TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
------
NGUYỄN VĂN TÈO
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Chuyên ngành Khoa học Môi Trường
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN XỈ THÉP ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ
NĂNG SUẤT LÚA OM6976 VỤ ĐÔNG XUÂN TẠI
HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG
Cán bộ hướng dẫn: Ngô Thụy Diễm Trang
Cần Thơ - 12/2013
PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn tốt nghiệp kèm theo đây, với tựa đề là “Ảnh hưởng của phân xỉ thép
đến sinh trưởng và năng suất lúa OM6976 vụ Đông Xuân tại huyện Châu Phú –
Tỉnh An Giang”, do Nguyễn Văn Tèo thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm
luận văn tốt nghiệp thông qua.
PGs.TS. Bùi Thị Nga
PGs.TS. Nguyễn Hữu Chiếm
TS. Ngô Thụy Diễm Trang
i
như lợi nhuận người dân thu được khi sử dụng phân xỉ thép. Thí nghiệm được thực
hiện tại ruộng lúa ông Huỳnh Văn Nhơn thuộc xã Vĩnh Thạnh Trung - huyện Châu
Phú – Tỉnh An Giang. Thí nghiệm bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD),
được chia thành 20 lô (diện tích 50m2/lô) bao gồm 05 nghiệm thức với 04 lần lặp lại.
Nghiệm thức 1 (NT1) bón theo kinh nghiệm nông hộ; NT2 và NT3 bón theo công thức
khuyến cáo và kết hợp với phân xỉ thép (lượng phân xỉ thép tương ứng là 4200 và
8400kg/ha); NT4 bón theo công thức khuyến cáo (NT đối chứng) và NT5 bón theo
công thức khuyến cáo kết hợp với CaCO3 (500kg/ha).
Các chỉ tiêu nông học của nghiệm thức bón thêm phân xỉ thép như chiều cao
cây, chiều dài bông, số chồi và số chồi hữu hiệu không khác so với NT4.
Tương tự, NT2 và NT3 (nghiệm thức bổ sung phân xỉ thép) cho năng suất và
các yếu tố cấu thành năng suất giống với nghiệm thức đối chứng (NT4), ngoại trừ
nghiệm thức 2 cho tỉ lệ hạt chắc cao hơn NT4. Qua đó cho thấy việc bổ sung phân xỉ
thép không mang lại hiệu quả tích cực cho sự sinh trưởng và năng suất lúa OM6976
canh tác vụ Đông Xuân tại huyện Châu Phú, An Giang. Hơn nữa, do lượng phân xỉ
thép sử dụng nhiều dẫn đến tăng chi phí đầu tư, giảm lợi nhuận sau cùng.
Từ khóa: xỉ thép, nghiệm thức, chiều cao cây, khuyến cáo, đối chứng, chỉ tiêu nông
học, yếu tố cấu thành năng suất.
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ..................................................................... 3
1.1 Sơ lược về điểm nghiên cứu .............................................................................................. 3
1.2 Đặc điểm và hình thái cây lúa ........................................................................................... 3
1.2.1 Rể ............................................................................................................................... 3
1.2.2 Thân ........................................................................................................................... 4
3.1 Ghi nhận tổng quan.......................................................................................................... 15
3.2 Chỉ tiêu nông học ............................................................................................................. 15
3.2.1 Chiều cao cây lúa ..................................................................................................... 15
3.2.2 Số chồi trên cây ....................................................................................................... 16
3.2.3 Chiều dài bông ......................................................................................................... 17
3.3 Thành phần cấu thành năng suất và năng suất................................................................. 17
3.3.1 Số bông/m2 .............................................................................................................. 17
3.3.2 Số hạt/ bông ............................................................................................................. 18
3.3.3 Tỉ lệ hạt chắc ............................................................................................................ 19
3.3.4 Trọng lượng 1000 hạt .............................................................................................. 20
3.3.5 Năng suất lý thuyết .................................................................................................. 21
3.3.6 Năng suất thực tế ..................................................................................................... 21
3.4 Lợi nhuận ......................................................................................................................... 23
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .................................................................. 24
4.1 Kết luận............................................................................................................................ 24
4.2 Đề nghị ............................................................................................................................ 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 25
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Liều lượng và thời gian bón phân của các nghiệm thức ................................ 13
Bảng 2.2: Lượng dinh dưỡng sử dụng cho 5 nghiệm thức (kg/ha) ................................ 13
Bảng 3.1: Số chồi và số chồi hữu hiệu trên cây giữa các nghiệm thức .......................... 16
Bảng 4.1: Lợi nhuận thu được tại ruộng lúa thí nghiệm đơn vị đồng/vụ ....................... 23
DANH MỤC HÌNH
sản xuất 1 vụ lên 2 hoặc 3 vụ trong năm làm cho đất không có thời gian phục hồi.
