TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HỒ MINH THUYỀN
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC HOÁ
HỌC VÀ DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI VỚI NẤM
Fusarium sp. VÀ NẤM Rhizopus sp.
GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA
TRONG ĐIỆU KIỆN
IN VITRO
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC HOÁ
HỌC VÀ DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI VỚI NẤM
Fusarium sp. VÀ NẤM Rhizopus sp.
GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA
TRONG ĐIỆU KIỆN
IN VITRO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sƣ Bảo vệ
Thực vật với đề tài:
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC HOÁ
HỌC VÀ DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI VỚI NẤM
Fusarium sp. VÀ NẤM Rhizopus sp.
GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA
TRONG ĐIỆU KIỆN
IN VITRO
Do sinh viên Hồ Minh Thuyền thực hiện và bảo vệ trƣớc Hội đồng, ngày… tháng…
năm 2014
Luận văn đã đƣợc Hội đồng đánh giá ở mức:………………..điểm
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG ……….…………………………………………………
……………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………….
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
DUYỆT KHOA NN & SHƢD
CHỦ NHIỆM KHOA
ii
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014
Tác giả luận văn
HỒ MINH THUYỀN
iv
LỜI CẢM ƠN
Kính dâng cha, mẹ vì sự nghiệp tƣơng lai của con.
Hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận đƣợc nhiều lời động viên từ ngƣời thân, sự quan tâm, giúp đỡ của thầy cô và
bạn bè.
Thành kính biết ơn cô PGS.TS. Trần Thị Thu Thủy và Ths. Lê Thanh Toàn đã
tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, hƣớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề
tài tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy cố vấn học tập, quý thầy cô trong
Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng – những ngƣời đã giảng dạy, truyền đạt
nhiều kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến chị Nguyễn Thị Hàn Ni, các anh chị học
viên cao học khóa 20 và các bạn trong phòng thí nghiệm Nedo đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài. Gửi đến các bạn thuộc lớp Bảo vệ Thực vật khóa 36
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
HỒ MINH THUYỀN
v
MỤC LỤC
1.5.3 Binhnomyl 50WP .......................................................................................... 14
1.5.4 Amistar 250SC .............................................................................................. 15
CHƢƠNG 2 PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP ........................................... 17
2.1 PHƢƠNG TIỆN ............................................................................................... 17
2.1.1 Thời gian và địa điểm.................................................................................... 17
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm ........................................................................................ 17
2.2 PHƢƠNG PHÁP .............................................................................................. 18
2.2.1 Thí nghiệm 1. Khảo sát hiệu quả của các loại thuốc hoá học đối với nấm
Fusarium sp. và nấm Rhizopus sp. gây lem lép hạt lúa trong điều kiện in vitro ... 18
2.2.2 Thí nghiệm 2. Khảo sát hiệu quả của các loại dịch trích thực vật đối nấm
Fusarium sp. và nấm Rhizopus sp. gây lem lép hạt lúa trong điều kiện in vitro ... 19
CHƢƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 22
3.1 HIỆU QUẢ CỦA BỐN LOẠI THUỐC HOÁ HỌC ĐỐI VỚI NẤM Fusarium
sp. VÀ NẤM Rhizopus sp. .................................................................................... 22
3.1.1 Hiệu quả của bốn loại thuốc hoá học đối với nấm Fusarium sp. .................. 22
3.1.2 Hiệu quả của bốn loại thuốc hoá học đối với nấm Rhizopus sp.................... 27
3.2 HIỆU QUẢ CỦA BỐN LOẠI DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI VỚI NẤM
Fusarium sp. VÀ NẤM Rhizopus sp. ................................................................... 31
3.1.1 Hiệu quả của bốn loại dịch trích thực vật đối với nấm Fusarium sp. ........... 31
3.1.2 Hiệu quả của bốn loại dịch trích thực vật đối với nấm Rhizopus sp. ............ 37
CHƢƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .............................................................. 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 43
vii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Đƣờng kính (cm) khu n ty nấm Fusarium sp. ở thí nghiệm khảo sát hiệu quả
của 4 loại thuốc hoá học trong điều kiện in vitro ........................................ 23
3.2
Hiệu quả ức chế (%) nấm Fusarium sp. ở thí nghiệm khảo sát hiệu quả của 4
loại thuốc hoá học trong điều kiện in vitro ................................................. 26
3.3
Đƣờng kính (cm) khu n ty nấm Rhizopus sp. ở thí nghiệm khảo sát hiệu quả
của 4 loại thuốc hoá học trong điều kiện in vitro ........................................ 28
3.4
Hiệu quả ức chế (%) nấm Rhizopus sp. ở thí nghiệm khảo sát hiệu quả của 4
loại thuốc hoá học trong điều kiện in vitro ................................................. 31
3.5
Đƣờng kính (cm) khu n ty nấm Fusarium sp. ở thí nghiệm khảo sát hiệu quả
của 4 loại dịch trích thực vật trong điều kiện in vitro ................................. 33
3.6
Hiệu quả ức chế (%) nấm Fusarium sp. ở thí nghiệm khảo sát hiệu quả của 4
loại thuốc hoá học trong điều kiện in vitro ................................................. 36
3.7
điểm 48 GSĐKT ............................................................................................ 39
x
HỒ MINH THUYỀN, 2014.“KHẢO SÁT HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI DỊCH
TRÍCH THỰC VẬT VÀ THUỐC HOÁ HỌC ĐỐI VỚI NẤM Fusarium sp.
