NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA CÁ BỖNG Ở SÔNG, SUỐI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM PHỤC VỤ BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRIỆU ANH TUẤN

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA CÁ BỖNG
Ở SÔNG, SUỐI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
VIỆT NAM PHỤC VỤ BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC

Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 60420121

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
TS. Thái Thanh Bình
PGS.TS. Nguyễn Xuân Viết

HÀ NỘI - 2015
1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Kết quả được trình bày trong luận là hoàn toàn trung thực, chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào. Những kết quả có được trong luận
văn là do sự cố gắng làm việc, nghiên cứu và học hỏi một cách nghiêm túc
của bản thân.
Những trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của tác giả khác, tài
liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng qui định,
tiện cho việc đối chiếu.


4


DANH MỤC CÁC BẢNG

5


DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐDDT
ĐDSH
HST
CTV
ADN
PCR
UV
PCR
TBE
RFLP
RAPD

6

Đa dạng di truyền
Đa dạng sinh học
Hệ sinh thái
Cộng tác viên
Acid desoxyribonucleic

hiếm này là rất cấp thiết [49].
Mặc dù cá Bỗng đã được đưa vào nuôi phổ biến ở các tỉnh miền núi nhưng
phân loại về loài cá Bỗng hiện còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Một số nhà khoa học
cho rằng ở Việt Nam có 4 loài trong giống cá Bỗng (Spinibarbus): Cá Bỗng
(Spinibarbus denticulatus), cá Thần (Spinibarbus sinensis), cá Bỗng hồng
(Spinibarbus sp.) và cá Bỗng thon (Spinibarbus nammauensis Hảo & Hiệp nov.sp).
7


Các nghiên cứu phân loại cá Bỗng ở Việt Nam chủ yếu dựa vào đặc
điểm hình thái bên ngoài. Tuy nhiên hình thái ngoài của các loài động vật nói
chung và cá nói riêng dễ thay đổi do điều kiện môi trường sống. Sự đa dạng
của môi trường sống có thể tạo nên sự nhiều dạng hình thái khác nhau, điều
này có thể dẫn đến những nhầm lẫn trong phân loại loài và số lượng loài cá
Bỗng. Ngày nay các kỹ thuật phân tử được sử dụng rộng rãi trong phân tích
mối quan hệ hệ thống giữa các nhóm động vật, định danh hoặc định phân loại
các loài [44]. Kỹ thuật giải trình tự ADN cho ta những thông tin chính xác về
trình tự các nucleotide trong phân tử ADN và các mối quan hệ huyết thống
[52]. DNA ty thể (mtDNA) thường được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu
phân loại và phát sinh hệ thống bởi các ADN ty thể có sự di truyền theo dòng
mẹ, không bị trộn lẫn qua các thế hệ và tiến hóa nhanh (10 lần) hơn so với
ADN ở trong nhân [52] [58] [59] [64].
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu đa dạng di truyền của cá Bỗng ở sông, suối một số tỉnh miền núi phía
Bắc Việt Nam phục vụ cho bảo tồn và khai thác”. Kết quả của đề tài sẽ là
cơ sở để bảo tồn và phát triển loài cá quí bản địa này.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
2.1. Mục tiêu chung.
Góp phần làm sáng tỏ vấn đề định loại loài và bước đầu đánh giá đa
dạng di truyền cá Bỗng ở sông, suối các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

