BỘ YTỀ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÃ NỘI
• • • •
TẠ THỊ THU HUYỄN
NGHIÊN CỨU TÍNH THÍCH ỨNG CỦA DANH MỤC
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
GIAI ĐOẠN 2000 - 2004
(Khoá luận tôt nghiệp ặượg&ỊLkhoá 2000 - 2005)
•;y _
'T&Ngtiỹễn Thị Song Hà
DS: Nguyễn Anh Phương
Nơi thực hiện:
Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
Thời gian thực hiện: Tháng 01/2005 - 05/2005
HÀ NỘI - 05/2005
LÒI cám 0H
Qiới xin hài/ tẬ lồng, b iâ tì'n oà .ị ự kính trọ ti ạ tề i && Q((fiiifêit
Cĩlù cStittíỊ '3ÔÌL, tiạúòi ítã íuiởiitị dẫn f tỊÌúp ỉ t ẻ ’ tồ i tân tình
suất qu á trình làwi Ultoá lu ận tết n íỊỈtìĩp.
£7iĩì xitL ehăễi th à n h eảitr ổn 0)cS Q lạuụ ễti cÂnh ^ ìlu ìotttỊ, eòtKỊ
tóe tạ i ỉìỉn h íùêti rp ỉiụ sáu 'Tôà Q lệi, utỊiìòi đ ã ạiúfL đ ẽ tò i va i
ii/i ií'ỉ tình tvon tị quá trình th u thập tà i liêu oà sồ liêu .
Q&i eủnạ. xin bà ụ ỈẶ lồng, biết ỔVI sán sắe tối (Ban tịìtun kiêu,
eảe thầi/ eò tỊÌái) hẻ Uìêit Quản (Ạ và 3(Ành tè dtìọe, oùttí/ tiừm th ể
cán tltầiỊ (‘ỏ ạỉttú tviìòtiíỊ (Ị)clì húi' ^Oiiổe Qtấi đã íịittp itõ tôi
h'(Uỉ(f iiitít quả trìn h ỉtũi' tàp íiỉt là m k h ở á lu â n tốt Iiíịíiìèfì.
@uối eùntị, tà i xin hài/ tú ỈÒỈHỊ biẽí tỉn tối. eha iễiẹ, lồi cảm ổn
tối. ímn bỉ, utỊnòi thân, những, tif/iíđỉ luồn, đồng, lìiĩn , tịiúp đõ tồi
hoàn thành Uiioá luận HÍII/.
‘Jôà Qlội, ittỊttiỊ 12 thán (Ị 05 năm 2005
WHO
: Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
TL
: Tỉ lệ
TTY
: Thuốc thiết yếu
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỂ 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Mô hình bệnh tật (MHBT) 3
1.2. Hướng dẫn thực hành điều trị 9
1.3. Danh mục thuốc (DMT) 10
1.3.1. Danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY) 10
1.3.2. Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT & ĐT), DMT bệnh viện
13
1.3. Nhu cầu thuốc và các phương pháp tính toán nhu cầu thuốc
16
1.3.1. Nhu cầu thuốc 16
1.3.2. Các phương pháp nghiên cứu nhu cầu thuốc
16
PHẦN 2: NỘI DUNG, Đ ổi TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 18
2.1. Đối tượng nghiên cứu 18
2.2. Nội dung nghiên cứu 18
2.3. Phương pháp nghiên cứu 18
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u VÀ BÀN LUẬN 22
3.1. Phân tích, đánh giá về nguồn lực của BVPSHN 22
3.1.1. Nghiên cứu về mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực của BVPSHN
59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
ĐẶT VÂN ĐỂ
Thuốc là yếu tố quan trọng trong phòng và chữa bệnh. Thuốc đã chứng
minh tác dụng trong điều trị nhiều bệnh nhiễm trùng. Thuốc cũng đã cứu được
mạng sống của những bệnh nhân mắc bệnh không lây truyền như nhồi máu cơ
tim hay các bệnh về mạch. Tiền chi cho thuốc ở những nước đang phát triển
chiếm tới 40% ngân sách y tế nhưng vẫn còn một lượng lớn dân cư thiếu thuốc
thậm chí là những thuốc thiết yếu. 70% thuốc trên thị trường hiện nay là
những thuốc có tác dụng tương tự nhau, chúng khác rất ít so với thuốc gốc và
cũng không hiệu quả hơn các thuốc đã có là mấy [31]. Nhiều thuốc mới ra đời
do chưa được nghiên cứu, thử nghiệm kĩ nên đôi khi tác dụng phụ nhiều hơn
tác dụng điều trị. Nhiều thuốc quá cũng gây khó khăn cho bác sĩ để cập nhật
thông tin và so sánh các thuốc với nhau. Với một nước mà nền y học còn kém
phát triển như nước ta thì vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng. Chi phí dành
cho y tế chiếm khoảng 3 - 4% ngân sách nhà nước và chỉ đủ đáp ứng khoảng
50% nhu cầu tối thiểu về chi tiêu thường xuyên của ngành [12]. Nhưng nguồn
ngân quỹ có hạn đó nhiều khi lại chi cho những thuốc không phải là thuốc
thiết yếu, những thuốc không hiệu quả và cả những thuốc không an toàn.
