LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ THUÊ NGOÀI 3
1.1. Khái niệm thuê ngoài (Outsourcing) 3
1.2. Phân loại 3
1.3. Lợi ích của việc thuê ngoài 5
CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM TIẾN HÀNH CUNG CẤP DỊCH VỤ THUÊ NGOÀI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 6
2.2. Kinh nghiệm tiến hành cung cấp dịch vụ thuê ngoài CNTT của Ấn Độ 7
2.3. Kinh nghiệm tiến hành cung cấp dịch vụ thuê ngoài CNTT của Trung Quốc 10
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM KHI TIẾN HÀNH CUNG CẤP DỊCH VỤ THUÊ NGOÀI CNTT TẠI VIỆT
NAM 14
3.1. Thực trạng ngành dịch vụ thuê ngoài CNTT của Việt Nam 14
3.2. Bài học kinh nghiệm 16
19
KẾT LUẬN 20
1
LỜI MỞ ĐẦU
Việc nhận thức được cơ hội, lợi ích thiết thực khi thâm nhập vào thị trường
thế giới đã khiến các công ty sản xuất kinh doanh không ngừng tìm ra cho mình
chiến lược phù hợp. Dù là công ty đa quốc gia hay những doanh nghiệp có qui mô
nhỏ, trung bình thì việc nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường mục tiêu là vô cùng quan
trọng. Các công ty có quy mô nhỏ, trung bình, bị hạn chế về trình độ khoa học kỹ
thuật cũng như về khả năng tài chính, do đó, chiến lược thâm nhập thị trường từ
sản xuất trong nước là phù hợp hơn hết. Trong khi đó, các công ty lớn, các tập
đoàn đa quốc gia lại có tiềm lực về vốn, con người, kỹ thuật… nên có thể thực
hiện linh động các chiến lược thâm nhập khác nhau đối với từng thị trường khác
nhau. Trong đó có ba phương thức thâm nhập cơ bản: thâm nhập từ sản xuất
trong nước, thâm nhập từ sản xuất ngoài nước và thâm nhập tại khu kinh tế tự do.
Một trong những chiến lược được đánh giá là mang lại hiệu quả cao và
đang được áp dụng phổ biến hiện nay đó là hình thức thâm nhập Outsourcing -
một trong những hình thức thâm nhập thị trường thế giới từ sản xuất nước ngoài.
tính, kiểm toán…
- Outsourcing một phần trong quy trình sản xuất: doanh nghiệp đi thuê
ngoài một phần của quy trình sản xuất.
- Outsourcing toàn bộ quy trình sản xuất: doanh nghiệp thuê ngoài toàn bộ
quy trình sản xuất.
1.2.3. Theo báo cáo “World Investment Report 2011: Non-equity Modes of
International Production and Development” của UNCTAD (2011), outsourcing
gồm 2 dạng:
- Outsourcing trong sản xuất (contract manufacturing – sản xuất theo hợp
đồng).
3
- Outsourcing trong lĩnh vực dịch vụ (services outsourcing – thuê ngoài các
dịch vụ).
1.2.4. Tuy nhiên, ngày nay trong hầu hết các báo cáo thống kê về hoạt động
outsourcing, thuật ngữ này được hiểu là outsourcing trong lĩnh vực dịch vụ bao
gồm 2 hình thức chính là thuê ngoài công nghệ thông tin (ITO) và thuê ngoài quy
trình sản xuất (BPO).
* Thuê ngoài công nghệ thông tin (ITO) gồm :
- Tư vấn CNTT (IT consulting): các chính sách khai thác, vận hành, nguồn
nhân lực.
- Phần mềm: phát triển và bảo trì các ứng dụng, tích hợp các ứng dụng,
quản lý giao diện.
- Hạ tầng công nghệ thông tin: quản lý các ứng dụng, quản trị mạng.
