CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP
HỖ TRỢ Ở NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN; VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
CHO VIỆT NAM
Ths.Phí Hồng Minh
Trung tâm Nghiên cứu Bắc Á
1. Tổng quan khái niệm thầu phụ và công nghiệp hỗ trợ
Sau Chiến tranh Thế giới II, Nhật Bản thừa hưởng một nền kinh tế hậu chiến đình
trệ nhưng cả dân tộc Nhật bấy giờ lại đầy ham muốn mãnh liệt để có thể xây dựng được
những cơ chế tạo tiền đề cho những cú bứt phát mới trong nền kinh tế. Trước bối cảnh đó,
nước Nhật cũng chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà kinh tế Mác xít với mong muốn xây dựng
một cơ chế hài hòa cùng chia sẻ lợi ích giữa các công ty lớn nhiều tiềm lực tài chính và
các công ty vừa và nhỏ (SMEs) yếu về tài chính song lại thâm dụng nhiều nhân công
(Kimura, 2002). Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu của tăng trưởng nhanh đã có rất nhiều
nghiên cứu về mối quan hệ thầu phụ (subcontracting relationships) giữa các doanh nghiệp
lớn và SMEs nhằm tạo một hệ thống dọc bền vững hài hòa tạo tiền đề cho giai đoạn tăng
trưởng nhanh của Nhật Bản.
Mặc dù trên thực tế tồn tại nhiều định nghĩa về thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” song
theo định nghĩa của Sách trắng kinh tế của Nhật Bản năm 1985 thì khái niệm “công
nghiệp hỗ trợ” thường được hiểu như là việc các công ty/doanh nghiệp có quy mô vừa và
nhỏ tham gia sản xuất các linh kiện và phụ tùng cho các công ty lớn hơn khác trên thị
trường. Đến năm 1994, Hiệp hội các doanh nghiệp Hải ngoại của Nhật Bản (JOEA) mới
phát triển rộng hơn khái niệm công nghiệp hỗ trợ thành “các ngành công nghiệp cung cấp
những gì cần thiết như là các nguyên vật liệu, các linh kiện và phụ tùng cũng như hàng tư
liệu sản xuất phục vụ cho các ngành công nghiệp lắp ráp và nhà sản xuất lớn”. Vì vậy, có
thể thấy rằng, ngay từ giai đoạn đầu, phát triển công nghiệp hỗ trợ có nội hàm cùng với
phát triển quan hệ thầu phụ ở Nhật Bản.
Hoạt động “thầu phụ” đã được Nhật Bản phát triển từ cuối thập kỷ 1950 và vị thế
của các nhà thầu phụ thực sự được cải thiện trong thập kỷ 1960 và 1970. Nhận thấy
những thành công của mô hình “thầu phụ” Nhật Bản, Hàn Quốc đã nỗ lực áp dụng cơ chế
này từ cuối thập kỷ 1970-đầu 1980 với ba mục đích chính là : i- giảm bớt sự ảnh hưởng
lấn át của các doanh nghiệp lớn (chaebol) đang lún sâu vào việc mở rộng các ngành công
Hình 1: Phạm vi các ngành trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản
Nguồn: Hiệp hội doanh nghiệp Hải ngoại Nhật Bản, 1994
Hình 2: Hợp đồng thầu phụ trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản
2
Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp của Nhật Bản, 2009.