che lấp môi trên. Miệng ở cuối hoặc kề dưới, hình móng ngựa. Môi trên phía
trong có viền liên tục ít hoặc không có, gờ ngoài tù hoặc trơn nhẵn. Môi trên và
môi dưới liền nhau ở góc miệng. Có hai đôi râu to và dài. Râu hàm dài bằng
1,6-1,8 đường kính mắt. Rãnh sau môi dưới nông. Mắt vừa phải, gần mút mõm
hơn viền sau nắp mang, khoảng cách trước ổ mắt nhỏ hơn khoảng cách sau ổ
mắt. Khoảng cách hai mắt rộng, đỉnh đầu hơi lồi [16] [20].
Vây lưng của cá có khởi điểm ở trước hoặc sau khởi điểm vây bụng, có
3 – 4 tia đơn và 8 – 9 tia phân nhánh. Tia đơn cuối vây lưng là tia phân mảnh,
cứng không hoàn toàn hoặc gai cứng hoàn toàn, phía sau trơn láng hoặc có gai
răng cưa. Viền sau vây lưng lõm. Trước vây lưng có 1 gai mọc ngược hướng
về phía đầu và ẩn dưới da. Vây hậu môn có 3 tia đơn và 5 tia phân nhánh.
Vây ngực không chạm vây bụng. Vây bụng chưa chạm đến vây hậu môn. Vây
đuôi phân thùy sâu, mút nhọn và tương đương nhau. Màng mang liền với eo
mang. Lược mang cứng, nhọn. Răng hầu 3 hàng 2.3.5 – 5.3.2 hình dẹp bên và
đỉnh hơi cong. Vẩy tròn lớn, sắp xếp đều. Đường bên hoàn toàn, hơi cong về
phía dưới và chạy giữa cán đuôi. Hậu môn sát gốc vây hậu môn [20].
Gốc vây bụng có vảy nách, dài bằng 2/5 chiều dài vây bụng. Lưng cá
màu xám, nhạt dần về phía bụng, bụng hơi vàng. Các vây màu xám, hai má
hơi hồng.
1.1.2. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Bỗng là loài cá ăn tạp, thức ăn chủ yếu là các loại thực vật bậc cao
điển hình. Lúc còn nhỏ cá ăn động vật phù du, mùn bã hữu cơ, khi đạt kích cỡ
10


trên 6cm chúng mới có thể ăn thực vật thuỷ sinh. Cá càng lớn thể hiện càng rõ
tính ăn thực vật; cá ăn thực vật, lá cây, quả. Theo nghiên cứu của Đoàn Văn
Đẩu và Lê Thị Lệ [17] cá Bỗng ăn khoảng 25 loại cây khác nhau như: rau
muống, bắp cải, dâu tằm, bèo.... Ngoài ra cá còn thích ăn các loại thức ăn
công nghiệp như thức ăn viên, cám hỗn hợp trong điều kiện nuôi.

trưởng chiều dài trung bình 4,3-5,4 cm/năm. Theo Phạm Báu [11] cá Bỗng
sống trong điều kiện tự nhiên (sông Gâm) và cá nuôi trong lồng bè, ao trên cơ
sở cùng tuổi có sự tăng trưởng về chiều dài khác nhau rõ rệt. Sự sai khác trên
11


chủ yếu do điều kiện thức ăn chi phối. Trong điều kiện nuôi trong ao tại Viện
nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ Sản 1, cá 1 tuổi đạt chiều dài 16,9cm và khối
lượng 69,1g. Khi cá nuôi được 18 tháng tuổi, chiều dài đạt 26,0cm và khối
lượng đạt 261g. Kết quả về tăng trưởng của cá nuôi tại Viện nghiên cứu nuôi
trồng Thuỷ Sản 1 tương đương ở cá 3 năm tuổi thu ngoài tự nhiên. Chế độ
chăm sóc và nguồn thức ăn bổ sung đối với cá Bỗng là rất quan trọng cho sự
tăng trưởng của cá Bổng.
Các bãi đẻ trong vực nước cạn ở vùng trung lưu sông Hồng, từ Yên Bái
tới Lào Cai, như các bãi: Hợp Thành, Tân An, Phan Thanh, An Dương, Đông
Thái... Ở sông Nậm Thi cá Bỗng đẻ ở Bản Quần, ở sông Lô chúng đẻ rải rác
từ phía trên Vĩnh Tuy đến biên giới Việt – Trung [17]. Vụ đẻ thứ 2 cá thường
vào các ngòi lớn như: Ngòi Bo (Sông Hồng), ngòi Mã (sông Lô) để đẻ. Bãi đẻ
của cá Bỗng có địa hình đặc biệt, đáy có cát sỏi lớn, nước chảy mạnh (Lưu
tốc nước khoảng 0,22-0,54m/s), nước có độ trong cao, chảy xiết – giàu ôxy
hoà tan, pH hơi kiềm. Sau bãi đẻ là vực sâu cho cá trú ẩn và kiếm thức ăn.
Tuy nhiên hiện nay do nguồn lợi bị suy giảm nghiêm trọng nên hầu hết các
sông suối thuộc hệ thống sông Hồng không còn gặp cá Bỗng nữa, các bãi đẻ
trước đây công bố cũng không còn nữa. Hiện nơi còn cá Bỗng đẻ nhiều hơn
cả là đoạn sông Gâm từ Na Hang đến Bắc Mê, nhưng do bị đánh bắt nên cá
đẻ không còn tập trung như trước đây.
Đoàn Văn Đẩu và Lê Thị Lệ [17], khi nghiên cứu cá Bỗng đánh bắt từ
tự nhiên đã phát hiện tuổi thành thục của cá Bỗng khá muộn, dao động từ 5 –
6 tuổi trở lên. Mùa vụ sinh sản của cá chia làm hai đợt từ tháng 2 đến tháng 6
và tháng 7 đến tháng 8. Cá Bỗng thường có lượng noãn hoàng từ 18 – 520g.