* Thuê ngoài quy trình kinh doanh (BPO) gồm:
- Công việc hành chính (thuế, sổ sách)
- Quản lý tài sản
- Tài chính (kế toán, quản lý ngân sách tài sản cố định, hệ thống tài chính,
…)
- Nguồn nhân lực (tiền trợ cấp, tiền lương, quản lý nhân sự,…)
- Công việc tổng hợp ( dịch vụ năng lượng, dịch vụ khách hàng…)
bản sao các tham số hoặc cơ sở dữ liệu hệ thống của từng khách hàng, để nếu có
rủi ro vật lý (cháy, thiên tai) thì vẫn có thể khôi phục lại hệ thống. Các rủi ro về
gián đoạn hoạt động do thiếu dự phòng của DN do đó sẽ chuyển hết sang nhà
cung cấp outsourcing.
- Tâm lý: đối với nhà cung cấp outsourcing, nhân viên CNTT là lực lượng
lao động chính, nên họ có thể cất nhắc nhân viên lên các vị trí cao, thậm chí là
lãnh đạo công ty. Do đó các nhân viên cũng có động lực mạnh hơn để trau dồi
chuyên môn và gắn bó với nhà cung cấp.
* Theo các đánh giá trên thì outsourcing có nhiều điểm lợi. Nhưng việc gì
cũng có hai mặt, chúng ta thử điểm qua các điểm bất lợi:
- Bảo mật: là vấn đề nhiều CIO lo ngại nhất. Họ sợ các nhân viên
outsourcing sẽ tiết lộ thông tin của công ty ra ngoài, thậm chí cho các đối thủ.
- Trách nhiệm: nhà cung cấp thiếu trách nhiệm, chậm trễ và không cung
cấp nhân viên với phẩm chất cần thiết sẽ làm gián đoạn công việc của DN.
- Chất lượng: đây thường là vấn đề của giai đoạn chuyển tiếp từ dịch vụ nội
bộ sang outsourcing. Trong thời gian đầu (có thể kéo dài cả năm) nhân viên
outsourcing chưa nắm rõ hệ thống của DN, gây chậm trễ trong giải quyết sự cố
hoặc sai sót.
5
- Chi phí: thống kê chung cho thấy sử dụng outsourcing tiết kiệm hơn so
với tự làm, nhưng điều đó không có nghĩa là cứ outsourcing thì sẽ tiết kiệm chi
phí. Hợp đồng outsourcing không chặt chẽ có thể gây phát sinh chi phí lớn cho
DN (chẳng hạn khi phát hiện những nội dung dịch vụ chưa có trong hợp đồng).
CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM TIẾN HÀNH CUNG CẤP DỊCH
VỤ THUÊ NGOÀI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Đánh giá chung
Như chúng ta đã biết cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất có
bản chất là quá trình cơ khí hoá, nội dung là sử dụng máy móc thay thế lao động
chân tay. Kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này là sự ra đời của các
mềm là 633 tỷ USD (năm 2004 là 580 tỷ USD), trong đó khu vực Bắc Mỹ là 313
tỷ USD USD (chiếm 49,5%), Tây Âu là 193 tỷ USD (chiếm 30,5%), khu vực
châu Á – Thái Bình Dương là 103 tỷ USD (chiếm 16,3%).
Việt Nam đang trên đà phát triển vì thế rất cần vốn đầu tư. Với những lợi
thế đang sở hữu của đất nước thu hút đầu tư Outsourcing là một chính sách hợp lý
tận dụng ưu thế để phát triển đất nước. Có thể nói, ngành gia công phần mềm là
một ngành có tiềm năng lớn trong thị trường Việt Nam. Học hỏi những kinh
nghiệm của các nước đã thành công về lĩnh vực này, từ đó Việt Nam có những
chính sách phát triển hiệu quả hơn.
2.2. Kinh nghiệm tiến hành cung cấp dịch vụ thuê ngoài CNTT của Ấn Độ
2.2.1. Giới thiệu khái quát
Ấn Độ là một quốc gia Nam Á, chiếm hầu hết tiểu lục địa Ấn Độ. Đây là
quốc gia đông dân thứ nhì trên thế giới (hiện nay dân số Ấn Độ đã gần 1,1 tỷ
người ít hơn Trung Quốc 200 triệu người), và đồng thời lớn thứ 7 về diện tích. Ấn
Độ có nền văn minh Ấn Hà phát triển rực rỡ cách đây 5 nghìn năm, đây là nơi
sinh trưởng của bốn tôn giáo quan trọng trên thế giới (Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo
Jaini và đạo Sikh).
