TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
---------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ VỀ TRANH
Đề tài:
CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÂN HỘI,
THỊ XÃ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
Giảng viên hướng dẫn:
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
Bộ môn : HÀNH CHÍNH
Sinh viên thực hiện:
DIỆP VĂN HIẾU NHỎ
MSSV: S120058
Lớp: Luật B2 Đồng Tháp K38
Cần Thơ, tháng 4 năm 2014
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………………
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT
ĐAI…………………………………………………………………………………..
1.1. Khái quát chung về hòa giải ……………………………………………..
1.1.1. Khái niệm về hòa giải cơ sở tranh chấp đất đai……………………..
1.1.2. Các nguyên tắc hòa giải cơ sơ tranh chấp đát đai…………………..
3.3.4. Cần mạnh dạng đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác hòa
giải……………………………………………………………………………………
3.4. Một số giải pháp nhằm nân cao hiệu quả công tác hòa giải …………...
KẾT LUẬN………………………………………………………………………….
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
LỜI NÓI ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay Nước ta đang phát triển nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội
Chủ nghĩa là mục tiêu quan trong hàng đầu. Tuy nhiên, để phát triển được nền
kinh tế thì chúng ta phải nói đến nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đó là đất
đai; đồng thời Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm từ công tác quản lý, sử dụng,
quy hoạch đất đai phù hợp với chính sách và quy định của pháp luật. Trong
những năm gần đây việc sử dụng cũng như quan hệ đất đai có nhiều biến động
phức tạp; từ đó giá cả chuyển nhượng quyền sử dụng đất tăng cao ở các Thành
phố lớn kéo theo ở nông thôn cũng tăng giá trị đột biến, gây khó khăn cho Nhà
nước trong việc quản lý. Từ những biến động về giá trị kéo theo hàng lọt vụ tranh
chấp về đất đai ngày càng trở nên phức tạp, nhiều trường hợp hòa giải tranh chấp
đất đai giữa các đối tượng sử dụng đất gặp không ít khó khăn.
Hòa giải ở cơ sở về tranh chấp đất đai là tiền đề hết sức quan trọng của
công tác quản lý Nhà nước về đất đai, giúp cho cơ quan Nhà nước giải quyết ổn
thỏa tranh chấp, mâu thuẫn giữa các tổ chức, cơ quan, hộ gia đình và cá nhân về
tranh chấp đất đai. Đặc biệt những trường hợp liên quan đến nhiều vấn đề phức
tạp thuộc về pháp luật và những quan hệ xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích
của các bên tranh chấp. Vì vậy, công tác hòa giải ở cơ sở được Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt quan tâm.
Nếu công tác hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở tốt cũng góp phần giúp
huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở. Tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động
hòa giải ở cơ sở; khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động
hòa giải ở cơ sở.
Từ những thực tiễn trên nên người viết chọn đề tài “Hòa giải cơ sơ về tranh
chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trong phạm
vi xã Tân Hội là phân tích thực trạng về công tác hòa giải, đánh giá hiệu quả hòa
giải của địa phương này, từ đó đề xuất những giải pháp tích cực góp phần hoàn
thiện pháp luật về hòa giải cơ sở . Tuy nhiên, trong quá trình hòa giải vẫn còn một
số vụ việc tồn đọng, kéo dài quá luật định nhưng vẫn không hòa giải được.
Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế quản lý về đất đai của Nhà nước đôi lúc còn lỏng
lẻo, công tác đo đạc lập bảng đồ trong những năm qua chưa làm tốt, mặt khác hộ
gia đình, cá nhân thiếu quan tâm. Hệ thống pháp luật về đất đai chưa được đồng
bộ, chưa đủ đáp ứng nhu cầu quản lý đất đai, trình độ chuyên môn của cán bộ còn
hạn chế. Việc hòa giải chưa thực hiện đúng quy định pháp luật, sai thẩm quyền,
gây phiền hà cho nhân dân. Từ đó có những vụ khiếu nại kéo dài, dẫn đến người
dân kéo đến trụ sở khiếu nại đông người, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và giải quyết tốt nội dung đề tài đả đặt ra, người viết sử
dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tìm hiểu văn Quy phạm pháp
luật, trao đổi với những người có hiểu biết về quản lý đất đai.