Đồng thời, việc lạm dụng phân hóa học để tăng năng suất cây trồng song song với việc
đó là sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật đã có những tác dụng xấu đến hệ sinh thái
đồng ruộng. Hệ sinh vật trong đồng ruộng chết dần, đất đai mất dần khả năng sản xuất.
Người dân thì chỉ chú trọng dùng phân vô cơ (chủ yếu N, P, K) với liều cao, làm tăng
độ chua của đất, mất cân đối về vi lượng và trung lượng làm ảnh hưởng đến độ phì
nhiêu đất và năng suất cây trồng. Phân xỉ thép có đầy đủ thành phần trung vi lượng và
lân, do đó có thể bón thử nghiệm trên đất lúa nhằm đánh giá “Ảnh hưởng của phân xỉ
thép đến sinh trưởng và năng suất của lúa OM6976 vụ Đông Xuân tại xã Vĩnh Thạnh
Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang”.
Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu sự ảnh hưởng của phân xỉ thép đến khả năng sinh
trưởng và năng suất lúa, đồng thời đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân xỉ
thép trong việc sản xuất lúa so với các loại phân hóa học khác.
Mục tiêu cụ thể:
- Khảo sát sinh trưởng và năng suất lúa
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức phân bón
Nội dung nghiên cứu:
- Thu thập tài liệu về quy trình kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất lúa của nông
dân.
1
- Tìm hiểu về tác dụng của các loại phân bón đến cây lúa.
- Triển khai thí nghiệm nhằm xác định ảnh hưởng của phân bón (ứng với 5
nghiệm thức phân bón).
- Theo dõi, tiến hành đo đếm các thông số tăng trưởng tại thời điểm thu hoạch:
Chiều cao cây, số cây/m2, số chồi/cây, số chồi hữu hiệu/cây, chiều dài bông, số
bông/m2, số hạt trên/bông, trọng lượng 1000 hạt, năng suất lý thuyết, và năng suất thực
tế.
dưỡng của cây và giống lúa (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
3
1.2.2 Thân
Thân lúa gồm hai loại: thân giả và thân thật. Thân giả do bẹ lá kết hợp lại với
nhau, thân thật được tạo nên bởi các đốt lóng kế tiếp nhau. Nó được hình thành kể từ
khi cây lúa phân hóa đốt và là kết quả của sự vươn dài của các đốt, số đốt của thân cây
nhiều hay ít tùy theo giống và ít thay đổi theo điều kiện môi trường (Võ Tòng Xuân và
Hà Triều Hiệp, 1998).
Trong điều kiện thuận lợi, đầy đủ dinh dưỡng và ánh sáng, cây lúa thường bắt
đầu mọc chồi đầu tiên ở mắt thứ hai, đồng thời với lá thứ năm trên thân chính. Sau đó
cứ ra thêm một lá mới thì các chồi tương ứng sẽ xuất hiện, sự ra lá, ra chồi và ra rễ của
cây lúa tuân theo một quy luật nhất định. Quy luật này gọi là quy luật sinh trưởng đồng
hạng của Katayama về ra lá, ra chồi và ra rễ: khi lá thứ n trên thân chính xuất hiện thì
tại mắt lá thứ n-3 chồi sẽ xuất hiện và rễ phụ cũng mọc ra. Trường hợp ngoại lệ là khi
cây ra lá thứ 4 thì chỉ có rễ ở mắtt lá thứ 1 ra mà không có chồi, vì lúc này cây lúa còn
quá non mới bắt đầu tự dưỡng nên không đủ dinh dưỡng tích lũy để sinh ra chồi. Theo
quy luật này, khi cây lúa ra lá thứ 13 trong điều kiện thuận lợi thì cây sẽ có 9 chồi bậc
nhất, 21 chồi bậc hai, 10 chồi bậc ba và 1 thân chính, tổng cộng có 41 chồi/bụi
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.2.3 Lá
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) lúa là cây đơn tử diệp, lá lúa mọc đối ở 2 bên
thân lúa, lá ra sau nằm về phía đối diện với lá trước đó, lá trên cùng gọi là lá cờ hay lá
đòng. Lá lúa gồm phiến lá, cổ lá và bẹ lá. Phiếm lá là phần lá phơi ra ngoài ánh sáng,
bộ phận quang hợp chủ yếu của cây lúa. Có thể xem lá lúa là nhà máy chế tạo nên các
chất hữu cơ cung cấp cho toàn bộ hoạt động sống của cây, thông qua hiện tượng quang
hợp, biến quang năng thành hóa năng. Lá lúa có thể quang hợp được ở cả 2 mặt lá.