trước hết nhằm mục đích bảo tồn loài cá Bỗng tránh nguy cơ tuyệt chủng
đồng thời cung cấp nguồn gen cá Bỗng vào ngân hàng gen thế giới.

13


Từ đó đưa loài này vào phát triển, nhân giống nuôi đại trà cung cấp
nguồn thực phẩm nhằm mục tiêu phát triển kinh tế địa phương.
1.1.4.2. Giá trị kinh tế
Cá Bỗng là loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao, chiếm sản lượng lớn
trong sản lượng cá đánh bắt được ở trên hệ thống sông Hồng vào những thập
kỷ 60 – 70 của thế kỷ trước [16] [20], đây là nguồn cung cấp thực phẩm có
giá trị. Thịt cá Bỗng chắc, có tính lành và không có mùi tanh, thơm ngon có
giá trị.giá trị dinh dưỡng cao. Giá cá bỗng trên thị trường hiện nay dao động
từ 250.000 – 300.000 đồng/kg. Cá Bỗng mang lại giá trị kinh tế, do vậy việc
phát triển nghề nuôi cá Bỗng thương phẩm có giá thành cao góp phần nâng
cao đời sống đồng bào miền núi đặc biệt là người dân tộc thiểu số.
1.1.4.3. Giá trị tâm linh.
Cá Bỗng hay còn gọi là cá Thần ở huyện Cẩm Thủy – Thanh Hóa không
chỉ có giá trị về khoa học mà nó còn có giá trị về mặt tâm linh. Người dân Cẩm
Thủy tin rằng duy trì loài cá này sẽ mang lại sự may mắn, phồn thịnh cho dân
bản. Do yếu tố tâm linh tác động nên người ta không ăn loại cá này. Điều đó
khiến cho đàn cá được bảo vệ và ngày càng nhiều lên, do vậy mà suối cá Cẩm
Lương đến giờ đã phát triển thành 2 suối cá song song. Do những quan niệm của
người dân ở Cẩm Thủy mà cá Bỗng ở đây mang ý nghĩa tâm linh đặc biệt góp
phần vào việc bảo vệ đang dạng sinh học loài cá này.
1.1.5. Nghiên cứu cá Bỗng trên thế giới và Việt Nam
Cá Bỗng phân bố tự nhiên ở châu Á, bao gồm: miền Bắc Việt Nam,
Lào, Vân Nam và Hải Nam Trung Quốc. Cá Bỗng được nuôi từ lâu ở các
nước như Trung Quốc, Lào và Việt Nam nhưng những công trình nghiên cứu

vực Tây Bắc Nghệ An [27]; V.Kottelat công bố 10 loài trong phân họ [50], khu
vực Bắc Trung Bộ đã điều tra được 10 giống. Tuy nhiên cho đến nay chưa có
công trình nghiên cứu đầy đủ về phân loại và đánh giá đa dạng di truyền cá
15