Nhằm khắc phục hiện tượng này Bộ Y tế đã yêu cầu các bệnh viện thành lập
Hội đồng thuốc và điều trị. Một trong những yêu cầu đối với Hội đồng thuốc
và điều trị là xây dựng danh mục thuốc đáp ứng yêu cầu điều trị, khả năng
cung ứng của bệnh viện, khả năng chi trả của bệnh nhân.
Qua gần 10 năm thực hiện Hội đồng thuốc và điều trị, hầu hết các bệnh
viện đã lập danh mục thuốc của bệnh viện mình. Nhưng việc xác định xem
danh mục thuốc đó đã phù hợp hay chưa? Có đáp ứng được yêu cầu điều trị
hay không? Có đảm bảo tính an toàn, hợp lí, hiệu quả, tiết kiệm hay không?
vẫn còn là một vấn đề khó khăn vì cho tới nay chưa có một nghiên cứu mẫu
nào nghiên cứu về tính thích ứng danh mục thuốc tại bệnh viện. Chính vì nhận
thức khoa học mới trong điều trị học, nhiệm vụ điều trị và kinh phí của bệnh
viện.
1.1. MÔ HÌNH BỆNH TẬT (MHBT)
Trải qua hàng ngàn năm, con người dưới tác động của tự nhiên và xã hội
đã ngày càng phát triển cả về trí tuệ và cuộc sống. Cùng với sự phát triển đó
có sự xuất hiện của một số bệnh mới như bệnh HIV/AIDS, SARS, bệnh cúm
gà Sự suy giảm và bị tiêu diệt của một số bệnh như bệnh đậu mùa, bệnh bại
liệt, bệnh phong, bệnh than V.V Nhiều bệnh không nhiễm trùng đang có xu
hướng chiếm tỉ lệ ngày càng cao trên phạm vi toàn cầu như các bệnh tim
mạch, huyết áp, ung thư. Như vậy theo thời gian, MHBT trên thế giới thay đổi
tương ứng với sự biến đổi của môi trường sống, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã
hội cũng như đời sống tinh thần của từng cá thể và cả cộng đồng.
Để đánh giá tổng kết tình hình bệnh tật của một xã hội, một cộng đồng,
người ta đã đưa ra khái niệm MHBT như sau:
3
Mô hình bệnh tật của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó sẽ
là tập hợp tất cả những tình trạng mất cân bằng về thể xác, tinh thần dưới tác
động của những yếu tố khác nhau, xuất hiện trong cộng đồng đó, xã hội đó
trong một khoảng thời gian nhất định [2].
Trong đó bệnh tật được hiểu là tình trạng mất cân bằng về thể xác và tinh
thần dưới tác động của một loạt các yếu tố ngoại môi và nội môi lên con
người.
Nghiên cứu MHBT là một trong những nhiệm vụ của các nhà quản lí, đặc
biệt là của cơ quan quản lí chăm sóc sức khoẻ. Kết quả nghiên cứu MHBT
giúp cho việc:
1. Quản lí được sức khoẻ và bệnh tật của toàn xã hội.
2. Xác định được thực trạng xu hướng thay đổi của cơ cấu bệnh tật trong
cộng đồng và xã hội để có chiến lược và sách lược về y tế, phòng chống
và đối phó với bệnh tật.
3. Định hướng chiến lược phát triển kỹ thuật điều trị, cung ứng và sử
41,2
5,3 33,4
Các bệnh không
nhiễm trùng
50,0
87,3 58,1
Chấn thương
8,8 7,4
8,5
Cộng
100,0 100,0
100,0
Bảng trên cho ta thấy MHBT của các nước phát triển chủ yếu là các bệnh
không nhiễm trùng, trong khi đó ở các nước đang phát triển, bệnh nhiễm trùng
vẫn chiếm tỉ lệ cao [2].