VÀ NẤM Rhizopus sp. GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA TRONG ĐIỆU
KIỆN IN VITRO”. Luận văn tốt nghiệp kỹ sƣ ngành Bảo vệ Thực vật, khoa Nông
Nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trƣờng Đại học Cần Thơ, cán bộ hƣớng dẫn khoa
học: Ths. Lê Thanh Toàn.
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát hiệu quả một số loại dịch trích thực vật và thuốc hoá học đối với
nấm Fusarium sp. và Rhizopus sp. gây bệnh lem lép hạt lúa trong điều kiện in vitro”
đƣợc thực hiện từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013 tại phòng thí nghiệm
Nedo, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trƣờng
Đại Học Cần Thơ nhằm: (1) Tìm ra dịch trích thực vật và nồng độ có hiệu quả ức
chế sự phát triển của hai loại nấm trong điều kiện in vitro, (2) Tìm ra thuốc hoá học
và nồng độ có hiệu quả ức chế sự phát triển của hai loại nấm trong điều kiện in vitr
Kết quả thí nghiệm cho biết hai loại dịch trích lá Neem và lá Cỏ hôi có hiệu
quả đối với nấm Fusarium sp. và nấm Rhizopus sp. trong bốn loại dịch trích thực
vật khảo sát trong thí nghiệm.
Kết quả thí nghiệm cho biết ba loại thuốc Binhnomyl 50WP, Tilt Super
300EC và Amistar 250SC có hiệu quả đối với nấm Fusarium sp. và Rhizopus sp.
trong bốn loại thuốc hoá học khảo sát trong thí nghiệm.
xi
1
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH LEM LÉP HẠT DO NẤM
Năm 1991, bệnh lem lép hạt đã được phát hiện miền Trung, đến năm 1992
bệnh xuất hiện tại Đồng bằng sông Hồng (Phạm Văn Dư và ctv., 2001). Ở ĐBSCL,
bệnh cũng khá phổ biến, gây hại đáng kể cho vụ Hè-Thu và Thu-Đông; ở một số
nơi tỉ lệ hạt nhiễm trên gié khoảng 5-20%, trung bình khoảng 10% (Võ Thanh
Hoàng, 1993). Bệnh có thể làm cho 100% số hạt bị lem, hạt lúa không thể làm
giống được (Phạm Văn Kim, 2006).
Trần Văn Hai (1999) cho biết bệnh đã trở nên nghiêm trọng và gây thiệt hại
lớn, có nơi ước tính từ 20-50% hạt bị lép, lửng và diện tích gây hại hàng năm trên
12.000 ha. Bệnh đã gây hại nặng cho hai vụ lúa Hè-Thu và Thu-Đông tại ĐBSCL.
Hiện nay, theo IRRI có tới khoảng 43 loài nấm gây hại hạt lúa trong tổng số
53 loài nấm có thể gây hại trong các giai đoạn phát triển của cây lúa ở tất cả các
nước trồng lúa trên thế giới (Mew và Misra, 1994). Sự tồn tại và phát triển của các
loài nấm này đã được quan tâm từ rất sớm (từ cuối thế kỷ 18) (Ou, 1985). Tuy
nhiên, sự tồn tại của nấm trên hạt đến giữa thế kỷ 19 mới được nghiên cứu kỹ, cuối
thế kỷ 19 đã có nhiều công bố về bệnh trên hạt của Richarson (1981), Ou (1985),...