Bỗng phục vụ cho bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen. Các nghiên cứu
chỉ mới tập trung điều tra nguồn lợi tự nhiên, một số đặc điểm sinh học và
thăm dò sinh sản.
1.2. Đa dạng sinh học và tầm quan trọng của đa dạng quần thể
Việc nghiên cứu đa dạng sinh học cũng như việc bảo vệ đa dạng sinh học
và những vấn đề quan trọng, cấp thiết được rất nhiều nhà khoa học quan tâm.
Theo Odum tỷ lệ giữa số lượng loài và các chỉ số phong phú (số lượng,
sinh khối, năng suất...) gọi là chỉ số đa dạng về loài [49].
Theo Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế đã định nghĩa: “ĐDSH là sự phồn
thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh
vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng phức tạp
cùng tồn tại trong môi trường’’. ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn
gen, đa dạng loài và đa dạng HST. Trong đó, đa dạng loài bao gồm toàn bộ
các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật
và các loài nấm. Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen
giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong một
quần thể. ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó
các loài sinh sống, và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau
[5].
Theo luật ĐDSH năm 2008, ĐDSH là sự phong phú về nguồn gen, các
loài sinh vật và HST trong tự nhiên [7].
Theo Công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật
sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt,
và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận. ĐDSH bao gồm sự đa dạng

và cao. Đây là nơi có địa hình cao nhất, bị chia cắt nhất và hiểm trở nhất Việt
Nam. Các dạng địa hình phổ biến ở đây là các dãy núi cao, các thung lũng sâu
hay hẻm vực, các cao nguyên đá vôi có độ cao trung bình. Dãy núi cao và đồ
17


sộ nhất là dãy Hoàng Liên Sơn với nhiều đỉnh cao trên 2500m, đỉnh núi cao
nhất là Fansipan (3143m).
Vùng đồi núi Đông Bắc gồm chủ yếu là núi trung bb nh và núi thấp. Khối
núi thượng nguồn sông Chảy có nhiều đỉnh cao trên dưới 2000m là khu vực
cao nhất của vùng. Từ khối núi này ra tới biển là các dãy núi hình cánh cung
thấp dần về phía biển. Có bốn cánh cung lớn là cánh cung sông Gâm, cánh
cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều [69] [70].
1.3.2. Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của gió mùa. Chế độ gió mùa có sự
tương phản rõ rệt: Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam nóng khô,
mưa nhiều, Về mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh, khô, ít
mưa. Nhiệt độ trung bình trong năm nằm trong khoảng từ 22 0C – 250C. Sự
phân hóa khí hậu theo địa hình ở các tỉnh miền núi phía bắc có sự phân hóa
rất rõ theo địa hình: Vùng đồng bằng, trung du , đồi núi thấp và đồi núi cao.
Lượng mưa: Miền núi phía Bắc có thể chia thành 2 mùa: Mùa hè nóng
ẩm mưa nhiều và mùa đông lạnh và khô hạn. Lượng mưa cũng thay đổi theo
độ cao của địa hình đồi núi
Hướng gió: Mang tính chất chung khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùng Tây
Bắc có chế độ gió thay đổi theo mùa rõ rệt, chịu ảnh hưởng nhiều của hướng
núi dãy Trường Sơn: gió mùa đông và gió mùa hè. Vùng Đông Bắc chịu ảnh
hưởng của các dãy núi hướng Đông Bắc nên chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc.
Sự hoạt động của gió mùa đã tác động đến khí hậu. Gió mùa đông bắc
làm cho nhiệt độ hạ thấp ở vùng núi cao kèm theo hiện tượng sương muối,

mong muốn. Mặt khác dùng chỉ thị phân tử có thể làm tăng hiệu quả và độ
chính xác trong việc chọn lọc các tính trạng mong muốn, loại trừ được sự
tương tác giữa các alen của một locus hoặc giữa các locus khác nhau lên sử
biểu hiện tính trạng.
19