2. Cơ chế “Thầu phụ” điển hình của Nhật Bản
2.1. Một số đặc điểm của cơ chế “thầu phụ”
Hiện đang tồn tại hai nhóm quan điểm khác biệt chủ yếu liên quan đến mô hình
quản lý các nhà thầu phụ cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng, đó là nhóm
quan điểm giao kèo bằng hợp đồng và nhóm quan điểm giao kèo thông qua mối quan hệ
hiệp hội đối tác. Theo nhóm quan điểm giao kèo bằng hợp đồng, các nhà sản xuất sản
phẩm tiêu dùng cuối cùng thường đặt sự phụ thuộc tối thiểu của họ vào các nhà cung cấp
các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng với mục đích tối đa hóa sức mạnh mặc cả liên
quan đến mức giá cả cạnh tranh nhất trên thị trường và tránh đưa ra những cam kết ràng
buộc cứng nhắc trong cả trung hạn và dài hạn với các nhà cung cấp thầu phụ này. Còn đối
với Nhật Bản, hầu hết các nhà sản xuất đều có mối quan hệ hiệp hội đối tác với các nhà
cung cấp. Ví dụ, hãng ô tô Toyota ở Nhật Bản đã thiết lập được mối quan hệ hiệp hội với
các nhà cung cấp linh kiện và phụ tùng cho ngành công nghiệp sản xuất ô tô – chủ yếu là
các công ty vừa và nhỏ. Trên thực tế, do hãng Toyota đã chủ động phát triển mối quan hệ
lâu dài với các nhà cung cấp trong hiệp hội bằng việc bảo đảm hoàn toàn công việc kinh
doanh trong tương lai, nên đổi lại các nhà cung cấp linh kiện và phụ tùng này đã phải thực
hiện nhiều đầu tư đặc biệt nhằm cải thiện năng suất lao động của hãng Toyota (Asanuma,
1993).
3
linh kiện và phụ tùng. Và cuối cùng là các công ty nhỏ và rất nhỏ hoạt động ở tầng thứ 4
của mô hình tháp cơ cấu, chúng đa phần được sở hữu và quản lý ở cấp gia đình. Sự tương
tác đan chéo giữa các công ty lớn với các công ty vừa và nhỏ, thậm chí là rất nhỏ trong
mô hình tháp cơ cấu sẽ hình thành nên mô hình thầu phụ điển hình của Nhật Bản.
Ở Nhật Bản, một công ty lớn sản xuất ô tô thường có khoảng 20-35 nghìn nhà thầu
phụ, tuy nhiên nó chỉ trao đổi trực tiếp với khoảng 200 nhà thầu phụ chủ yếu, và mỗi nhà
thầu phụ này lại có mối quan hệ nấc thang xuống với các nhà thầu phụ cấp 2 và cấp 3
khác nữa (Asanuma, 1993). Ví dụ, mặc dù công ty Toyota có mối quan hệ gián tiếp với
khoảng 30 nghìn công ty vừa và nhỏ nhưng nó lại chỉ có mối quan hệ giao dịch trực tiếp
với khoảng 200 công ty vừa và nhỏ (Cusumanu, 1985). Chính mô hình sản xuất hình tháp
có tầng cơ sở đáy rộng lớn đã tạo cho nó khả năng thu hút được một số lượng lớn các
4
công ty vừa, nhỏ và rất nhỏ tham gia vào hợp đồng thầu phụ với các công ty lớn hơn. Ở
Nhật Bản, mô hình thầu phụ có mối liên kết chặt chẽ với mô hình phân phối kích cỡ
doanh nghiệp có quy mô vừa, nhỏ và rất nhỏ. Trên thực tế, hợp đồng thầu phụ được theo
đuổi như là một kinh nghiệm chính sách không đổi trong một thời gian dài thông qua mối
quan hệ đối tác trong các hiệp hội.
Hình 3: Mô hình tháp cơ cấu của hợp đồng thầu phụ của Nhật Bản
Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp của Nhật Bản, 2009.
Hình 4: Hợp đồng thầu phụ trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản
5
Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp của Nhật Bản, 2009.
Tỷ lệ các công ty tham gia hợp đồng thầu phụ so với tổng số các công ty chế tạo quy
mô vừa và nhỏ của Nhật Bản đã tăng nhanh từ 53,3% năm 1966 lên tới 65,5% năm 1981
đã chủ động và tích cực ban hành nhiều luật kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển của các
công ty vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp nói chung cũng như khuyến khích sự phát
triển của các công ty vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng thông qua
những công cụ chính sách về ưu đãi tài chính, giảm thuế, hỗ trợ kỹ thuật cao và kinh
nghiệm quản lý kinh doanh hiện đại.