Là một quốc gia đang phát triển và là một nước nhiệt đới, MHBT ở nước ta
hiện nay là đan xen giữa các bệnh nhiễm trùng và không nhiễm trùng, giữa
cấp tính và mạn tính. Các bệnh không lây, các bệnh do tai nạn, ngộ độc, chấn
thương có xu hướng gia tăng, cả về tỉ lệ mắc và tỉ lệ chết, nhất là các bệnh tim
5
mạch, khối u, sức khoẻ tâm thần, chấn thương do tai nạn Theo số lượng
thống kê, tỉ trọng mắc của nhóm các bệnh lây nhiễm chiếm khoảng 55,5%
năm 1976 giảm còn 27,44% vào năm 2003, trong khi đó nhóm các bệnh do
ngộ độc, chấn thương, tai nạn tăng rất nhanh từ 1,85% năm 1976 lên tới
11,95% năm 2003 (Bảng 1.2). Số người nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng.
Nguy cơ nhiễm HIV/AIDS làm bệnh lao trở lên trầm trọng hơn, bệnh sốt rét
còn diễn biến phức tạp, các bệnh nhiễm virus vẫn tiếp tục ra tăng [26]. Sự biến
đổi này cũng giống sự thay đổi tại các quốc gia đang phát triển khác [4].
Bảng 1.2. MHBT chung ở Việt Nam giai đoạn 1976-2003
Đơn vị tính: Tỷ lệ %
23,20
11,95
23,46
(Theo niên giám thống kê Y tế các năm 1976-2003)
“Ở Việt Nam, về mặt MHBT, các bệnh nhiễm khuẩn là những bệnh phổ biến
nhất, kể cả trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai” [2].
^MHBT của hệ thống bệnh viện:
Không giống như MHBT ở cộng đồng, bệnh viện là nơi chữa bệnh (và
khám bệnh) cho người mắc bệnh trong cộng đồng. Mỗi bệnh viện có tổ chức,
6
nhiệm vụ khác nhau, đặt trên các địa bàn khác nhau, với đặc điểm dân cư địa
lí khác nhau và đặc biệt là sự phân công chức năng nhiệm vụ trong tuyến y tế
khác nhau, từ đó dẫn đến MHBT của mỗi bệnh viện cũng khác nhau. Ở Việt
Nam cũng như trên thế giới có 2 loại MHBT bệnh viện: một là MHBT của
bệnh viện chuyên khoa và một là MHBT của bệnh viện đa khoa. Trong đó
MHBT của bệnh viện chuyên khoa bao gồm MHBT của bệnh viện chuyên
khoa và MHBT của viện có giường bệnh. Bệnh viện hoặc viện của chuyên
khoa nào thì chủ yếu mang MHBT của chuyên khoa đó. Tuy nhiên, mỗi cá
nhân có thể đồng thời mắc nhiều bệnh, hoặc một bệnh liên quan tới nhiều cơ
quan trong cơ thể, do đó một bệnh viện chuyên khoa thường có bệnh tật điển
hình của chuyên khoa đó và một số bệnh thông thường kèm theo. Ngoài ra,
tuỳ theo hạng và tuyến bệnh viện mà MHBT bệnh viện có thể thay đổi (do
hạng bệnh viện liên quan tới kinh phí, kĩ thuật điều trị, biên chế ) [2].
MHBT của bệnh viện cũng như MHBT của cộng đồng, chúng đều bị chi
phối bởi một số yếu tố như điều kiện kinh tế - xã hội, tôn giáo, khí hậu, địa lí,
tổ chức màng lưới, chất lượng dịch vụ y tế, sinh thái, trình độ khoa học kỹ
thuật
Theo Axel Kroeger, MHBT của bệnh viện còn phụ thuộc vào sự lựa chọn
của người bệnh và phụ thuộc vào chính bệnh viện. Các yếu tố này đan xen với
nhau, ảnh hưởng lẫn nhau [2].
dân chủ thế giới tặng phụ nữ và trẻ em Việt Nam, được thành lập theo quyết
định số 4951/QĐTC ngày 21/11/1978 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà
Nội. Hiện nay, bệnh viện là bệnh viện chuyên khoa hạng II gồm 13 khoa lâm
sàng và cận lâm sàng của thành phố Hà Nội. Bệnh viện có 250 giường bệnh,
phục vụ chăm sóc SKSS chuyên ngành sản phụ khoa trên toàn Thành phố Hà
8
Nội. Bệnh viện cũng đồng thời là cơ sở thực hành của sinh viên trường Đại
học Y Hà Nội và Đại học Dược Hà Nội.