Phiến lá chứa nhiều bó mạch lớn nhỏ và các bọng khí lớn phát triển ở gân chính, đồng
những giống lúa ngắn ngày thường trổ nhanh hơn, trung bình từ 5-7 ngày. Những
giống lúa dài ngày có khi trổ kéo dài 10-14 ngày, khi lúa trổ bông thì hoa lúa nào xuất
hiện trước sẽ phơi màu trước, nên sự nở hoa sẽ tiến hành từ trên chóp bông xuống đến
cổ bông. Sự nở hoa thường xảy ra cùng ngày hoặc khoảng 1 ngày sau khi trổ bông,
trong điều kiện nhiệt đới, hầu hết các giống lúa thường phơi màu trong khoảng 8 giờ
sáng đến 13 giờ trưa, tập trung từ 9-11 giờ. Nếu thời tiết tốt, nhiều nắng, nhiệt độ cao,
sự phơi màu có thể xảy ra sớm hơn (khoảng 7 giờ sáng), ngược lại có thể trễ hơn (từ 45 giờ chiều) (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.2.5 Hạt
Hạt lúa gồm có: phần vỏ lúa và hạt gạo. Vỏ lúa gồm 2 vỏ trấu ghép lại, ở gốc 2
vỏ trấu chỗ gắn vào đế hoa có mang hai tiểu dĩnh, phần vỏ chiếm khoảng 20% trọng
lượng hạt lúa, bên trong vỏ lúa là hạt gạo.
Hạt gạo gồm 2 phần:
- Phần phôi hay mầm: nằm ở góc dưới hạt gạo, chỗ đính vào đế hoa, ở về phía
trấu lớn.
- Phôi nhũ: chiếm phần lớn hạt gạo chứa chất dự trữ, chủ yếu là tinh bột, bên
ngoài hạt gạo được bao bọc bởi một lớp vỏ lụa mỏng chứa nhiều vitamin, nhất là
vitamin nhóm B, khi xay xát lớp này tróc ra thành cám mịn. Phôi nhũ là nơi dự trữ
chất dinh dưỡng và nảy mầm tạo cây mới khi gặp điều kiện thuận lợi (Nguyễn Ngọc
Đệ, 2008).
5
1.3 Giống lúa OM6976
Giống OM6976 được lai từ tổ hợp lai IR68144/OM997//OM2718///OM2868.
Đây là giống có hàm lượng sắt khá cao trong hạt gạo và là giống có thời gian sinh
trưởng 95- 97 ngày đối với lúa sạ, 100-105 ngày với lúa cấy. Giống OM6976 có triều
cao trung bình 100-110 cm, rất cứng cây. Khả năng đẻ nhánh khỏe, đạt 9-10 chồi hữu
hiệu/bụi, có chiều dài bông trung bình từ 25-28 cm, số hạt trên/bông đạt từ 150-200
hạt, trọng lượng 100 hạt 25-26 gram năng suất vụ đông xuân 7-9 tấn /ha.
kích thích sự tổng hợp acid nhân, ATP, NAD(P)H,…rất cần cho hoạt động biến dưỡng
6
và hô hấp. Trong cây lân chứa trong phần cuốn lá, sau khi trổ bông thì chuyển sang
bông và hạt (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005).
Giữa đạm và lân có mối quan hệ mật thiết. Đạm vô cơ được hấp thu và tích lũy
trong mô cây nhanh khi hàm lượng lân giảm. Trái lại khi hàm lượng lân nhiều trong
vùng rễ sự hấp thụ đạm vô cơ giảm. Do đó, sự áp dụng phân bón phosphate thường
đưa đến tình trạng làm thay đổi sự cân bằng đạm trong cây. Sự hóa già của cây sớm
hơn khi hàm lượng lân cao. Sự tổng hợp protein không xảy ra ở những cây thiếu lân
(Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Toàn, 2005).