4. Phạm vi nghiên cứu
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 2
dẫn, giúp đỡ các bên đang tranh chấp về đất đai đạt được thỏa thuận, tự nguyện
giải quyết với nhau, nhằm tạo sự đoàn kết và giữ vững tình làng nghĩa xóm, duy
trì những nét truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam; phòng ngừa, hạn chế vi
phạm pháp luật, đảm bảo tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong
tại địa phương thông qua tổ chức hòa giải, cụ thể là hòa giải viên.
Hòa giải ở cơ sở về tranh chấp đất đai; khi xảy ra tranh chấp đất đai, mâu
thuẩn giữa hộ gia đình, cá nhân và tổ chức nói chung, là những người sử dụng đất
nói riêng, tổ chức hòa giải tại cơ sở có nhiệm vụ đảm bảo các quyền lợi hợp pháp
của các bên bị xâm hại.
Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc hòa giải tranh chấp đất đai là một trong
những hình thức giải quyết tiền đề mà Nhà nước quan tâm xem như một công cụ
quan trọng, để hệ thống pháp luật quản lý đất đai ngày càng phát huy được hiệu
quả trong đời sống xã hội. Thông qua việc hòa giải cơ sở về tranh cháp đất đai,
Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà
nước và nhân dân.
Tổ chức hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai được thành lập trên cơ sở Quyết
định của Ủy ban nhân dân cấp xã và được hoạt động trong một thôn, ấp, bản,
buôn, phum, sóc, khu phố và cộng đồng dân cư (gọi chung là ấp), nhằm tìm hiểu
các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm hòa giải bất đồng, mâu thuẩn
giữa các bên về tranh chấp đất đai.
Như vậy hòa giải cơ sơ về tranh chấp đất đai là do tổ hòa giải, hòa giải viên
ở ấp hoạt động dựa trên vận dụng những tục lệ, đạo đức xã hội và phong tục tập
quán từ xa xưa còn tồn tại và được áp dụng cho đến ngày nay, để bảo vệ tốt nhất
các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
1.1.2. Các nguyên tắc hòa giải ở cơ sở về tranh chấp đất đai
Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc tự giải
quyết tranh chấp đất đai qua con đường hòa giải ở cơ sở. Theo luật đất đai năm
2003 có quy định; Nếu tranh chấp đất đai xảy ra thì bắt buộc hòa giải tại Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn.
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Hoạt động hòa giải ở cơ sở đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc có lý, có tình
nghĩa là hòa giải phải dựa trên cơ sở pháp luật về đạo đức xã hội. Trước hết cần
đề cao yếu tố tình cảm, dựa vào đạo đức xã hội để phân tích, động viên các bên
ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức: như con cái phải có hiếu với cha mẹ,
anh chị em phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, vợ chồng sống với nhau phải
có tình có nghĩa; đối với xóm giềng thì “tối lữa tắc đèn có nhau”… cùng với việc
giải thích, động viên, thuyết phục các bên ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo
đức xã hội, tổ hòa giải phải dựa vào pháp luật để phân tích, tư vấn pháp luật, đưa
ra những lời khuyên và hướng dẫn các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
mình theo quy định của pháp luật nhằm giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng dân cư,
cũng cố phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 5
SVTH: Diệp Văn Hiếu Nhỏ
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
cộng đồng, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã
hội trong cộng đồng dân cư.
Việc hòa giải tự kết thúc khi các bên đã đạt được thỏa thuận và tự nguyện
thực hiện thỏa thuận. Đối với tranh chấp phức tạp, mâu thuẩn giữa các bên gây
gắt, có thể gây hậu quả xấu, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự trong địa bàn xã, ấp thì
hòa giải phải kịp thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp giải
quyết. Để bảo đảm cho hoạt động hòa giải được thực hiện theo đúng nguyên tắc
và tránh sai phạm trong quá trình hòa giải.