Nấm gây hại trên hạt thể hiện nhiều tác hại khác nhau. Nhóm nấm nhiễm vào
hạt trước khi thu hoạch thường làm giảm phẩm chất và giảm sức nảy mầm của hạt
sau khi gieo, mạ có thể bị nhiễm bệnh (Ou, 1983). Nấm có thể gây hoại tử mô hạt
giống (Khanzada và ctv., 2002), giảm hoặc ngăn cản khả năng nảy mầm cũng như
làm thiệt hại cây con (Nghiep và ctv., 2001).
Lương Minh Châu và ctv. (1998) đã cho biết khi gieo hạt giống nhiễm nấm
bệnh thì năng suất lúa bị giảm 5-30%, làm cho lúa ít bông, ít hạt chắc/bông, tỉ lệ hạt
lép tăng 4-6% so với hạt sạch và trọng lượng cũng giảm, nhẹ cân hơn. Khi gieo hạt
Dịch trích lá cây cà độc dược làm chậm sự phát triển của nấm Rhizoctonia
solani trong điều kiện in vitro. Ở điều kiện nhà lưới khi phun dịch trích cây cà độc
dược lên lúa thì giảm được bệnh đốm vằn và bệnh cháy bìa lá lúa (Kagale và ctv.,
2004).
Venkateswarlu và Chauhan (2005) cho rằng các hoạt chất hóa học
carbendazim, benomyl, mancozeb có thể phòng trị tốt bệnh thối bẹ và lem lép hạt
lúa thông qua trọng lượng một ngàn hạt và số lượng hạt khỏe khi sử dụng các hoạt
chất hóa học trên.
Yasmin và ctv. (2008) cho biết khi nghiên cứu 55 loại dịch trích thực vật ảnh
hưởng đến nấm Fusarium moniliforme thì dịch trích cỏ cứt heo và cây sống đời cho
hiệu quả ức chế nấm cao nhất.
Ba loại tinh dầu chiết xuất từ cây sả, hương nhu trắng và hoa môi có khả
năng chống lại sự xâm nhiễm của Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae và
Fusarium moniliforme gây bệnh trên hạt lúa. Ba loại tinh dầu này còn giúp tăng độ
nảy mầm của hạt giống và giúp cây lúa sinh trưởng tốt hơn (Nguefack và ctv.,
2008).
Hạt lúa giống ngâm với dịch trích từ củ tỏi và lá cây hoàng anh giúp hạt
giống nảy mầm tốt và giảm đáng kể sự xuất hiện của các loài nấm trên hạt lúa như:
Bipolaris oryzae, Curvularia oryzae, Nigrospora oryzae, Aspergillus flavus,
3
Aspergillus niger, Penicillium sp. và Fusarium moniliforme (Yeasmin và ctv.,
2012).
1.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Theo Trần Văn Hai (1999), trong điều kiện phòng thí nghiệm các loại thuốc
hóa học như Tilt 250EC, Appencarb supesr 50FL và Anvil 5SC có hiệu quả ức chế
bốn loài nấm gây bệnh lem lép hạt lúa gồm có Fusarium moniliforme, Alternaria
padwicki, Cuvularia lunata và Helminthosporium oryzae.
Vũ Đăng Khánh và ctv. (2007) công bố sản phẩm chiết suất từ nhân hạt
(1931) xác định tên nấm là Gibberella fujikuroi và giai đoạn vô tính là Fusarium
moniliforme (Ou, 1983; Vũ Triệu Mân, 2007). Nấm thuộc nghành Eumycota,
nghành phụ Deuteromycotina, lớp Hypphomycetes (Deuteromycetes), bộ
Moniliales, họ Tuberculariaceae (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1999).
Nấm Fusarium moniliforme được phát hiện thấy ở tất cả các nước trồng lúa.
Nấm này cũng được xác định là có mặt phổ biến tại hầu hết ở các nước châu Á (Ou,
1985). Ở Trung Quốc bệnh được gọi là “White Stalk”; ở Philippin và Guyana, bệnh
được gọi là “lúa đực” (Võ Thanh Hoàng, 1993).
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) thì Bourgnicourt là người đầu
tiên nghiên cứu và xác nhận nấm Fusarium moniliforme tại Việt Nam vào 1943.
Tuy được phát hiện từ lâu nhưng những nghiên cứu về Fusarium moniliforme chỉ
được thực hiện ở mức độ giới hạn. Nấm gây hại cho nhiều tỉnh ở miền Bắc (Vũ
Triệu Mân, 2007) cũng như ở các tỉnh ĐBSCL (Phạm Văn Kim và Lê Thị Sen,
1993).
