy.Và cái
câu thứ 3 kia: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc cũng đầy xao động tâm hồn trong mỗi chữ. Chi nói roêng một chữ không đâu:
chữ quá! Phân tích câu thơ, người ta ít để ý đến nó. Cũng phải thôi, nó chỉ là một từ chỉ mức độ. Có màu mè óng ả như chữ mướt
chữ ngọc đâul Nhưng chính chữ ấy dã quyết định đến âm hưởng chung của câu thơ: âm hưởng của một tiếng kêu, trầm trồ, kinh
ngạc vì chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của mầnh vườn Vĩ Dạ, mà có lẽ khoảnh khắc trước chưa thấy, mà khoảnh sau cũng chưa
chắc đã phát hiện được. Không có thứ ngôn từ có khả năng biểu cảm như thế, người nghệ sĩ dành câm lặng trước cuộc đời. Trái
lại khi có nó, người nghệ sĩ có thể hát lên cái tiếng hát bên trong của trái tim mình. Có thể là tiếng hát sôi nổi đắm đuối:
Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!
(Tố Hữu)
Có thề là tiếng hát da diết đau thương:
Những đồi sim tím chiều hoang biền biệt
(Hữu Loan)
Có thể là tiếng nấc của con tim
Núi vẫn Đôi mà anh mất em
(Vũ Cao)