Quy định cấm tổ hòa giải, hòa giải viên và các bên tranh chấp thực hiện
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
thiếu được trong quản lý thống nhất của Nhà nước về đất đai. Tuy nhiên tranh
chấp đất đai thường xảy ra như: Tranh chấp về quyề sử dụng đất, tranh chấp đòi
lại đất, tranh chấp ranh giới liền kề, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng
đất…Việc hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai do các bên tự tiến hành thông qua
con đường thương lượng, động viên, thuyết phục do Tổ hòa giải hoặc hòa giải
viên thực hiện dựa trên tập quán, đạo đức xã hội, tục lệ, hiểu biết sâu về mối quan
hệ giữa các bên đang tranh chấp.
1.2.2. Phân loại tranh chấp đất đai
Trước Hiến pháp năm 1980, Nhà nước thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đối
với đất đai như: sỡ hửu Nhà nước, sở hữu tập thể và sử hữu tư nhân. Do đó tình
hình tranh chấp đất đai ở thời kỳ này rất đa dạng và phức tạp, đồng thời tranh
chấp xảy ra nhiều hình thức bao gồm: tranh chấp về chuyển đổi, chuyển nhượng,
thừa kế, tặng cho và quyền sử dụng đất đai…Sau khi Hiến pháp năm 1980 ra đời,
đất đai thuộc sở hữu của toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý và người dân sử
dụng, do đó tranh chấp đất đai hiện nay xảy ra ở nội bộ gia đình, cá nhân và tổ
chức. Theo quy định của pháp luật hiện hành có 3 loại hình tranh chấp đất đai.
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất;
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan về địa giới đơn vị hành
chính (xã, huyện, Tỉnh). Tuy nhiên trên thực tế thường xuất hiện dạng tranh chấp
đất đai phổ biến sau đây:
- Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Dạng tranh chấp này xảy ra rất phổ biến, việc phát sinh thường là do một
bên hoặc hai bên thực hiện không đúng giao kết hợp đồng về tiền hoặc không
giao đất; cũng có trường hợp bị lừa dối không xác định cụ thể bên bán hay bên
mua có nghĩa vụ đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, làm thủ tục…đây là
1.2.3. Đặc điểm của tranh chấp đất đai.
Quan hệ đất đai là một dạng quan hệ đặc biệt của quan hệ dân sự, bên cạnh
những đặc điểm chung của tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp
kinh tế…sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
- Chủ thể tranh chấp đất đai chỉ mong muốn được quyền sử dụng đất chứ
không phải tranh chấp về quyền sở hữu đất đai của các chủ thể được xác lập dựa
trên quyết định giao đất, cho thuê đất, Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Như vậy chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
- Nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp, hoạt động sử dụng
và quản lý đất đai của nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với
việc sử dụng đất đai trở thành một vị trí quan trọng có giá trị rất lớn, từ đó làm
cho giá đất biến đọng theo nhu cầu thị trường, nên việc quản lý đất đai của Nhà
nước gặp không ít khó khăn.
- Tranh chấp đất đai phát sinh gây ảnh hưởng xấu tới nhiều mặt như: có thể
gây bất ổn định về chính trị, gây mất trật tự xã hội, gây mất đoàn kết trong nhân
dân, gây ảnh hưởng đến việc quản lý đất đai, không những ảnh hưởng trực tiếp
tới lợi ích của các bên tranh chấp mà còn ảnh hưởng tới lợi ích của Nhà nước và
xã hội.
- Đối tượng của tranh chấp đát đai là quyền sử dụng đất, đất đai là loại tài ản
đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc quyền quản
lý của Nhà nước.
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 8
SVTH: Diệp Văn Hiếu Nhỏ
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
công tác giải quyết tranh chấp.