“Luật hỗ trợ tài chính cho việc thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ” đã được
ban hành năm 1956 nhằm hỗ trợ sự cải tiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ về nâng cao
năng suất lao động bằng việc áp dụng các trang thiết bị hiện đại thông qua những khoản
vay ưu đãi từ các quỹ hỗ trợ tài chính của chính quyền địa phương. Trong đó, nhiều công
ty vừa và nhỏ tham gia hoạt động thầu phụ cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ
tùng cho các doanh nghiệp lớn cũng được hưởng những ưu đãi về hỗ trợ tài chính thúc
đẩy hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, “Luật Hỗ trợ tài chính và hỗ trợ khác cho việc hiện
đại hóa kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ” cũng tiếp tục được ban hành vào năm 1963
nhằm mục đích thúc đẩy nâng cấp cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và hiện đại hóa các trang
thiết bị của họ. Theo đó, đạo luật này đã tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy nâng cấp cơ cấu
công nghiệp như (doanh nghiệp liên doanh, nhóm các nhà máy hoặc cửa hàng) khi những
hoạt động kinh doanh này được thực hiện dưới dạng hợp tác xã. Trên thực tế, một khoản
vay phục vụ chi phí nâng cấp cho các doanh nghiệp nhỏ cũng đã nhận được sự hỗ trợ tài
chính từ phía chính phủ.
Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản còn chủ động ban hành “Luật Phòng chống trì
hoãn trong thanh toán các chi phí thầu phụ và các vấn đề liên quan”. Trên thực tế, Đạo
luật này được ban hành vào năm 1956 và nhắm vào việc tạo ra môi trường thương mại
công bằng hướng tới mục tiêu bảo vệ các nhà thầu phụ trên thị trường nội địa bằng cách
ngăn ngừa sự chậm chễ trong thanh toán các khoản phí thầu phụ từ các công ty lớn hoặc
các nhà lắp ráp lớn hơn dành cho các công ty vừa và nhỏ tham gia hợp đồng thầu phụ, đặc
biệt là các công ty vừa và nhỏ của Nhật Bản hoạt động thầu phụ trong lĩnh vực của ngành
công nghiệp hỗ trợ để cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng. Kể từ khi đạo
luật này được ban hành, việc lạm dụng sức mạnh và vị thế vượt trội của các doanh nghiệp
sản xuất lớn nhằm trì hoãn hoặc thanh toán chậm các khoản phí hợp đồng cho các nhà
thầu phụ đã giảm đi đáng kể.
hóa những nhà thầu phụ này. Theo nội dung của Đạo luật này thì công ty mẹ (được xem
như nhà thầu chính) và các công ty thầu phụ (shitauke) hoặc các nhà máy sản xuất hợp tác
(kyoryoku kojo/gaisha) được xác định chủ yếu dựa vào quy mô của các công ty, trong đó
một nhà thầu phụ theo quy định của Nhật Bản thường có quy mô về vốn và số lượng nhân
viên thấp hơn so với quy mô tương ứng của công ty mẹ trong cùng thời điểm. Luật này
cũng quy định ra các biện pháp cần thiết nhằm thúc đẩy việc hiện đại hóa các công ty có
quy mô vừa và nhỏ sao cho chúng hoạt động có hiệu quả hơn, đồng thời giới thiệu các cơ
hội kinh doanh hợp đồng thầu phụ thông qua đại diện của Hiệp hội để thúc đẩy các công
ty quy mô nhỏ tham gia tích cực hơn vào các hoạt động hợp đồng thầu phụ cho các công
ty lớn trong thị trường nội địa của Nhật Bản. Luật xúc tiến hợp đồng thầu phụ với các
công ty vừa và nhỏ của Nhật Bản đã định nghĩa một quan hệ hợp đồng thầu phụ như là
một quan hệ mà ở đó “một công ty lớn hơn sẽ cho một công ty vừa và nhỏ hơn thầu về
sản xuất, sửa chữa, tạo ra phân phối thông tin, hoặc cung cấp các dịch vụ trong một thời
gian dài. Trong thống kê, một nhà thầu phụ thành viên (shita-uke) thường được định
nghĩa như là một đơn vị kinh doanh có doanh số bán lớn hơn 50% sản lượng của nó cho
một nhà sản xuất lớn hơn. Còn trong ngành công nghiệp ô tô trên thị trường nội địa của
Nhật Bản, mối quan hệ thầu phụ được xem như là một quan hệ mà ở đó một nhà sản xuất
linh kiện hoặc phụ tùng bán hơn 60% sản lượng của nó tới một khách hàng lớn hơn, hoặc
8
ở đó một nhà lắp ráp lớn hơn thu mua hơn 50% sản lượng của một linh kiện hoặc một phụ
tùng nhất định từ một nhà thầu phụ cung cấp trong một thời gian nhất định.