Chỉ thị phân tử còn dùng để đánh giá đa dạng di truyền các quẩn thể
sinh vật, đánh giá mức độ quan hệ giữa các cá thể. Từ đó có những biện pháp
cần thiết để bảo vệ đa dạng sinh học các quần thể sinh vật …
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng trong
nghiên cứu bộ gen thì người ta đã dùng chỉ thị phân tử để thiết lập chi tiết các
bản đồ gen về các chỉ thị phân tử liên kết với các gen quy định tính trạng quan
trọng trong nghiên cứu thực vật, động vật và thủy sản. Trên cơ sở đó các nhà
sinh học đã chọn lọc được các giống tốt gián tiếp dựa vào các chỉ thị phân tử
liên kết được các gen quy định tính trạng mong muốn, đánh giá được độ đa
dạng sinh học các quần thể sinh vật.
1.4.2. Ứng dụng của chỉ thị phân tử trong nghiên cứu thủy sản ở Việt Nam
Những nghiên cứu ứng dụng chỉ thị phân tử tạo vật liệu khởi đầu trong
chọn giống ở Tôm sú, cá Tra tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, II và
Viện Công nghệ sinh học... đã cho thấy những tiềm năng to lớn của việc ứng
dụng công nghệ di truyền phân tử trong nuôi trồng thủy sản.
Phạm Anh Tuấn và Nguyễn Hữu Ninh (2003), sử dụng chỉ thị
Microsatellite nghiên cứu biến dị về màu sắc thịt trắng và thịt vàng của cá Tra
đã công bố sự sai khác về tần số alen và xuất hiện alen đặc trưng (alen F) ở
locus Phy03 giữa hai loại cá có màu sắc thịt khác nhau, khoảng cách di truyền
của hai loại cá thịt trắng và cá thịt vàng là khá lớn 0,145 [35].
Đào Thị Tuyết và ctv (2003) sử dụng chỉ thị RAPD để đánh giá đa hình
di truyền 4 quần thể Cá Tra nuôi (Pangasius hypophthamus) ở Việt Nam
được ký hiệu R (Trại bà Rô), D (Trại ông Dương), T (Trại ông Tường) và TN

Sử dụng chỉ thị Microsatellite để đánh giá đa hình 3 quần thể Tôm Sú
nuôi ở Việt Nam, quần thể I có nguồn gốc ở Miền Bắc, quần thể II có nguồn
gốc ở Miền Trung và quần thể III có nguồn gốc nhập ngoại từ Singapore,
Nguyễn Thị Thảo đã báo cáo đa hình của 6 locus CSCUPmo1, CSCUPmo2,
21


CSCUPmo3, CSCUPmo4, CSCUPmo5, CSCUPmo6. Tính đa hình trong mỗi
quần thể là rất cao với giá trị thông tin đa hình (PIC) lớn hơn 0,829, tính đa
hình giữa các quần thể lớn hơn 0,913. Khoảng cách di truyền giữa các quần
thể trong khoảng 0,4693 – 0,7268 [34].
Nguyễn Thành Tâm và Phạm Thanh Liêm sử dụng chỉ thị
Microsatellite và RAPD để đánh giá đa dạng di truyền của 2 quần thể Tôm
càng xanh Việt Nam và Trung Quốc cùng với 6 cặp mồi Microsatellite và 5
cặp mồi ngẫu nhiên RAPD. Kết quả chỉ có một vệt băng cho tất cả 6 mồi
Microsatellite giữa Tôm càng xanh Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên kết
quả phân tích bằng kỹ thuật RAPD lại cho thấy sự khác biệt di truyền giữa 2
quần thể Tôm với trung bình 14,9 alen ở Tôm càng xanh Trung Quốc và 12,9
alen ở Tôm càng xanh Việt Nam, đa dạng haplotype ở Tôm càng xanh Trung
Quốc là 0,84 – 0,88 và 0,86 – 0,88 ở Tôm càng xanh Việt Nam [35].
Trần Thị Thúy Hà và ctv sử dụng 5 chỉ thị Microsatellite để đánh giá đa
dạng di truyền với 2 phản ứng PCR đa mồi áp dụng trong 5 quần thể Tôm thẻ
chân trắng (Litopennaeus vannamei) nuôi ở Việt Nam. Số alen trên mỗi vị trí
Microsatellite dao động từ 6 – 8 alen và có alen xuất hiện với tần số thấp (nhỏ
hơn 0,1). Giá trị dị hợp tử quan sát (Ho, dao động từ 0,21 – 0,50) thấp hơn so với
dị hợp tử mong đợi (He, dao động từ 0,41 – 0,72). Giá trị tương đồng (Fis) trung
bình dao động khoảng 0,18 – 0,40 và cao ở 2 vị trí TUMXL v6.23 và Lvan 01
trên các quần thể đạt 0,446 – 0,496. Giá trị Fst đạt ở mức trung bình 0,054 –
0,185 và không thể hiện sự sai khác lớn về di truyền giữa các quần thể [19].
1.4.3. Giải trình tự ADN ở ty thể ứng dụng trong nghiên cứu đa dạng di truyền.