Để góp phần thực hiện tốt công tác hòa giải cơ sở thì tủ sách pháp luật tại xã
phường không kém phần quan trọng, hàng năm đã phục vụ trên 500 lượt người
xem, thực hiện tinh thần Quyết định số 1067/QĐ-TTg ngày 25/11/1998 của Thủ
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 9
SVTH: Diệp Văn Hiếu Nhỏ
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
tướng chính phủ và Quyết định số 355/1999/QĐ-TP ngày 22/11/1999 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành quy chế xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách
xã, phường, thị trấn. Nhìn chung Ủy ban nhân dân xã đã phát huy được tính tự
quản trong công tác hòa giải tranh chấp đất đai, lựa chọn hòa giải viên đều là
những hạt nhân nồng cốt, có năng lực, đạo đức để đảm nhận tốt vai trò hòa giải
cơ sở. Vì vậy các vụ tranh chấp trong nhân dân được các tổ hòa giải tiếp nhận và
giải quyết kịp thời trên địa bàn xã.
1.4. Nguyên nhân tranh chấp đất đai
1.4.1. Nguyên nhân khách quan
Từ trước những năm 1980 Đảng và Nhà nước thực hiện công cuộc cải cách
ruộng đất, thực hiện chính sách “người cày có ruộng” hợp tác hóa nông nghiệp,
ruộng đất của người nông dân được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung trở thành
sở hữu tập thể, thiết lập cơ chế kinh tế tập thể, người có ruộng đất phải giao cho
tập đoàn quản lý và sau đó sản phẩm thu được chia cho bình quân đầu người. Sau
thời gian thực hiện Nhà nước nhận ra sự sai lầm, nên đến năm 1980 Hiến pháp
thứ hai ra đời và đây là một bản Hiến pháp tương đối hoàn chỉnh, cũng là tiền
thân của của Hiến pháp năm 1992, thiết lập quyền sử dụng đất cho người nông
trường hợp tranh chấp đất đai lại bất nguồn từ tài liệu lịch sử cũa chế độ củ để lại.
Hơn nữa, việc giao đất lại không tiến hành theo trình tự chặt chẽ nên hồ sơ đất đai
không đồng bộ và bị thất lạc.
Quy hoạch sử dụng đất đai chưa đi vào nề nếp nên nhiều trường hợp sử dụng
đất không hợp lý khó bị phát hiện. Khi phát hiện thì không bị xử lý kịp thời.
Nhiều địa phương còn có những nhận thức lệch lạc về chính sách đất đai, quản lý
đất đai còn nặng nề về tình nghĩa trong xã hội.
Về công tác cán bộ công chức thực hiện công vụ liên quan tới đất đai, một
bộ phận cán bộ công chức được giao nhiệm vụ quản lý đất đai đã thực hiện không
tốt nhiệm vụ được giao, thiếu gương mẫu lạm dụng chức quyền, vì lợi ích riêng
tư hoặc bị kẻ xấu lợi dụng dẫn đến việc gây mất ổn định xã hội.
Một số cán bộ lợi dụng sơ hở trong luật đất đai của nhà nước và dựa vào
chức quyền để chiếm dụng đất đai một cách trái phép, gây dư luận xã hội. Đặc
biệt ở những nơi nội bộ mất đoàn kết thì vấn đề đất đai làm phương tiện để đấu
tranh với nhau từ đó gây mất ổn định về tình hình chính trị - xã hội làm mất uy
tính của đảng và nhà nước.
- Về công tác lảnh đạo, chỉ đạo:
Đôi lúc có chỉ đạo việc hòa giải tranh chấp đất đai nhưng lại thiếu kiểm tra,
cụ thể trong năm 2013 Ủy ban nhân dân xã không kiểm tra nhiều các về công tác
hòa giải và lập hồ sơ hòa giải, vì vậy có những vụ đã hòa giải thành không lưu hồ
sơ đầy đủ theo quy định, không tổ chức được lực lượng quần chúng đấu tranh với
mọi biểu hiện tiêu cực, ngược lại để quần chúng bị bọn xấu lôi kéo ảnh hưởng
đến chính quyền địa phương dẫn đến có những vụ hòa giải kéo dài.