“Luật bảo vệ các cơ hội kinh doanh cho các công ty vừa và nhỏ bằng cách điều
chỉnh các hoạt động kinh doanh của các công ty lớn” (Đạo luật số 74 ban hành trong năm
1977). Luật này nhằm điều chỉnh sự khởi đầu và mở rộng quy mô các hoạt động kinh
doanh của các công ty lớn mà chúng có thể gây ra những ảnh hưởng cực kỳ tiêu cực lên
sự ổn định hoạt động kinh doanh của các công ty vừa và nhỏ phù hợp với những yêu cầu
từ các Hiệp hội công ty vừa và nhỏ có liên quan. Trong khi đặt nhiều chú ý tới việc bảo vệ
hành năm 1998), “Luật hỗ trợ đổi mới kinh doanh của các công ty vừa và nhỏ” (Đạo luật
số 18 ban hành năm 1999).
3.2. Hàn Quốc
9
Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành “Luật Xúc tiến hệ thống thầu phụ cho các công ty
vừa và nhỏ” (SMEs Subcontracting Promotion Act) lần đầu tiên vào năm 1975, rồi sau đó
nó đã được sửa đổi lại vào năm 1978 cho phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế
Hàn Quốc. Đạo luật này đã chỉ định cụ thể các công ty có quy mô lớn của Hàn Quốc buộc
phải mua các sản phẩm thuộc danh mục các sản phẩm công nghiệp đã được chỉ định từ
trước nhằm thiết lập mối liên kết thầu phụ với các công ty có quy mô vừa và nhỏ trong
nền kinh tế. Ngoài ra, Đạo luật này cũng nghiêm khắc cấm các công ty lớn không được tự
ý sản xuất những sản phẩm nằm trong danh mục chỉ định được quy định bởi chính phủ
mà phải tiến hành hoạt động mua sắm từ các công ty có quy mô vừa và nhỏ. Trên thực tế,
danh mục các sản phẩm công nghiệp được chỉ định bởi chính phủ Hàn Quốc đã tăng rất
nhanh từ mức 41 sản phẩm trong năm 1979 lên tới mức xấp xỉ 1.553 sản phẩm trong năm
1984 và dần tăng lên 1.053 vào năm 1999 (APO, 2002).
Về cơ bản, nội dung của Đạo luật này nhằm những mục đích chủ yếu sau: (i) Yêu
cầu các công ty có quy mô lớn phải lập kế hoạch thầu phụ cụ thể với những công ty có
quy mô vừa và nhỏ trong nền kinh tế; (ii) Ngăn ngừa việc trì hoãn thanh toán các khoản
thầu phụ bởi các công ty lớn dành cho các công ty vừa và nhỏ ra ngoài giới hạn thời gian
của luật pháp; (iii) Chỉ định rõ những công ty lớn phụ thuộc vào mối quan hệ thầu phụ đối
với những sản phẩm nằm trong danh mục sản phẩm chỉ định trước đó; (iv) Thiết lập Hội
đồng xúc tiến hợp đồng thầu phụ bao bồm đại diện của các bên như của công ty vừa và
nhỏ, của các công ty lớn, và của Bộ Thương mại - Công nghiệp - và Năng lượng.
Trên thực tế, chính phủ Hàn Quốc đã cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính và tài
khóa tương đối lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia thầu phụ để hỗ trợ các hoạt
động và quy trình phát triển các sản phẩm của những nhà thầu phụ. Bên cạnh đó, các
chế tạo các linh kiện cũng như phụ kiện (Lemma, 2001).