Trong hơn 25 năm xây dựng và trưởng thành, bệnh viện luôn luôn hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao, góp một phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ và
chăm sóc SKSS cho nhân dân trên địa bàn Hà Nội và các vùng lân cận.
1.2. HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH ĐIỂU TRỊ
Bất cứ một bệnh nào cũng có phương pháp điều trị. Phương pháp điều trị là
tài liệu hướng dẫn cho thầy thuốc thực hành những công việc cụ thể và không
thể thiếu trong quá trình điều trị (gọi là hướng dẫn thực hành điều trị) [2].
Hướng dẫn thực hành điêu trị là văn bản chuyên môn có tính chất pháp lý.
Nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu
trong điều trị học mỗi loại bệnh. Một hướng dẫn thực hành điều trị có thể cố
một hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau.
Hướng dẫn thực hành điều trị không thể thiếu trong công tác như:
- Để hướng dẫn, chuẩn hoá trang bị kiến thức điều trị bệnh và dùng cho cán bộ
y tế.
- Nghiên cứu thúc đẩy, áp dụng điều trị học ngày càng tốt hơn.
- Quản lí dược (phân loại thuốc, xây dựng danh mục thuốc, sử dụng và tư vấn
về thuốc).
- Là cơ sở để tiến hành sửa đổi phương pháp điều trị bằng thuốc với mục đích
sử dụng thuốc hợp lí, an toàn, kinh tế.
Theo WHO, một hướng dẫn thực hành điều trị về thuốc bao gồm đủ 4 thông
số: hợp lí, an toàn, hiệu quả, kinh tế.
- Hợp lí: phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc còn hạn sử dụng.
10
Khái niệm về DMTTY đã được thể hiện rõ trong Chính sách thuốc quốc
gia Việt Nam như sau:
“DMTTY là danh mục những loại thuốc thoả mãn nhu cầu chăm sóc sức
khoẻ của đa sô nhân dân. Những loại thuốc này luôn sẵn có bất cứ lúc nào
với số lượng cần thiết, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lí” [16].
Trong đó TTY là những thuốc cần thiết cho chăm sóc sức khoẻ của đa số
nhân dân, được nhà nước đảm bảo bằng Chính sách thuốc quốc gia, gắn liền
nghiên cứu, sản xuất, phân phối với nhu cầu thực tế chăm sóc sức khoẻ của
nhân dân, được lựa chọn và cung ứng để luôn sẵn cố với số lượng đầy đủ,
dạng bào chế phù hợp, chất lượng tốt, an toàn và giá cả phù hợp.
Tính đến năm 1999, DMTTY đã 10 lần sửa đổi và ban hành lại [16],[23].
Sự thay đổi này ngoài mục đích cập nhật những thuốc mới còn nhằm đáp ứng
nhu cầu thực tiễn trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. DMTTY là một
trong các nội dung chính của chăm sóc sức khoẻ ban đầu và cũng là một mục
đích cố gắng thực hiện nhằm đảm bảo cho sự thắng lợi trong chiến dịch chăm
sóc sức khoẻ chung.
Hiện nay trên thế giới có hơn 150 nước đã áp dụng và có DMTTY (chủ yếu
các nước đang phát triển). Số lượng tên thuốc trong DMTTY của mỗi nước
trung bình khoảng 300 thuốc [16].
1.3.1.2. Danh muc thuốc thiết yếu ở Viẽt Nam
Bắt nhịp chung với các nước trên thế giới, năm 1985 Bộ Y tế đã ban hành
DMT chủ yếu lần thứ nhất gồm 225 thuốc tân dược được xác nhận là an toàn
và có hiệu lực [9]. Năm 1989 DMT tối cần và chủ yếu được ban hành lần thứ
II gồm 116 TTY, cùng một danh mục gồm 64 thuốc tối cần [10]. DMTTY
theo đúng thông lệ quốc tế được ban hành lần thứ III vào năm 1995 gồm 225
TTY phân loại theo trình độ chuyên môn của cán bộ y tế. Và đến ngày
11
28/07/1999, Bộ Y tế ban hành DMTTY Việt Nam lần thứ IV với 346 thuốc tân
dược, 81 TTY y học cổ truyền, 60 cây thuốc nam, 185 vị thuốc nam, bắc [11].