- Về đường lối chính sách pháp luật đất đai:
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai đôi lúc chưa đồng bộ, thiếu
kịp thời, cụ thể khi ban hành ra Luật muốn thực hiện được phải chờ Nghị định
hướng dẫn, rồi khi có Nghị định phải chờ Thông tư và có đôi lúc phải chờ văn
bản hướng dẫn của Tỉnh.
- Về công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật đến người dân.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT
ĐAI CỦA XÃ TÂN HỘI
2.1. Thẩm quyền và nghĩa vụ hòa giải ở cơ sở về tranh chấp đất đai
2.1.1. Thẩm quyền hòa giải ở cơ sở
Khoản 2 Điều 159 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật đất đai
2003 quy định: “Trường hợp các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn
đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Việc
hòa giải phải được lập thành biên bản có chử ký của các bên và có xác nhận hòa
giải thành hoặc hòa giải không thành của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Biên bản hòa giải phải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp”. Như vậy, dù việc hòa giải thành hay
không thành thì ủy ban nhân dân xã, phường, phải gửi biên bản hòa giải tới các
bên tranh chấp.
Pháp luật hiện hành có quy định các trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai
thành hoặc không thành, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải ra văn bản trả
lời các bên đang tranh chấp. Tuy nhiên trên thực tế, khi hòa giải đất đai không
thành, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ra văn bản về việc hòa giải không
thành và hướng dẫn các bên đang tranh chấp tiếp tục giải quyết tranh chấp tại các
cơ quan Nhà nước Theo quy định tại Điều 136 Luật đất đai năm 2003, cụ thể như
sau:
Tòa án nhân dân sẽ giải quyết tranh chấp đối với các vụ việc mà đương sự
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại
các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai 2003 và tranh chấp về tài sản gắn
liền với đất.
Chủ tịch ủy ban nhân các huyện, chủ tịch ủy ban nhân cấp Tỉnh hoặc Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ giải quyết các tranh chấp về quyền sử
dụng đất hoặc không có một trong giấy tờ quy định tại các khỏan 1, 2 và 5 Điều
50 của Luật đất đai.
Về việc hòa giải ở cơ sở: Theo Điều 2 Pháp lệnh năm 1998 và Luật hòa giải
chức tự quản của nhân dân được thành lập ở ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư
khác để thực hiện hoặc tổ chức thực hiện hòa giải những vi phạm pháp luật và
tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.
Tổ hòa giải có tổ trưởng các tổ viên do Ủy ban mặt trận tổ quốc xã phối hợp
với các tổ chức thành viên của Mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu và
do ủy ban nhân dân cùng cấp công nhận. Mỗi tổ hòa giải có từ 3 tổ viên trở lên,
căn cư tình hình đặc điểm cụ thể của ấp và kết quả cuộc họp ở ấp, chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã có quyết định tổ hòa giải ở địa phương, thành viên của tổ hòa
giải là người có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tính trong nhân dân có khả năng
thuyết phục có tinh thần tốt.
Như vậy tổ hòa giải là một tổ chức của quần chúng nhân dân do dân bầu ra
vfa được thành lập ở cơ sở ấp. Về bản chất tổ hòa giải là tổ chức quần chúng,
không phải là tổ chức chính quyền, được thành lập để hòa giải tại chỗ, thường
xuyên, kịp thời các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, góp phần
tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho nhân dân, nhằm chủ động ngăn ngừa vi phạm
pháp luật, hạn chế các vụ việc phải đưa ra tòa án giải quyết.
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 14
SVTH: Diệp Văn Hiếu Nhỏ
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
2.1.2. Trách nhiệm của tổ hòa giải
Theo quy định Luật hòa giải ở cơ sở tại Điều 13 quy định như sau:
- Tổ chức thực hiện hòa giải.
- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm, thảo luận các giải pháp để tiến hành hòa giải
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 15
SVTH: Diệp Văn Hiếu Nhỏ
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
giải, biên bản hòa giải là sự ghi lại những thỏa thuận giữa các bên, mang ý nghĩa
đạo lý, danh dự và tạo nên một sự ràng buộc về mặt đạo lý và tâm lý giữa các
bên. Biên bản hòa giải phải có chữ ký của hòa giải viên, thư ký tổ hòa giải (người
ghi biên bản) và đại diện các bên tranh chấp.
- Kết thúc hòa giải:
Hòa giải thành: Việc hòa giải kết thúc và được coi là hòa giải thành khi các
bên đã đi đến sự thỏa thuận và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó. Tổ hòa giải có
thể đề nghị với chính quyền và ban nhân dân ấp tạo điều kiện để các bên thực
hiện thỏa thuận.
Hòa giải không thành: Việc hòa giải không thành khi các bên không thể đạt
được thỏa thuận và tiếp tục hòa giải không thể đạt kết quả. Trong trường hợp này
hòa giải viên giải thích, hướng dẫn các bên tranh chấp xử sự phù hợp với pháp
luật, đồng thời hướng dẫn cho các bên làm thủ tục cần thiết để đề nghị cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
2.3. Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải ở cơ sở về tranh chấp đất đai
của tổ hòa giải.
Bước 1: Bước chuẩn bị;
- Khi tiếp nhận đơn, tổ hòa giải phải phân loại đơn theo 4 loại; đơn kiến
nghị, đơn tranh chấp, đơn khiếu nại và đơn tố cáo.
-Vào sổ theo dõi đơn thư đúng quy định sau đó chuyển cho tổ trưởng tổ hòa
giải phân công hòa giải viên thụ lý và thông báo cho nguyên đơn biết về tiếp nhận
bên tranh chấp, kết quả kiểm tra hiện trạng phải được lập thành biên bản và thể
hiện rỏ số đo, vị trí tiếp giáp, diện tích đất sử dụng thực tế mức độ phù hợp, thiếu,
đủ hay thừa sau khi kiểm tra, xác minh xong nguồn đất và hiện trạng của thửa đất
đang tranh chấp, hòa giải viên được giao hòa giải vụ việc phải phân tích, tổng
hợp, báo cáo kết quả và đề xuất hướng giải quyết với tổ hòa giải, trước khi tiến
hành hòa giải tranh chấp đất đai.
Bước 4: Tiến hành hòa giải;
- Căn cứ hồ sơ đã được thu thập thông tin qua xác minh tổ hòa giải tiến hành
hòa giải như sau:
- Về địa điểm tổ chức tại Ban nhân dân ấp.
- Tổ hòa giải quán triệt nội quy ứng xử của buổi hòa giải.
- Đại diện tổ hòa giải xã báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh nguồn góc đất,
hiện trạng thửa đất tranh chấp. Đồng thời giải thích thêm các văn bản quy định về
đất đai cho các bên tranh chấp hiểu rỏ.
- Phát biểu ý kiến của các bên: Tạo điều kiện, môi trường thoải mái để các
bên tự đối thoại và đi đến thỏa thuận. Tổ hòa giải căn cứ hồ sơ và các quy định
của pháp luật phân tích cụ thể cho các bên tranh chấp hiểu rỏ bên nào sai bên nào
đúng từ đó thuyết phục, động viên các bên tự thỏa thuận đi đến thống nhất.
- Trong khi hòa giải phải thành lập biên bản, bắt buộc phải có chử kí của
các bên tranh chấp nếu hòa giải thành. Không bắt buộc phải có đầy đủ chử ký các
bên nếu hòa giải không thành. Nội dung biên bản phải ghi đầy đủ các ý kiến, tài
liệu và chứng cứ được các bên cung cấp, diện tích đất dang tranh chấp có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa hoặc có một số giấy tờ theo quy định tại
khoản 1, 2 và 5 của điều luật 50 luật đất đai 2003, trường hợp kết quả hòa giải với
hiện trạng sử dụng đất thì Tổ trưởng tổ hòa giải chuyển kết quả hòa giải đến Ủy
ban nhân dân xã giải quyết theo đúng quy định pháp luật về quản lý đất đai.