3.3. Đài Loan
Cũng phát triển từ mô hình thầu phụ Nhật Bản nhưng dựa trên đặc điểm của nền
kinh tế Đài Loan có trọng tâm là SMEs, chính quyền Đài Loan đã có một Chương trình
thúc đẩy hệ thống nhà máy vệ tinh-hạt nhân (C-S) dưới sự quản lý của Cục Phát triển
Công nghiệp, Bộ Kinh tế Đài Loan vào năm 1984 với tên gọi là Trung tâm phát triển Hiệp
tương công ty (Corporate Synergy Development Center, CSD) (Su, 2000). Theo định
nghĩa đưa ra bởi CSD, thì hệ thống C-S là “một chương trình quản lý công nghiệp nhằm
củng cố cấu trúc công nghiệp mà SMEs chiếm ưu thế và giúp SMEs có sức cạnh tranh
quốc tế thông qua việc hình thành mạng lưới hợp tác, nhờ vào sự phát triển các gói hỗ trợ
toàn diện cung cấp từ chính phủ”.
Trong nền kinh tế Đài Loan, SMEs chiếm vị trí hết sức quan trọng, chúng chiếm
98% tổng các doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế, đóng góp 50-55% vào xuất khẩu
của Đài Loan và sử dụng 70-80% lực lượng lao động Đài Loan (Su, 2000). Trong khi đó,
SMEs Đài Loan hầu hết là các doanh nghiệp gia đình người Hoa (gồm người thân trong
gia đình, họ hàng, và bạn bè), nhưng lại tương đối yếu về quản lý, nghiên cứu và phát
triển (R&D), marketing, và năng lực tài chính do quy mô nhỏ của họ. Do đó, họ rất khó
có thể đạt được kích cỡ cần thiết để cạnh tranh toàn cầu. Vì thế, mục tiêu chính đặt ra cho
CSD là tổ chức và tích hợp các công ty/xí nghiệp nhỏ hơn tập trung vây quanh các công
ty hạt nhân chủ đạo thông qua những loại hình liên kết chủ yếu sau:
(i)
Liên kết dọc hạ nguồn: liên kết giữa công ty vệ tinh trung nguồn cung cấp
các linh kiện và phụ tùng với các công ty hạ nguồn lắp ráp sản xuất;
(ii)
Liên kết dọc hướng lên: liên kết giữa công ty trung tâm cung cấp nguyên vật
liệu với công ty vệ tinh sử dụng hạ nguồn hoặc trung nguồn;
(iii)
Liên kết ngang: liên kết giữa các công ty trung tâm là các thương nhân hoặc
nhà xuất khẩu với các hạt nhân là SMEs sản xuất nguyên vật liệu để bán.
Chương trình này liên quan đến hỗ trợ tài chính cho công ty hạt nhân và hỗ trợ nâng
độ công nghệ nhất định. Các nhà thầu phụ Đài Loan rất hiếm khi chỉ làm việc cho một
công ty mẹ lớn, mà thường là trong một mạng lưới cung cấp giữa các công ty lớn cũng
như nhỏ với nhau. Trong đó, CSD có vai trò cố vấn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp có
nhu cầu tìm kiếm các mối liên kết hợp tác hạ nguồn-trung nguồn-thượng nguồn, hay nhu
cầu nắm bắt và nâng cấp công nghệ nhằm duy trì khả năng cạnh tranh trong cả thị trường
trong nước và nước ngoài. Nhờ đó, các mạng lưới này đã giúp cho Đài Loan trở thành
một mắt xích quan trọng trong mạng sản xuất và chuỗi cung ứng ở phu vực Đông Á và
quốc tế. Ngoài ra, mạng lưới dày đặc các quan hệ thầu phụ trong mỗi ngành công nghiệp
cụ thể lại góp phần làm giảm chi phí tham gia cũng như rời khỏi thị trường. Do vậy, các
doanh nghiệp sẽ sử dụng nhiều nhà thầu phụ hơn trong thời kỳ tăng trưởng nhanh cũng
như dễ dàng cắt giảm thầu phụ trong thời kỳ suy thoái. Chính hệ thống này tạo cho SMEs
của Đài Loan có tính hiệu quả và linh hoạt hơn đặc biệt là từ các cú sốc từ thị trường bên
ngoài trong các cuộc khủng hoảng và suy thoái trên thế giới.