1.4.3 Phân kali
Sau đạm và lân, kali (K) là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng thứ 3 đối với cây
trồng, tỉ lệ K trong cây biến động trong khoảng 0,5-6% chất khô. Kali tồn tại trong cây
ở dạng ion K+. Theo tài liệu nghiên cứu cho thấy K không liên kết hay nằm trong
thành phần hữu cơ nào của mô thực vật. Trong cây một phần nhỏ K tạo phức không ổn
định với chất keo của tế bào và phần lớn tồn tại dạng ion trong dịch bào. Ở cây ngũ
cốc tỉ lệ K trong thân lá cao hơn tỉ lệ K trong hạt (Vũ Hữu Yêm, 1995). Kali chủ yếu
tập trung ở rơm rạ, chỉ khoảng 6% trên bông (Ngô Ngọc Hưng, 2009).
Kali tham gia quá trình tổng hợp protein, quá trình hình thành đường tinh bột,
cellulose. Kali giúp cho quá trình quang hợp tốt hơn đặc biệt là điều kiện thiếu ánh
sáng, nhiệt độ thấp thời tiết âm u. Kali thúc đẩy hình thành lignine, cellulose làm cho
cây cứng cáp hơn, chịu đựng trong điều kiện nước sâu, giảm đỗ ngã và chống chịu sâu
bệnh tốt hơn (Nguyễn Xuân Trường, 2004). Khi thiếu hụt K sức đề kháng của cây lúa
giảm, nếu thiếu K nghiêm trọng trong trường hợp dư thừa phân đạm thì sâu bệnh phá
hại nặng.
Biểu hiện của sự thiếu kali phần bìa lá có những đốm, đầu tiên màu vàng nâu,
kế đến màu vàng cháy, sau đó lan dần vào bên trong lá, xuất hiện ở lá già, không có ở
Phân Quý 2 (18-9-5+TL) thường được bón thúc lần 2 vào khoảng 20 ngày sau
sạ (kinh nghiệm Nông dân tại Vĩnh Thạnh Trung) với hàm lượng dinh dưỡng: Đạm N
18%, Lân P2O5 9%, Kali K2O 5%, Thành phần trung lượng: CaO, S…
Phân Quý 3 thường được bón thúc lần 3, 4 vào khoảng 30 NSS (kinh nghiệm
Nông dân tại Vĩnh Thạnh Trung) với hàm lượng dinh dưỡng như sau: Đạm Urê
37,5%, đạm SA 3,6%, kali KCl 26,7%, thành phần phụ gia 32,2% gồm các chất như:
Kaoline, đồng sunphat, borat…
1.4.6 Phân xỉ thép
Phân xỉ thép là loại phân mới, xuất xứ từ Nhật với tên “Medium and micro
nutrient fertilizer steel slag” gọi tắt là phân xỉ thép với thành phần dinh dưỡng gồm
các chất trung và vi lượng sau: SiO2 13,8%, CaO 44,3%, MgO 6,4%, S 0,07% và B
79ppm chúng được bón lót để cung cấp những dưỡng chất trung - vi lượng hết sức cần
thiết cho cây trồng:
* Silic (Si): Theo Nguyễn Ngọc Huấn từ nguồn Technical Bulletin 038 –
12/04/00, Plant Health Care Inc. Những nghiên cứu gần đây đã dẫn đến việc đánh giá
lại vai trò của silicon như một yếu tố dinh dưỡng cần thiết của thực vật. Silic hiện diện
với lượng rất quan trọng trong hầu hết các cây trồng. Mức độ này có thể so sánh với
magie, canxi và photpho. Các loại cỏ có thể chứa silic ở mức độ cao hơn bất kỳ
nguyên tố khoáng nào khác. Điều này dẫn đến tranh luận rằng có lẽ nên đưa silicon
vào danh sách các yếu tố dinh dưỡng đa lượng của cây trồng.
8
Các nghiên cứu truyền thống về dinh dưỡng thực vật thường được thực hiện
bằng kỹ thuật nuôi cấy trong dung dịch dinh dưỡng với các sai khác cần thiết so với
điều kiện thực tế. Chỉ trong những điều kiện nhân tạo các nhà khoa học mới có thể
kiểm soát chặt chẽ sự hiện diện hay vắng mặt của khoáng chất được nghiên cứu.
Silicon không bao gồm trong các thí nghiệm tiêu chuẩn, do thực vật có thể hoàn thành
chu kỳ sống của nó khi vắng mặt silicon.
và quá trình thụ phấn ở cây.