Kinh tế Ấn Độ là nền kinh tế thứ tư thế giới nếu tính theo sức mua ngang
giá, với GDP tính theo đôla Mỹ đạt 3,63 nghìn tỷ. Nếu tính theo tỷ giá hối đoái
với đôla Mỹ thì đây là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới với GDP tính theo đôla Mỹ
đạt 775 tỷ (2005). Ấn Độ là nền kinh tế phát triển nhanh thứ hai thế giới với tỷ lệ
tăng trưởng GDP là 8,1% ở cuối quý đầu tiên năm 2005-2006. Tuy nhiên dân số
khổng lồ của Ấn Độ khiến thu nhập trên đầu người đứng ở mức 3400 USD được
xếp hạng vào nước đang phát triển.
7
Ấn Độ có lực lượng lao động dồi dào và được đào tạo bài bản các kỹ năng
chuyên môn và thành thạo Anh Ngữ. Nhận thấy được những lợi thế của đất nước,
chính phủ đã có những chính sách sáng suốt tận dụng ưu thế của đất nước và đã
đạt được kết quả to lớn là trở thành vị trí quan trọng về dịch vụ thuê làm bên
ngoài (outsourcing), tư vấn khách hàng (customer service), và hỗ trợ kỹ thuật của
triển, Ấn Độ nhận thấy đây là cơ hội cho hướng phát triển mới và áp dụng mọi
biện pháp để thúc đẩy ngành công nghiệp này. Khi mà rất nhiều nước còn đang
thi hành chính sách đóng cửa để bảo hộ sản xuất trong nước, thì Ấn Độ đã mở
cửa thị trường thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực CNTT. Cùng với
đó là chính sách cải tổ về cơ cấu kinh tế: Ấn Độ đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa
ngành viễn thông, tạo tiền đề quan trọng về cơ sở hạ tầng cho phát triển công
nghiệp phần mềm. Đặc biệt là nhân tố nhân lực với số lượng đông đảo, trình độ
chuyên môn cao đóng vai trò quan trọng mang đến thành công cho đất nước.Kết
quả là công nghiệp phần mềm đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Ấn Độ.
Có thể không cần phải nói quá nhiều về những con số, những thành công
liên tiếp mà ngành phần mềm Ấn Độ đạt được bắt đầu từ những bước đi đầu tiên,
những đầu tư liên tục, mạnh mẽ và quyết liệt của chính phủ nước này với phương
châm đưa "công nghiệp phần mềm Ấn Độ lên thành kiểu mẫu của sức mạnh và
thành công". Tất cả những gì mà Ấn Độ đã đạt được khẳng định được sức mạnh
và vị thế của ngành gia công phần mềm Ấn Độ.
2.2.3. Kinh nghiệm tiến hành cung cấp dịch vụ thuê ngoài CNTT của Ấn Độ
Có thể nói ngành gia công phần mềm của Ấn Độ rất phát triển và Việt Nam
có thể học hỏi vì có được thành công đó là nhờ nhưng tiền đề rất vững chắc như:
Điều đầu tiên trực tiếp có thể nhìn thấy ngay đã tạo nên thành công cho
ngành phần mềm Ấn Độ chính là nguồn nhân lực. Hệ thống giáo dục tuyệt vời
với các học viện công nghệ quốc gia được trang bị các trang thiết bị hiện đại nhất,
mạng lưới hơn 1000 trường đại học và cao đẳng đào tạo chuyên ngành về CNTT
nằm rải rác khắp cả nước, chưa kể các cơ sở đào tạo tư nhân uy tín, các trung tâm
đào tạo và đào tạo lại của các doanh nghiệp lớn tất cả đã tạo cho nguồn nhân
lực phần mềm của quốc gia này một căn bản cực tốt. Cộng thêm thuận lợi sẵn có,
tiếng Anh là thứ ngôn ngữ chính thống dùng giảng dạy, các kỹ sư CNTT, kỹ sư
phần mềm của Ấn Độ ngay khi ra trường đã có thể làm việc ngay tại môi trường
quốc tế với chất lượng đạt chuẩn toàn cầu. Đó là chưa kể khả năng thích ứng cực
tốt của các kỹ sư này với mọi môi trường làm việc và những biến đổi nhạy bén
của thế giới trong lĩnh vực CNTT. Cùng với xu hướng toàn cầu hoá, những kỹ sư
trên thị trường, khiến những ông lớn của nền công nghệ thế giới khi cần là nghĩ
đến Ấn Độ và các sản phẩm của Ấn Độ.