4. Thực trạng đóng góp của các ngành công nghiệp hỗ trợ đối với phát triển
kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan
4.1. Tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan
+ Đối với Nhật Bản: Từ dữ liệu của Ngân hàng trung ương Nhật Bản, kết quả tính
toán của tác giả cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm giai đoạn 1956-1991 là
6,6%/năm. Giai đoạn tự do hóa kinh tế 1956-1973 là thời kỳ tăng trưởng cao của Nhật
Bản với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,4%/năm (trong đó tăng 9,1%/năm giai đoạn 195612
1962 và khoảng 9,7%/năm giai đoạn 1963-1972). Tiếp đến là giai đoạn điều chỉnh kinh tế
1974-1991 có đặc điểm tăng trưởng kinh tế ổn định với mức tăng bình quân 3,7%/năm
(trong đó tăng 3,4% giai đoạn 1974-1980 và tăng 3,9%/năm giai đoạn 1981-1991). Sau
đó là giai đoạn tăng trưởng bong bóng 1992-2002 với tốc độ tăng trưởng đạt 0,9%/năm và
giai đoạn bình phục tăng trưởng 2003-2007 với tăng trưởng 2,1%/năm và giai đoạn hậu
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 với tốc độ tăng trưởng ghi nhận là -2,9%/năm.
+ Đối với Hàn Quốc: Dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia của Hàn Quốc cho thấy
rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân năm tính theo giá cố định năm 2001 trong
-6
1956
1958
1960
1962
1964
1966
1968
1970
1972
1974
1976
1978
1980
1982
1984
1986
1988
1990
1992
1994
1996
1998
2000
2002
2004
2006
2008
biến thì tổng xuất khẩu hàng trung gian và linh kiện của Nhật Bản vượt mức 265 tỷ USD
năm 2003, chiếm trên 55% tổng xuất khẩu của Nhật Bản.
Hình 7: Đóng góp của ngành công nghiệp hỗ trợ vào thương mại của
Nhật Bản
Nguồn: Tổng cục Thống kê Nhật Bản (SBJ), 2007.
Trong khi đó Bảng 1 chỉ ra rằng xuất khẩu linh phụ kiện trong ngành điện và điện tử
đã mang lại cho Nhật Bản trung bình 82,98 tỷ USD với khoản thặng dư 40,57 tỷ USD
hằng năm trong giai đoạn 1995-2012. Ngoài ra, Bảng 1 cũng thể hiện xuất khẩu linh kiện
và phụ tùng có công nghệ và kỹ năng cao chiếm tới 83,5% tổng kim ngạch xuất khẩu linh
kiện và phụ tùng trong ngành điện và điện tử. Điều đó cho thấy giá trị gia tăng cao và
công nghệ cao trong ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản đã mang lại giá trị lớn cho
nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này.
Bảng 1: Thương mại linh kiện và phụ tùng cho “hàng điện và điện tử” của
Nhật Bản
1995
2000
2005
2010
2012
Kim ngạch xuất khẩu "Linh kiện
86,84
và Phụ tùng" của Nhật Bản (tỷ
88,71
2,94
2,87
+ "Linh kiện và Phụ tùng" xuất
khẩu có công nghệ và kỹ năng "cao" 17,89
(%)
16,77
13,53
11,17
9,43
Tỷ lệ xuất khẩu "Linh kiện và Phụ
tùng" trong tổng Kim ngạch xuất 19,61
khẩu (%)
18,51
14,99
12,47
10,93
Kim ngạch nhập khẩu "Linh kiện
khẩu
2009
2010
2011
2012
Phụ tùng và Nguyên vật liệu
(A)
183,5
171,0
229,0
255,3
253,4
Toàn bộ ngành công nghiệp (B)
422,0
363,5
466,4
435,3
323,1
425,2
524,4
519,6
Tỷ trọng (A/B) (%)
34,2
37,1
35,6
32,1
31,3
18
Cán cân
thương
mại
Phụ tùng và Nguyên vật liệu
281,7
321,4
Nguồn: Hiệp hội Ngành Công nghiệp Máy móc Hàn Quốc, thống kê về phụ tùng và
nguyên vật liệu, 2013.