9
1.5 Các yếu tố cấu thành năng suất
Năng suất được hình thành và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 4 yếu tố, gọi là 4
thành phần năng suất lúa. Đó là số bông trên đơn vị diện tích, số hạt trên bông tỉ lệ hạt
chắc và trọng lượng 1000 hạt. Có thể tính năng suất lúa theo công thức sau:
Năng suất (tấn/ha) = số bông/m2 x số hạt chắc/bông x trọng lượng 100 hạt (g) x
10-5.
1.5.1 Số bông/m2
Số bông/m2 có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lúa, số bông/m2 tương quan
thận với lượng đạm cây được hấp thu vào lúc trổ bông, lượn đạm được cây hấp thu
nhiều thì số bông cũng tăng. Trong điều kiện mật đọ sạ cao làm tăng số bông/m2 ở
mức vừa phải, nếu mật độ sạ quá cao sẽ gây ra hiện tượng lốp đỗ, sâu bệnh dễ bộc phát
và số hạt trên bông sẽ giảm rỏ rệt (Yoshida,1981).
Số bông quyết định bởi mật độ sạ, số chồi hữu hiệu của cây lúa, các điều kiện
ngoại cảnh và kỹ thuật canh tác. Trong điều kiện thâm canh cần có mật độ sạ cấy hợp
lý tùy thuộc giống, đất đai phân bón, thời vụ,… thời gian quyết định số bông là thời kì
đẻ nhánh. Trong đó quan trọng nhất là thời kì đẻ nhánh hữu hiệu, kết thuc trước đẻ
nhánh và tối đa khoảng 10-20 ngày (Nguyễn Đình Giao, 1997).
1.5.2 Số hạt/bông
Số hạt/ bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, hoa phân hóa, hoa thoái hóa. Số
gié và hoa phân hóa được quyết định thời kì đầu của quá trình làm đòng trong vòng 7 12 ngày và số hoa phân hóa nhiều hay ít tùy thuộc vào sinh trưởn của cây lúa và điều
kiện ngoại cảnh (Yoshida, 1981).
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) cho rằng số hạt trên bông quyết định từ lúc
tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng là thời kì phân hóa hoa và
giảm nhiễm tích cực.
Theo Võ Tòng xuân (1984), muốn bông lúa hình thành nhiều hoa, vỏ trấu đạt
Trọng lượng 1000 hạt tăng mạnh nhất từ khi trổ đến thời kì chin sữa (Nguyễn
Đình Giao và ctv., 1997).
11
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 01/2013 đến tháng 04/2013
- Địa điểm: Ruộng lúa của nông hộ ông Huỳnh Văn Nhơn ở Xã Vĩnh Thạnh
Trung- Huyện Châu Phú - Tỉnh An Giang.
2.2 Vật liệu và phương tiện nghiên cứu
Lúa giống OM 6976
Phân bón: Urea (46%N), DAP (18-46-0), Kali (KCl 60%K2O), phân xỉ thép
(SiO2:13,8%; CaO: 44,3%; MgO: 6,4%; S: 0,07%; B: 79 ppm)
Các loại thuốc bảo vệ thực vật
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, có 5 nghiệm
thức bố trí 4 lần lặp lại, diện tích mỗi ô là 50m2 (Hình 2.1).
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Nghiệm thức 1: Bón phân theo công thức bón của nông dân Huỳnh Văn Nhơn,
Xã Vĩnh Thạnh Trung, Huyện Châu Phú, Tỉnh An Giang.
Công thức khuyến cáo: bón cho nghiệm thức 2, 3, 4 và 5.
Dựa vào tài liệu hướng dẫn “Kỹ thuật chăm sóc cho lúa OM 6976” của Sở
Nông nghiệp An Giang (dựa vào Khuyến cáo của Cục Trồng trọt).
140 Qúy 3
8~10
16~20
38~42
50 Urea + 45 DAP + 25 KCl
50 Urea + 40 DAP
40 Urea + 25 KCl
DAP(18% N + 46% P2O5); Urea (46% N); KCl (60% K2O); Quý 2: N 18%, P2O5 9%, K2O 5%, and
CaO, S…); Quý 3: 37.5% Urea, 3.6% SA, KCl 26.7%, và 32.2% (Kaoline, CuSO 4, Borate…).