Ở ĐBSCL, nấm Fusarium moniliforme có mặt ở nhiều nơi, đặc biệt gần đây
nấm đã gây hại thành dịch tại một số tỉnh trong vùng. Fusarium moniliforme gây
thiệt hại nặng nhất là vụ Đông-Xuân, mức độ thiệt hại tuỳ theo giống và tuỳ theo
năm (Võ Thanh Hoàng, 1993). Theo báo cáo của Trung tâm Bảo vệ Thực vật phía
Nam (2008), diện tích và mức độ thiệt hại do nấm Fusarium moniliforme được ghi
nhận ở tỉnh An Giang vụ Đông-Xuân 2006-2007 là 8.282 ha. Sau đó, nấm tiếp tục
phát triển lây lan sang nhiều nơi, trong vụ Đông-Xuân 2007-2008 đã có 6 tỉnh
ĐBSCL bị nhiễm là An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cần Thơ và
Sóc Trăng với tổng diện tích nhiễm bệnh là 11.046 ha (trích dẫn từ Nguyễn Thanh
Nam, 2012).
Ou (1983) đã ước tính sự thất thu do nấm Fusarium moniliforme; trong đó
thất thu năng suất 20% ở Hokkaido của Nhật Bản, thậm chí sự thất thu lên đến 4050% ở vùng Kinkichugoku của Nhật Bản, ở Ấn Độ thất thu 15%, ở miền Bắc và
trung tâm Thái Lan thất thu 3,7-14,7%, tại Philippin thất thu năng suất từ 1-13%.
Theo Mew và Misra (1994), dưới sự kiểm tra hạt lúa một cách tổng quát của
IRRI thì mức độ nhiễm Fusarium moniliforme là trên 25%. Đến năm 2002, Mew và
khi đó, Phạm Văn Kim (2009) đã chứng minh Fusarium moniliforme có sinh ra bào
tử áo (chlamydiasores) với vách dày.
Khuẩn lạc trên môi trường PDA ở nhiệt độ phòng (28-300C) phát triển tương
đối nhanh và có đường kính là 5,2 cm sau 5 ngày nuôi cấy. Chúng là các khoanh
màu trắng với tâm màu hồng, sợi nấm hơi bện chặt. Mặt sau đĩa petri, chúng là các
khoanh nấm màu trắng với tâm tím nhạt (Mew và Gonzales, 2002).
Nấm tồn tại chủ yếu ở dạng sợi và bào tử hữu tính trên tàn dư cây bệnh ở
trong đất và hạt giống (Ou, 1983). Hạch nấm là cơ quan lưu tồn, giúp nấm tồn tại
khá lâu trong đất, có thể hơn 2 năm (Phạm Văn Kim, 2000). Fusarium moniliforme
có khả năng lưu tồn đến 26 tháng khi xâm nhiễm trên hạt lúa và 28 tháng trên gốc rạ
khô (CABI, 2003). Loài Fusarium moniliforme có khả năng sống qua mùa hè trên
hạt hay phần thân nhiễm bệnh.
Nấm Fusarium moniliforme là loài nấm đa thực, phạm vi ký chủ ngày càng
mở rộng trên nhiều loại cây trồng khác nhau như lúa, bắp, vải, cà, chuối, táo, mía,
đậu (Agrios, 2005). Ở Nhật Bản, các nhà khoa học đã phát hiện nấm Fusarium
6
moniliforme trong nhiều loài cỏ họ hoà bản (Panicum miliaceum L.), trên lúa mạch,
bắp, lúa miến và mía đường.
Nấm Fusarium solani
Lần đầu tiên được Mew và Gonzales (2002) mô tả trên hạt lúa.
Nấm Fusarium solani gây hại trên hạt lúa ở tần số thấp. Nấm này có thể làm
cho hạt lúa bị biến màu. Tuy nhiên, nó được tìm thấy trên hạt từ nhiều khu vực và
hệ sinh thái khác nhau (Mew và Gonzales, 2002).