Bảng 2 biểu thị đóng góp quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất linh,
phụ kiện và nguyên vật liệu đối với thương mại của Hàn Quốc. Nó cho thấy xuất khẩu
phụ tùng và nguyên vật liệu của Hàn Quốc tăng trưởng đều đặn từ mức 183,5 tỷ USD
năm 2008 lên mức 253,4 tỷ USD năm 2012, chiếm tương ứng 43,5% và 46,3% tổng xuất
khẩu ngành công nghiệp. Cũng tương tự nhập khẩu phụ tùng và nguyên vật liệu cũng tăng
trưởng từ mức 148,8 tỷ USD năm 2008 lên 162,5 tỷ USD năm 2012, chiếm tương ứng
34,2% và 31,3% tổng nhập khẩu toàn bộ ngành công nghiệp. Đồng thời, các ngành này đã
mang lại cho Hàn Quốc thặng dư thương mại đáng kể cao thậm chí gấp đôi thặng dư của
toàn ngành công nghiệp của Hàn Quốc với mức 34,8 tỷ USD năm 2008 trong khi toàn
ngành công nghiệp thâm hụt 13,3 tỷ USD, còn năm 2012 thì công nghiệp hỗ trợ thặng dư
90,9 tỷ USD (hơn gấp ba lần thặng dư toàn ngành công nghiệp ở mức 28,3 tỷ USD). Nó
là chỉ dấu rằng, thặng dư hay lợi nhuận Hàn Quốc thu được từ ngành công nghiệp hỗ trợ
đã đóng góp đáng kể vào xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại, và đồng thời là tăng
trưởng kinh tế của quốc gia này.
Bảng 3: Thương mại linh kiện và phụ tùng cho “hàng điện và điện tử” của Hàn
Quốc
1995
2000
2005
2010
0,92
1,10
1,53
2,38
+ "Linh kiện và Phụ tùng" xuất
khẩu có công nghệ và kỹ năng "cao" 21,34
(%)
29,18
26,69
21,24
17,31
Tỷ lệ xuất khẩu "Linh kiện và Phụ 20,13
27,07
25,24
20,10
16,64
13,91
11,27
9,76
15,01
35,46
45,83
40,43
Thặng dư thương mại "Linh kiện
và Phụ tùng" của Hàn Quốc (tỷ
USD)
9,84
Nguồn: Hiệp hội Ngành Công nghiệp Máy móc Hàn Quốc, thống kê về phụ tùng và
nguyên vật liệu, 2013.
Ngoài ra, một đặc trưng riêng của Hàn Quốc là đóng góp của các ngành sản xuất
nguyên vật liệu đã tăng trưởng với tốc độ hết sức nhanh chóng so với ngành sản xuất phụ
tùng. Theo số liệu từ Hiệp hội Ngành công nghiệp Máy móc Hàn Quốc thì thặng dư từ
các ngành phụ tùng và linh kiện của Hàn Quốc đã tăng trưởng dần từ mức 22,7 tỷ USD
năm 2005 lên mức 77,9 tỷ USD năm 2010 và 90,0 tỷ USD năm 2012. Trong đó thặng dư
ngành sản xuất linh kiện và phụ tùng tăng nhanh chóng từ mức 5,6 tỷ USD năm 2005 lên
mức 21,8 tỷ USD năm 2012, còn thặng dư thương mại từ nguyên vật liệu tăng vọt từ 17,1
tỷ USD năm 2005 lên 69,1 tỷ USD năm 2012. Trong khi đó, xem xét riêng thương mại
linh kiện và phụ tùng trong ngành hàng điện và điện tử của Hàn Quốc (chiếm trung bình
nghiệp
Số
lượng
nhân viên
(10.000)
Sản lượng
(1.000
tỷ
Won)
Giá trị gia
tăng (1.000
tỷ Won)
2008
2009
2010
2011
Toàn bộ ngành chế tạo
61.785
(A)
58.459 57.996 62.376 63.047
Phụ tùng và Nguyên
129
vật liệu (B)
129
125
133
138
Tỷ trọng (B/A) (%)
52,6
51,0
50,7
51,3
Toàn bộ ngành chế tạo
949
(A)
1.123
1.122
(A)
368
375
435
480
Phụ tùng và Nguyên 204
234
233
284
301
51,4
21
vật liệu (B)
Tỷ trọng (B/A) (%)
62,0
Loan chiếm được vị trí xếp hạng hàng đầu thế giới đối với một số sản phẩm công nghiệp
do Đài Loan làm chủ công nghệ nguồn. Từ đó đưa Đài Loan trở thành một mắt xích quan
trọng trong cung ứng các sản phẩm trung gian về bán dẫn, linh phụ kiện trong các ngành
điện, điện tử đặc biệt trong cụm ngành công nghiệp thông tin và truyền thông (ICT). Ví
dụ, Đài Loan đã được Tổ chức Diễn đàn kinh tế Thế giới đánh giá là nhà sản xuất và cung
cấp chi tiết sản phẩm Mask ROM lớn nhất thế giới, chiếm tới 93,8% thị phần kim ngạch
của cả thế giới trong năm 2009. Bên cạnh đó, các công ty của Đài Loan cũng chiếm giữ vị
trí xếp hạng thứ 1 trên phạm vi toàn thế giới đối với một số sản phẩm công nghiệp khác
nữa trong năm 2009 có sử dụng các linh kiện và phụ tùng được sản xuất bởi ngành công
nghiệp hỗ trợ của Đài Loan (chi tiết cụ thể có thể xem trong bảng 5 dưới đây).