Bảng 2.2: Lượng dinh dưỡng sử dụng cho 5 nghiệm thức (kg/ha)
Nghiệm thức
Mã
nghiệm
thức
Liều lượng (kg/ha)
N
P2O K2O
Xỉ thép
CaCO3
5
40
30
8400
Khuyến cáo
4
80
40
30
Khuyến cáo + CaCO3
5
80
40
30
500
2.3.2 Kỹ thuật canh tác
+ Năng suất lý thuyết: được xác định từ những thành phần cấu thành năng suất
theo công thức sau:
NSLT (tấn/ha) = số bông/m2 x trọng lượng 1000 hạt (g) x số hạt chắc/bông x tỷ
lệ hạt chắc x10-5.
+ Năng suất thực tế: thu hoạch 1m2 ở giữa mỗi lô, phơi khô tách hạt lép, cân
trọng lượng, đo độ ẩm và tính năng suất (tấn/ha).
2.3.4 Phương pháp xử lí số liệu
Tất các các số liệu được thu thập và tính toán trung bình và sai số chuẩn bằng
phần mềm Excel. Sử dụng phần mềm Statgraphics, phân tích phương sai một nhân tố
(one-way ANOVA) so sánh giá trị trung bình giữa 5 nghiệm thức bằng phép thử
Tukey test mức ý nghĩa 5%.
14
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Ghi nhận tổng quan
Thời tiết trong vụ Đông Xuân có nhiệt độ, số giờ nắng/tháng khá thích hợp với
đặc điểm sinh thái của cây lúa nên lúa thí nghiệm sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy
nhiên ở giai đoạn 20 - 38 ngày thì lúa ở nghiệm thức bón theo kinh nghiệm nông dân
(NT1) phát triển xanh tốt hơn, còn các nghiệm thức còn lại lúa hơi bị vàng và thấp
hơn. Giai đoạn 40-60 ngày sau khi gieo (NSKG) cây lúa bước vào giai đoạn sinh sản
cho nên chiều cao cây tăng lên rõ rệt (do sự vươn dài của các lóng trên cùng), giai
đoạn 60 ngày cho đến giai đoạn thu hoạch tốc độ tăng trưởng bắt đầu chậm lại và tăng
không đáng kể. Nhìn chung, có sự chênh lệch về độ cao cây lúa giữa nghiệm thức 1 và
các nghiệm thức còn lại trong giai đoạn sinh trưởng.
Ngoài ra, trong vụ Đông Xuân có lượng mưa và độ ẩm thấp nên tình hình sâu,
bệnh phát sinh không đáng kể. Giai đoạn 30 - 45 ngày có xuất hiện bệnh như lúa von,
cháy bìa lá, đạo ôn với mức độ rất thấp. Đến giai đoạn làm đòng đến thu hoạch thì thấy
72
70
68
66
a
b
b
T1
T2
T3
b
b
T4
T5
Nghiệm thức
Hình 3.1: Chiều cao cây lúa lúc thu hoạch giữa 5 nghiệm thức phân bón (trung bình,
n=40)
Ghi chú: a,b biểu diễn sự khác nhau giữa các nghiệm thức bón phân (Tukey test, p
3,3 ± 0,1
1,0 ± 0,0
1.77ns
p>0,05, ( trung bình SE, n=40)
Số chồi hữu hiệu là chồi cho bông, chỉ chiếm tỷ lệ 20 - 40%, còn lại là chồi vô
hiệu (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Để tăng cường việc đẻ nhánh, cần chú ý bón phân đúng
cách, đúng lúc nhằm giúp lúa tăng số nhánh hữu hiệu. Theo Nguyễn Như Hà (2006),
cho rằng giai đoạn sinh trưởng cây lúa rất cần nhiều dinh dưỡng để cung cấp cho quá
trình đẻ nhánh. Kết quả cho thấy, không có sự khác nhau về số chồi và số chồi hữu
hiệu (p>0,05) giữa các nghiệm thức bón phân khác nhau (Bảng 3.1). Nói khác đi, việc
sử dụng phân xỉ thép không mang lại hiệu quả tích cực cho sự nảy chồi lúa OM 6976
trên nền đất Châu Phú, An Giang.
16
3.2.3 Chiều dài bông
Chiều dài bông lúa là một nhân tố ảnh hưởng đến năng suất của giống lúa. Chiều
dài bông không chỉ tùy thuộc vào đặc tính của từng giống mà còn ảnh hưởng bởi kỹ
thuật canh tác và điều kiện ngoại cảnh và sẽ quyết định số hạt/bông.
Chiều dài bông (cm)
18.5
a
18
Chiều dài bông ở nghiệm thức 1 cao hơn nghiệm thức 2, 3 và 4 (p
18