Đó là những nét căn bản, những phác thảo rõ rệt nhất về những gì làm nên
sức mạnh của một ngành công nghiệp mũi nhọn của Ấn Độ.
2.3. Kinh nghiệm tiến hành cung cấp dịch vụ thuê ngoài CNTT của Trung
Quốc
2.3.1. Giới thiệu khái quát
Trung Quốc là một trong những cái nôi văn minh nhân loại sớm nhất. Đây
là quốc gia có nền văn hóa đa dạng và lâu đời. Là một đất nước có dân số lớn
10
nhất thế giới, lao động dồi dào, tiếp thu công nghệ thông tin nhanh chóng là nhân
tố quan trọng để phát triển kinh tế. Đặc biệt Trung Quốc đã đạt được những thành
tựu lớn về khoa học như: la bàn, thuốc súng, kĩ thuật làm giấy, kĩ thuật in ấn. Đây
được coi là “tứ đại phát minh”. Từ lâu Trung Quốc được coi như là một trung tâm
sản xuất công nghiệp và nghiên cứu và phát triển (R&D) trong khi Ấn Độ nổi bật
về dịch vụ và công nghệ thông tin. Tuy nhiên, tương quan giữa hai bên có thể
thay đổi vì Trung Quốc có lợi thế mới nhờ hệ thống hạ tầng kỹ thuật phát triển,
nguồn lao động vừa rẻ vừa có tay nghề cao và thông thạo Anh ngữ. Hiện nay
Trung Quốc và Ấn Độ đã bắt đầu tranh nhau phần lớn của chiếc bánh gia công
phần mềm đang ngày càng hấp dẫn. Trên thực tế Trung Quốc có những lợi thế
làm nên thành công đáng kể cho ngành gia công phần mềm.
2.3.2. . Tình hình phát triển của ngành dịch vụ thuê ngoài CNTT tại Trung
Quốc
Ngành gia công phần mềm của Trung Quốc tăng trưởng khá nhanh chóng.
Doanh thu nội địa tăng 48%, đạt 34.8 tỷ USD năm 2006 (năm 2003 là 23,6 tỷ
USD), chiếm 3% qui mô ngành công nghiệp CNTT thế giới (Mỹ chiếm 38%, EU
chiếm 31%, Nhật chiếm 10%, các nước còn lại chiếm 18%). Doanh thu công
nghiệp phần mềm và dịch vụ tăng 73%, từ 5,5 tỷ USD năm 2003 lên 9,5 tỷ USD
năm 2006, tốc độ tăng trưởng gần 20% hàng năm. Xuất khẩu của công nghiệp
phần mềm qui mô nhỏ, nhưng có tốc độ tăng trưởng cao, trong 5 năm 1998 –
thị trường nội địa.
Trong những năm gần đây ngành công nghiệp phần mềm của Trung Quốc
tăng trưởng mạnh mẽ. Chỉ trong hai năm từ 2001 đến 2003, số lượng các doanh
nghiệp phần mềm đã tăng từ 4000 lên 8000, trong đó 23% các doanh nghiệp này
có tổng doanh thu đạt mức 1,2 triệu USD/năm. Hiện nay ở Thượng Hải đang có
200 chuyên gia phần mềm nhưng dự kiến trong thời gian sắp tới con số này sẽ
tăng lên đến 2500. Trong vòng 20 năm trở lại đây Ấn Độ nổi lên trên trường quốc
tế như một nhà cung cấp các sản phẩm phần mềm hàng đầu trên thế giới. Chỉ
trong vòng hơn 10 năm từ 1991 đến 2002, xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ tăng
từ 400 triệu USD lên đến trên 8 tỷ USD. Tuy nhiên vị trí của Ấn Độ đang bị
Trung Quốc đe dọa. Tập đoàn Gartner Inc dự đoán: Xuất khẩu phần mềm của
Trung Quốc sẽ đuổi kịp trong vòng 4 năm.