Bảng 5: Các sản phẩm được sản xuất ở Đài Loan có vị trí thứ 1 trên thế giới,
2009
Chi tiết sản phẩm
Giá trị sản xuất Thị phần Khối
(triệu US$)
thế giới % sản xuất
lượng Thị
phần
thế giới %
22
Chi tiết sản phẩm
Giá trị sản xuất Thị phần Khối
(triệu US$)
thế giới % sản xuất
67,2
--
--
9,66 tỷ chiếc
55
7.211
45,2
14,2 tỷ chiếc
45,2
152
34
215 nghìn
phương tiện
30,6
2.300
23
Nguồn: Tổng cục Ngân sách, Kế toán và Thống kê Đài Loan (DGBAS), 2012.
Trong khi đó, Bảng 6 cho thấy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đối
với các sản phẩm linh kiện và phụ tùng trong các ngành hàng điện và điện tử của Đài
Loan tăng trưởng đều đặn trong giai đoạn 1995-2012. Xuất khẩu linh kiện và phụ tùng
trong ngành điện và điện tử của Đài Loan đã tăng từ mức 23,29 tỷ USD năm 1995 đã tăng
đều đặn lên mức 55,3 tỷ USD năm 2005 và 93,84 tỷ USD năm 2012. Còn nhập khẩu linh
kiện và phụ tùng trong ngành điện và điện tử của Đài Loan lại tăng từ mức 18,19 tỷ USD
năm 1995 lên 38,11 tỷ USD năm 2005 và 45,33 tỷ USD năm 2012. Theo đó Đài Loan đã
thu được thặng dư thương mại từ ngành này là 5,1 tỷ USD năm 1995, lên 17,19 tỷ USD
năm 2005 và 48,51 tỷ USD năm 2012.
Bảng 6: Thương mại linh kiện và phụ tùng cho “hàng điện và điện tử” của
Đài Loan
1995
2000
2005
2010
2012
Kim ngạch xuất khẩu "Linh kiện
và Phụ tùng" của Đài Loan (tỷ 23,29
USD)
khẩu có công nghệ và kỹ năng "trung
bình" (%)
+ "Linh kiện và Phụ tùng" xuất
khẩu có công nghệ và kỹ năng "cao" 20,11
(%)
28,43
28,43
33,22
32,37
Tỷ lệ xuất khẩu "Linh kiện và Phụ
tùng" trong tổng Kim ngạch xuất 20,92
khẩu (%)
30,76
29,20
32,70
31,21
Kim ngạch nhập khẩu "Linh kiện
và Phụ tùng" của Đài Loan (tỷ
2,57
2,31
2,34
+ "Linh kiện và Phụ tùng" nhập
khẩu có công nghệ và kỹ năng "cao"
(%)
21,47
27,27
26,55
25,80
25,56
Tỷ lệ nhập khẩu "Linh kiện và Phụ
tùng" trong tổng Kim ngạch nhập
khẩu (%)
17,58
23,30
20,99
18,27