Fusarium solani có thể tìm thấy trên hạt sau 5 ngày ủ ở nhiệt độ 21 0C trong
điều kiện ánh sáng cực tím. Tần số xuất hiện trung bình trên hạt
như sau (trích dẫn từ Ou, 1983): Bào tử vô tính có màu trắng hoặc trắng hồng, vàng
kim, vàng đỏ hoặc màu hung pha đỏ son, một phần chìm lan, ít hoặc nhiều được bao
phủ một lớp sợi nấm nổi hơi xốp, có dạng hạch, giống như các lớp bào tử hoặc tản
nấm sinh bào tử màu vàng đỏ đến vàng cam rực rỡ. Bào tử hình thoi hoặc lưỡi liềm,
cong vừa phải hoặc thon nhọn ở 2 đầu, có 3-5 vách ngăn, đôi khi 1-2 hoặc 6-9 vách
ngăn. Các tác giả còn mô tả bào tử nang màu xanh đen. Hình trái xoan hoặc tròn, có
hoặc không có lỗ miệng hình nón, nang có kích thước 37-84 μm x 8-15 μm; tử nang
bào tử xếp thành hàng một hoặc hàng đôi không rõ ràng, hình con thoi, hơi cong
hoặc thẳng, hai đầu tù hoặc hình chóp non, 3 vách ngăn, kích thước 22,7 μm x 4,0
μm, đôi khi có 4 vách ngăn (Ou,1983).
Nấm Fusarium graminearum gây hại chính trên ngô, lúa miến, lúa mạch, đầu
nành. Ngoài ra, còn gây hại trên hoa cẩm chướng, xoài, chuối, lục bình… (CABI,
2003).
1.3.2 Nấm Rhizopus sp.
Nấm thuộc họ Mucoraceae, bộ Mucorales, ngành phụ nấm tiếp hợp
(Zygomycotina). Hầu hết những loài Rhizopus là những loài thực vật hoại sinh,
chúng phát triển khuẩn ty bao phủ bên bề ngoài của cơ chất. Giống Rhizopus có ít
nhất 120 loài và Rhizopus stolonifer là loài phổ biến trong thiên nhiên và được mô
tả tương đối kỹ (Nguyễn Văn Bá và ctv., 2005).
Trên hạt lúa nấm mọc từ một điểm và lan ra rất nhanh bao phủ cả hạt, lúc
đầu sợi nấm có màu trắng như bông gòn, về sau xuất hiện cọng mang bào tử mọc
thẳng lên không (Nguyễn Thanh Nam, 2012).
Võ Thanh Hoàng (1993), cho biết tuỳ theo điều kiện nhiệt độ, các loài nấm
Rhizopus được chia làm hai nhóm nấm:
- Nhóm phát triển trong điều kiện nhiệt độ cao (30-320C và có thể lên đến
420C) như các loài Rhizopus tricici, Rhizopus nodosus, Rhizopus oryzae và
Rhizopus maydis...
- Nhóm phát triển ở nhiệt độ thấp (18-240C và ngừng sinh trưởng ở 30-320C)
như các loài Rhizopus nigricans, Rhizopus reflexus và Rhizopus artocarpi...
Nấm Rhizopus stolonifer
Chromlaena có khoảng 10 loài. Trong đó, cỏ hôi là cây quen thuộc nhất, cỏ hôi
phân bố ở các tỉnh vùng Đồng Bằng, Trung Du và vùng núi thấp. Cây ưa sáng, chịu
hạn và có thể sống được trên mọi loại đất, mọc tương đối tập trung trên những diện
tích lớn ở đồi, nhất là đất nương rẫy đã bỏ hoang. Cỏ hôi ra hoa kết quả hàng năm
với số lượng nhiều, phát tán nhờ gió nên có khả năng chiếm lĩnh và mở rộng vùng
phân bố cực nhanh (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004).
Thành phần hoá học
Nghiên cứu của Đỗ Huy Bích và ctv. (2004) cho rằng cỏ hôi chứa tinh dầu,
tanmin, flavanoid, coumarin, alkaloid,… Trong lá chứa 0,16% tinh dầu gồm 2,6%
α-pinen, 0,6% sabinen, 2,6% β-pinen, 0,9% myreen, α-terinen (vết), β-cymen (vết),
0,5% limonene, 0,5% (Z)-β-ocimen, 0,5%(E)-β-ocimen, 0,1% (Z)-sabinen hydrat,
camphor (vết), 4,9% geijieren đồng phân, 4,25% geijieren, 0,2% (terpinen-4-ol, α-
9
terpinen), 3,5% bomyl acetate, 0,4% δ-elemen, 1% α-copaen, 0,2% β-bourbonen,
1,4% β-elemen, 0,4% geijierol, 7,4% β-caryophylen, 1,9% α-humulen, 12,5% βeubelnen, 1,3% γ-elemen hoặc germeeren, 0,5% alcol sesquiterpen, 2,1% δ-cadinen,
2,0% elemen, 0,9% α-ionon, caryophynen oxyd, 0,2% viridiflorol, 0,3%
epiglobulol, 0,2% δ-cadinon (toreyol), 0,6% α-cadinon. Ngoài ra, lá có hôi còn chứa
acid anisic, isosakuranetin, odoratin, kaempferol, sakuranetin, tamarixetin,
salvigerin, 7-methyl-isokuranetin, 4’,5-dihydroxy-3’,7-dimethyl flavon và
epoxylupeol.