Hiện nay Trung Quốc đang thực hiện 3 dự án công nghệ phần mềm lớn
hướng vào xuất khẩu, đó là Wangxin Software Development Base, Wangxin
Nanchang Software Park and Ningbo Software Park. Các dự án này sẽ đặt trọng
tâm vào các thị trường phần mềm của Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu Âu.
2.3.3. Kinh nghiệm tiến hành cung cấp dịch vụ thuê ngoài CNTT của Trung
Quốc
12
Để có được các thành công trên, về quản lý nhà nước Trung Quốc đã áp
dụng rất nhiều cơ chế và chính sách đặc biệt cho ngành công nghiệp phần mềm.
* Nhà nước
- Chính phủ có Bộ công nghiệp CNTT, có Cục phát triển công nghiệp phần
mềm và công nghiệp vi mạch. Các doanh nghiệp có Hiệp hội doanh nghiệp phần
mềm Trung Quốc làm đại diện và được Nhà nước hỗ trợ. Tháng 7/2000, Hội
đồng Nhà nước ban hành Nghị định khuyến khích phát triển công nghiệp phần
mềm và công nghiệp vi mạch.
- Từ năm 2000, nhà nước áp dụng chính sách đặc biệt về thuế để hỗ trợ
doanh nghiệp phần mềm. Ngoài ra nhà nước còn miễn thuế nhập khẩu trang thiết
bị khi thành lập doanh nghiệp phần mềm, đồng thời ưu đãi miễn, giảm thuế thu
trường Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi họ có lợi thế là sự gần gũi về địa lý và sự
tương đồng về chữ viết.
Phải nói rằng Trung Quốc rất biết sử dụng lợi thế của mình, và biết chớp
lấy thời cơ để thực hiện hành động của mình một cách hiệu quả nhất và kết quả là
gia công phần mềm của trung quốc doanh thu của thị trường GCPM của Trung
Quốc tăng gấp năm lần trong 5 năm qua. Năm 2006, thị trường gia công của
Trung Quốc tiếp tục phát triển nhanh, đạt giá trị 1,4 tỷ USD, tăng 48% so với
cùng kỳ năm trước; mức tăng trưởng doanh thu từ GCPM của Trung Quốc bình
quân là 38 %/năm suốt 5 năm qua.
* Đầu tư vào cơ sở hạ tầng tốt
Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm đều đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng
kỹ thuật cùng hệ thống tiêu chuẩn CNTT cốt lõi. Mặc dù Bắc Kinh, Thượng Hải,
Quảng Châu và một vài thành phố lớn khác ở vùng duyên hải vẫn là địa điểm
được phần lớn các công ty ngoại quốc chọn lựa, nhưng Trung Quốc đang có kế
hoạch làm cho các thành phố nhỏ trở nên hấp dẫn hơn. Các doanh nghiệp đang
tìm cách giảm chi phí cần chú ý rằng Trung Quốc có hơn 100 thành phố có quy
mô dân số trên một triệu người và gần như tất cả các thành phố này đều đang nỗ
lực tối đa để thu hút đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp nào chọn các thành phố
hạng hai – thậm chí hạng ba – sẽ được hưởng những ưu đãi hết sức hào phóng.
Tây An, một thành phố bốn triệu dân đang phát triển nhanh ở miền Tây Trung
Quốc chẳng hạn, đã thành lập một khu công nghệ cao, trong đó doanh nghiệp
nước ngoài được giảm tối đa giá thuê văn phòng và được miễn thuế cho đến khi
nào có lợi nhuận trong hai năm liên tiếp.