Đề thực hiện chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện ngày
25/02/1997 Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị 03/BYT - CT về chấn chỉnh công tác
cung ứng, quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện. Ngày 04/ 07/1997 ban hành
Thông tư 08/BYT - TT hướng dẫn về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của
HĐT&ĐT ở bệnh viện; HĐT & ĐT có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh
viện về sử dụng thuốc nhằm mục đích sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
trong điều trị [25],[28]. về nhiệm vụ HĐT & ĐT có nhiệm vụ sau:
- Xây dựng DMT dùng trong bệnh viện phù hợp với đặc thù bệnh tật và chi phí
về thuốc, vật tư tiêu hao trong điều trị của bệnh viện.
- Giám sát việc thực hiện quy chế chẩn đoán bệnh, làm hồ sơ bệnh án và kê
đơn điều trị, quy chế sử dụng thuốc và quy chế công tác khoa Dược.
- Theo dõi các phản ứng có hại và rút kinh nghiệm các sai sót trong dùng
thuốc.
- Thông tin về thuốc, theo dõi ứng dụng thuốc mới trong bệnh viện .
- Xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa dược sĩ, bác sĩ và y tá [28].
Trong bài “Nhìn lại một năm thực hiện Hội đồng thuốc và điều trị bệnh
viện” của tác giả Trần Thu Thuỷ và Nguyễn Thị Phương Trâm thì sau một
năm triển khai trong số 558 bệnh viện đã có 84% bệnh viện đã thành lập
HĐT&ĐT, 96% Hội đồng thuốc đã xây dựng DMT sử dụng tại bệnh viện,
95% Hội đồng đã kiểm nhập thuốc, đảm bảo chất lượng thuốc đã được kiểm
tra nghiêm ngặt trước khi nhập kho. 58% Hội đồng có dược sĩ thực hiện thông
tin thuốc cho thầy thuốc kê đơn [25] .Nói tóm lại là HĐT & ĐT đã góp phần
tích cực điều chỉnh sử dụng thuốc trong bệnh viện.
13
Như đã trình bày ở trên HĐT & ĐT có nhiệm vụ rất quan trọng đó là: xây
dựng DMT bệnh viện.
“DMT bệnh viện là danh mục những loại thuốc cần thiết thoả mãn nhu cầu
khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện phù hợp với
MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện
và khả năng chi trả của người bệnh. Những loại thuốc này trong một phạm vi
1.4.1. Nhu cầu thuốc
Trong bất kì hoàn cảnh sống nào, ở bất kì xã hội nào, điều kiện kinh tế, tôn
giáo, tín ngưỡng ra sao, con người cũng luôn có nhu cầu về thuốc phòng và
chữa bệnh. Nhu cầu về thuốc là một nhu cầu tất yếu, tối cần, không kém gì
cơm ăn, áo mặc. Trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại thì nhu cầu về
thuốc ngày càng cao.
Nhu cầu thuốc là tập hợp tất cả những loại thuốc với dạng bào chế thích
hợp, hàm lượng thích hợp, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và hiệu lực để
giải quyết các yêu cầu phòng bệnh và chữa bệnh của cá thể, của cộng đồng
trong một phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, nền khoa học kĩ
thuật và khả năng chỉ trả nhất định [2].
Nhu cầu về thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng bệnh tật,
MHBT, chất lượng chẩn đoán bệnh của thầy thuốc, kỹ thuật điều trị, hiệu lực
điều trị của thuốc, yếu tố môi trường xã hội, quảng cáo và khuyến mại, y đức
của người kê đơn - người bán thuốc, giá cả của sản phẩm và quyết định cuối
cùng của người bệnh. Ba yếu tố quyết định đúng đắn nhất đến nhu cầu thuốc
là: bệnh tật, hiệu lực của thuốc và khoa học y học - kĩ thuật điều trị.
1.4.2. Các phương pháp nghiên cứu nhu cầu thuốc
Do nhu cầu thuốc được quyết định và chi phối bởi rất nhiều yếu tố,vì vậy
việc tính nhu cầu thuốc khó chính xác và cũng khó kết luận được về độ chính
xác. Để xác định nhu cầu thuốc cho một phạm vi dân cư hẹp thường sát thực
hơn và thuận lợi hơn việc xác định nhu cầu thuốc cho phạm vi dân cư lớn [2].