Trog cây có chứa khoảng 0,16% tinh dầu đặc, tỉ trong 1,19, αD=1020, chỉ số
acid 0,9, chỉ số ester 11,2 ( Đỗ Tất Lợi, 2003).
Công dụng
Dùng lá tươi để cầm máu vết thương, chữa bệnh tiêu chảy của trẻ em, chữa
ghẻ lỡ, nhọt và viêm đại tràng. Nước sắc cỏ hôi có tác dụng kháng khuẩn, ức chế
được vi khuẩn gây mủ trên vết thương (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1997).
1.4.2 Cây neem
về khả năng xua đổi côn trùng của cây neem. Đến năm 1958, những nghiên cứu về
tiềm năng của cây neem trong kiểm soát dịch hại mới được quan tâm nghiên cứu có
hệ thống (Diệp Quỳnh Như, 2006).
Theo Vũ Văn Độ và ctv. (2006), Salanin là hoạt chất chiếc xuất từ cây Neem
không có tác dụng gây độc trên tế bào người nhưng lại có hoạt tính kháng lại các vi
sinh vật như vi khuẩn B. subtillis, nấm Aspergillus niger, Fusarium oxysporum, C.
albican,…
Vũ Đăng Khánh và ctv. (2007) công bố sản phẩm chiết suất từ nhân hạt
neem trong ethanol, methanol và nước đều có tác dụng ức chế sử sinh trưởng đối
với 3 loài nấm gây bệnh cây là Rhizoctonia solani, Seclerotium rolfsii và Fusarium
oxysporum. Trong đó, tác dụng ức chế mạnh nhất là sản phẩm chiết xuất với
ethanol, kế đến là methanol và yếu nhất là nước.
1.4.3 Cây lược vàng
Đặc điểm hình thái
Cây lược vàng là cây thân thảo nhiều năm thân mọng nước, nó có thể dài tới
1 m, phân nhánh từ thân ở gốc như các vòi vươn ra ngoài. Lá cây lược vàng tập
trung mọc ở ngọn thân, rải rác ở phía dưới, dạng mác thuôn, dài 18-25 cm, rộng 3,54,0 cm, cuống lá có gân rõ, ôm thân, có lông mịn và thường có sọc tía. Hoa mọc
thành cụm 2-3 hoa dạng sim trên phát hoa hình chuỳ dài tới 60 cm, mọi cặp sim
được ôm bởi các lá bắc dạng răng cưa (3 răng cưa) dài 10-15 cm. Lá đài trong suốt,
màu trắng, khô xác, dạng mác, dài 5-6 mm. Cánh hoa bóng, trong suốt, màu trắng
mỏng, có dạng trứng hẹp. Ra hoa vào mùa xuân (Trần Thị Ánh Hồng, 2011).
Phân bố
Trên thế giới, họ Thài lài có 40 chi và 625 loài sống chủ yếu ở các vùng nhiệt
đới, một số ít sống ở vùng cận nhiệt đới và ôn đới nóng. Cây phân bố ở các bãi
hoang, đất ẩm, bờ nước, một số ít làm cảnh. Ở Việt Nam, theo thống kê của các nhà
thực vật học họ này có 15 chi và 47 loài, theo Phạm Hoàng Hộ đã công bố họ này
gồm 13 chi và 60 loài. Còn theo như công trình “Danh mục các loại thực vật Việt
Nam” tập 3 do các nhà khoa học thuộc Đại học quốc gia Hà Nội và Viện Sinh thái
11
cứu tác dụng dược kháng sinh của tinh dầu húng chanh đối với các loài vi trùng và
thấy tinh dầu húng chanh có tác dụng mạnh đối với vi trùng Staphyllococcus,
Salmonella typhi, Shigella flexneri-Shigella sonnei, Shigella dysenteria (Shiga)
Subtilis, Coli pathogene, Colibothesda Streptococcus, Pneumococcus và Diphteri
(Trích dẫn từ Đỗ Tất Lợi, 2003).
12