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM KHI TIẾN HÀNH
CUNG CẤP DỊCH VỤ THUÊ NGOÀI CNTT TẠI VIỆT NAM
3.1. Thực trạng ngành dịch vụ thuê ngoài CNTT của Việt Nam
3.1.1. Thành tựu đạt được
14
Phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ phần mềm là chủ
trương ưu tiên của lãnh đạo Nhà nước, là một trong những hướng đi tắt, đón đầu
yếu, trung bình, tốt, rất tốt và tuyệt vời.
3.1.2. Hạn chế
15
Điều đáng lo ngại là ngoài yếu tố giá rẻ được coi là thế mạnh; còn lại đa số
những tiêu chí khác của Việt Nam nằm ở mức trung bình. Thậm chí đáng lo ngại
hơn thế là Việt Nam có 4 tiêu chí bị đánh giá yếu gồm kỹ năng ngoại ngữ, sự hỗ
trợ của Chính phủ, cơ sở hạ tầng, an ninh và bảo vệ quyền riêng tư. Những đánh
giá này khá đồng nhất với Liên minh phần mềm doanh nghiệp BSA và The
Brown-Wilson Group khi cho rằng Việt Nam còn quá yếu về nghiên cứu phát
triển, đào tạo nhân lực và an ninh cũng như bảo hộ sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp
phần mềm nước ta đã tìm được những khách hàng lớn để gia công xuất khẩu
nhưng chủ yếu mới là dịch vụ và đang gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ các
doanh nghiệp phần mềm Ấn Độ, Nga, Trung Quốc và những nước đang phát
triển.
Gần đây, thị trường Nhật Bản đang nổi lên, và đã có một lựa chọn ưu tiên
với những doanh nghiệp Nhật Bản có kế hoạch đầu tư mở rộng dịch vụ phần mềm
tại Việt Nam. Những công ty có người Mỹ gốc Việt làm việc cũng là khách hàng
lớn của các công ty phần mềm ở Việt Nam.
3.2. Bài học kinh nghiệm
3.2.1. Đầu tư nguồn nhân lực
Việt Nam vẫn còn rất nhiều vấn đề nóng bỏng về nguồn nhân lực làm gia
công phần mềm cả về số lượng lẫn chất lượng. Song có lẽ vấn đề lớn nhất mà các
chuyên gia CNTT cho rằng thách thức lớn nhất của các doanh nghiệp phần mềm
Việt Nam khi tham gia thị trường gia công phần mềm đó là độ chuyên nghiệp.
Nhân công Việt Nam tiếp thu cái mới rất nhanh nhưng chuyên nghiệp, bài bản thì
lại không bằng các quốc gia khác. Nếu nói tới tính nghiêm túc, tính kỷ luật, người
Việt Nam không thể so sánh với nhân công Ấn Độ hay ngay cả quốc gia láng
giềng là Trung Quốc.
Hiện nay cả Trung Quốc và Ấn Đô đều bị ảnh hưởng của việc thiếu hụt
trầm trọng nguồn nhân lực kỹ năng cao và họ cố gắng giải quyết vấn đề bằng
Liên bang Ấn Độ có những tiểu bang do Đảng Cộng Sản cầm quyền qua các cuộc
bầu cử tự do từ nhiều năm qua. Chính vì vậy Việt Nam nên đầu tư vào nền giáo
dục bằng cách:
- Hỗ trợ trang thiết bị để các bạn có thể học hỏi và lĩnh hội được những
kiến thức trong trường và sau này sẽ vận dụng cho ngành công nghệ phần mềm
ngày càng phát triển hơn.
- Tạo môi trường học hỏi, giúp các bạn sinh viên có thể tự tin và thể hiện
khả năng của mình thông qua các buổi giao lưu, giới thiệu về công nghệ phần
mềm.
- Kinh doanh toàn cầu cần kỹ năng giao tiếp trong nhiều ngôn ngữ nhưng
tiếng Anh vẫn quan trọng nhất. Doanh nghiệp CNTT Việt Nam cần đào tạo nhân
viên về giao tiếp tiếng Anh và hiểu về văn hóa của khách hàng đối với từng nước.