oxidase subunit 1 (CO1) của ADN ty thể có thể định danh được đến loài ở
hầu hết các ngành thuộc hệ thống phân loại động vật ngoại trừ ngành ruột
khoang Cnidaria. ADN ty thể là một công cụ đắc lực trong xác định các loài,

23


đánh giá mối quan hệ của các loài với nhau và cung cấp dữ liệu di truyền
trong công tác bảo tồn các loài đang bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng.
Tuy nhiên, việc sử dụng ADN ty thể cũng có một số giới hạn. Kích
thước của ADN ty thể nhỏ, nên chỉ thể hiện một phần vật chất di truyền. Tỷ lệ
đột biến ở ADN ty thể cao hơn ADN nhân, trong khi đó kích thước ADN ty
thể lại nhỏ, nên đột biến có thể dễ dàng xảy ra mà không phản ánh được mối
quan hệ phát sinh loài hay lịch sử tiến hóa. Hơn nữa, việc không tuân theo
quy luật di truyền của Mendel không phù hợp với nhiều nghiên cứu di truyền.
Người ta đề nghị nên sử dụng kết hợp các chỉ thị phân tử để có kết quả với độ
chính xác cao. Các marker ADN ty thể được sử dụng kết hợp với
marker ADN nhân trong một số trường hợp cho thấy mối quan hệ tiến hóa rõ
hơn. ADN ty thể được chứng minh là công cụ hữu hiệu trong xác định các
loài, đánh giá mối quan hệ của các loài với nhau và cung cấp dữ liệu di truyền
trong công tác bảo tồn các loài đang bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng [66].
1.4.4. Vùng gen 16S và COI.
Vùng gen 16S từ lâu được biết đến như là thước đo về sự biến đổi trong
hệ gen của các sinh vật. Ribosome ty thể 55S ở động vật gồm tiểu đơn vị lớn
16S và tiểu đơn vị nhỏ 12S. Vùng gen 16S và COI có chức năng cần thiết cho
sự sống đồng thời nó vừa có vùng bảo tồn, vừa có vùng biến động ở các cấp
độ khác nhau giúp cho gen 16S và COI luôn là sự lựa chọn trong việc xác
định loài, đánh giá mức độ đặc trưng cho loài. Bên cạnh đó, số lượng trình tự
16S và COI được nghiên cứu rất chi tiết và nhiều trình tự của các loài, giống
đã được giải mã, công bố trên ngân hàng gen. Sự tiến hóa và biến đổi của các

Cà Mau) với 5 mẫu cá rô đầu vuông đã báo cáo mức độ tương đồng di truyền
giữa chúng lên đến 99 – 100%, tương tự mức tương đồng độ các cá thể trong
cùng dòng. Trình tự vùng gen COI của 10 mẫu cá rô (kể cả mẫu cá rô đầu
vuông) trong nghiên cứu là tương đồng 97% với COI của cá rô Anabas
testudineus [38].

25


Trích đoạn Đánh giá đa dạng di truyền quần thể cá Bỗng Kết quả phân tích đa dạng di truyền trong các mẫu cá Bỗng nghiêu cứu 1 Đa dạng di truyền các vùng gen 16S và COI trong các quần thể cá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status