Có thể có 3 phương pháp chủ yếu sau:
16
Bảng 1.3. Các phương pháp tính toán và ước tính nhu cầu thuốc
Tên
phương
pháp
Phương pháp I
Thống kê dựa
đánh giá số
liệu dùng
thuốc, tìm ra
các xu hướng
sử dụng thuốc.
3. Phân tích,
đánh giá sự
hợp lí, bất hợp
lí trong lượng
thuốc sử dụng
sắp tới.
1.Dựa vào số liệu đăng kí
hành nghề.
2.Các loại hình dịch vụ y tế
có sử dụng thuốc từ trung
ương, tỉnh, huyện, xã, hộ gia
đình.
- Quản lí được tình trạng bệnh
tật của cư dân ở địa phương,
tính toán được tổng số lượt
bệnh nhân, số loại bệnh, tổng
số sử dụng thuốc.
- Dựa vào kỹ thuật điều trị và
thực tế sử dụng thuốc qua số
liệu kê đơn, bán thuốc.
3. Có số liệu tổng hợp. Phân
tích, đánh giá các yếu tố có
ảnh hưởng tới nhu cầu thuốc
kì tới.
Dựa trên các chỉ số về
Tổng số thuốc trong cơ sở
dịch vụ y tế hoặc địa bàn.
=>Tính toán theo
cồng thức xác định
nhu cầu thuốc:
Qk =E p-fi-qki
PHẦN 2
NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CŨXJ
Đề tài được thực hiện tại Bộ môn Quản lý và kinh tế dược - Trường Đại
học Dược Hà Nội và Bệnh viện Phụ sản Hà Nội dựa trên các đối tượng sau:
4- Các báo cáo tổng kết hàng năm có liên quan đến MHBT, kinh phí cấp cho
Dược từ năm 2000 - 2004 lưu tại phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh viện.
4- Các hoạt động liên quan đến việc xây dựng DMT tại bệnh viện.
4- DMT, sổ sách xuất nhập thuốc của bệnh viện những năm 2000 - 2004.
4- Các thuốc đang được lưu hành ở Việt Nam trong những năm gần đây [13].
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
Nội dung nghiên cứu của đề tài được trình bày ở hình 2.1 (trang bên).
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
Đề tài được tiến hành nghiên cứu theo một số phương pháp sau:
Phương pháp hồi cứu [1],[20]:
- Hồi cứu các báo cáo liên quan đến tình trạng bệnh tật, DMT, bảng báo
cáo xuất nhập thuốc của bệnh viện trong 5 năm (2000 - 2004).
- Hồi cứu các thuốc đang được lưu hành ở Việt Nam trong những năm
gần đây.
^Phương pháp cho điểm: Cho điểm lựa chọn thuốc dựa vào các 7 tiêu
chuẩn: Hợp lý, an toàn, hiệu quả, bào chế và kỹ thuật sử dụng, bảo quản, nơi
sản xuất, giá thành.
18
hợp với MHBT của bệnh viện
2
Thuốc có số đăng kí lưu hành ở Việt Nam phù
hợp với MHBT của bệnh viện.
1
Thuốc khác
0
2
An
toàn
2
ít ADR xử trí được và không gây hậu quả xấu.
2
Hiếm gặp ADR, phải xử trí phức tạp khi gặp
ADR, không gây hậu quả xấu, ít tương tác và
tương kị thuốc.
1
19
Nguy hiểm khi gặp ADR; Gây hậu quả xấu;
tương tác hoặc tương kị với nhiều thuốc, nhiều
nhóm thuốc.
0
3
Hiệu
quả
2
Thuốc đạt hiệu quả điều trị rõ ràng.
2
Thuốc đạt hiệu quả điều trị không rõ ràng.
1
0
6
Nơi sản
xuất
1
Thuốc được sản xuất trong nước, thuốc chưa
sản xuất được (nhập khẩu) có trong DMTTY
hiện hành và sẵn có.
2
Thuốc nhập khẩu khác dạng đơn chất. 1
Trường hợp khác. 0
7
Giá
thành
1
Giá thành điều trị thấp (Đa số người bệnh chấp
nhận được).
2
Bệnh viện và một bộ phận người bệnh chấp
nhận được.
1
Một ít người có khả năng chấp nhận
0
* Phương pháp xử lý số liêu: Phương pháp tỉ trọng thống kê, phương pháp so
sánh, biểu diễn bằng biểu đồ, bảng biểu
20