17
- Tăng cường hạ tầng truyền thông, Internet; nâng cao chất lượng, giảm giá
cước; ưu đãi kết nối đường truyền đặc biệt đối với các khu phần mềm tập trung.
3.2.3. Chính sách của nhà nước
- Có cơ chế khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển
quan hệ liên kết kinh tế với các hình thức đa dạng giữa các doanh nghiệp với
nhau, coi liên kết kinh tế là các cách thức hữu hiệu để tổ chức mối liên kết giữa
các doanh nghiệp và nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
- Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các doanh
nghiệp trên thị trường. Coi cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới và nâng cao
hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp.
- Và Nhà nước phải tạo môi trường quốc tế tốt để các doanh nghiệp có thể
mở rộng quan hệ quốc tế và lĩnh hội được những kinh nghiệm của nước bạn và từ
đó vận dụng chúng vào phần mềm của mình một cách có hiệu quả cao.
3.2.4.Tạo thị trường cho ngành
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về hội nhập quốc tế
của Việt Nam nói chung và các cam kết WTO nói riêng nhằm nâng cao nhận thức
toàn xã hội. Việc tuyên truyền và phổ biến cần thực hiện linh hoạt, chủ động,
ngũ chuyên nghiệp, có chất lượng cao, sẵn sàng phục vụ đúng lúc và đáng tin cậy
trở thành một trong những lực chọn tốt nhất để giải quyết tình trạng này. Và
thành lập các trung tâm nghiên cứu lớn để họ có thể tập trung đầu tư vào nghiên
cứu và phát triển chuyên sâu và lĩnh vực nghiên cứu cho hiệu quả và có thể tập
trung vào các lĩnh vực.
19
KẾT LUẬN
Với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nâng cao chất lượng cuộc sống con
người. Sự thu hút nguồn vốn đầu tư, trình độ khoa học và giải quyết vấn đề việc
làm đang là vấn đề quan tâm của rất nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát
triển như Việt Nam. Việt Nam đã nhận thấy rằng việc thu hút đầu tư Outsourcing
là điều cần thiết phù hợp với những lợi thế đang sở hữu của đất nước.
Có thể nói ngành gia công phần mềm là một ngành có tiềm năng lớn trong
thị trường Việt Nam. Và gia công phần mềm sẽ là hướng đi chính của ngành công
nghiệp phần mềm Việt Nam trong những năm tới. Gia công phần mềm giúp Việt
Nam nhanh chóng tham gia được vào thị trường phần mềm thế giới, đồng thời
khai thác được những lợi thế của chúng ta, triển vọng phát triển ngành gia công
phần mềm của Việt Nam là rất tốt. Nhu cầu gia công phần mềm thế giới còn rất
nhiều và một nước có nhiều kinh nghiệm như Ấn Độ họ có thử thách rất là lớn về
vấn đề giả cả, về vấn đề mất người. Vì vậy mà những khách hàng của Ấn Độ bắt
đầu qua xem xét ở Việt Nam, và đây là cơ hội rất tốt cho doanh nghiệp Việt Nam.
Hơn nữa Việt Nam lại có rất nhiều lợi thế đó là: Giá nhân công rẻ là nhân tố cạnh
tranh lớn nhất của thị trường gia công phần mềm so với các thị trường phần mềm
khác như Ấn Độ,Trung Quốc,bên cạnh đó Việt Nam còn có mối tương đồng về
văn hoá cũng là yếu tố giúp Việt Nam được chú ý trên bản đồ các quốc gia có nền
công nghiệp gia công phần mềm. Ngoài ra Việt Nam có một nền chính trị ổn định
đó cũng là một lợi thế để phát triển gia công phần mềm.
Tóm lại, để phát huy những lợi thế và giải quyết được các vấn đề còn tồn
tại, nước ta cần chú trọng: Đầu tư ngân sách hỗ trợ giáo dục đào tạo con người, đề
cao trình độ con người vì con người là một yếu tố quan trọng trong tương lai