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 17
chức năng nên vụ việc đơn giảng ngày càng trở nên phức tạp, thậm chí tạo thành
điểm nóng.
Đối với tổ hòa giải thì không thể chỉ áp dụng pháp luật là sẻ thành công. Đây
có lẻ là điểm đặc biệt bởi hoạt động hòa giải ỏe cơ sở phần lớn là dùng phương
pháp phân tích, động viên, thuyết phục trên cơ sở phong tục tập quán, truyền
thống, uy tín, nêu gương là chính. Ở đó không có hoạt động xử phạt, kỷ luật, răn
đe hay cưỡng chế thi hành đối với các bên vi phạm. Thực tế có nhiều vụ hòa giải
thành mà người hòa giải là người trực tiếp hòa giải chưa chủ động trong việc
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 18
SVTH: Diệp Văn Hiếu Nhỏ
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
chuẩn bị địa điểm, thời gian kể cả biên bản cuộc hòa giải. Bởi vì chỉ một ly trà,
cốc rượu hay một sự tư vấn chân tình đã giải quyết xong được chuyện.
Số vụ việc tiếp nhận để hòa giải thời gian qua trên địa bàn xã như tranh chấp
quyền sử dụng đất, thừa kế, tranh chấp ranh giới…
- Những kinh nghiệm từ thực tế.
Để hoạt động hòa giải ở cơ sở đi đúng hướng trước tiên phải có sự quan tâm
sâu sắc của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và các ngành đoàn thể xã, đặc biệt là sự
quan tâm trực tiếp của Ban nhân dân ấp, Ban công tác mặt trận ấp, các chi hội tạo
sự chuyển biến tích cực và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ hòa giải hoạt động đạt
hiệu quả. Đầy là kinh nghiệm không mới nhưng chắc chắn củng không bao giờ
củ; vì thực tế thời gian qua chúng ta làm điều này chưa đồng bộ nên hiệu quả
công tác hòa giải chưa đạt như mong muốn.
ra hòa giải. Đây là một trong những cách giúp cho các tổ hòa giải, hòa giải viên
lồng ghép công tác tuyên truyền pháp luật vào công tác hòa giải.
Làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật từ những kinh nghiệm thực tế cho
thấy, nếu tổ chức tốt hoạt động hòa giải ở cơ sở ( từ khâu tuyên truyền cho đến
việc tiếp nhận, phân công thành viên của tổ xác minh, thu thập tin tức, nghiên cứu
tài liệu, phân tích tình hình, tính chất từng vụ việc cụ thể và cuối cùng đưa vụ việc
ra hòa giải ) sẽ góp phần vô cùng quan trọng để hạn chế những phát sinh mâu
thuẩn có thể dẫn đến những mầm móng gây mất tình hình an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội ở địa phương.
2.5. Tình hình hòa giải ở sơ sở về tranh chấp đất đai của tổ hòa giải
- Hòa giải ở cơ sở về tranh chấp đất đai là một trong những biện pháp giải
quyết tranh chấp đất đai mang lại hiệu quả cao và được nhân dân ủng hộ, nó khác
với việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện thông qua các cơ quan công
quyền, hòa giải tranh chấp đất đai không mang lại tính chất bất buộc, cưỡng chế
thi hành mà chỉ có thể hiện sự thỏa thuận ý chí của các bên điều này phù hợp với
một trong những nguyên tắc cơ bản của đời sống xã hội và tôn trọng để nâng cao
quyền tự do của nhân dân.
- Các quan hệ xã hội bị chi phối mạnh mẽ bởi các quy tắc đạo đức, phong
tục tập quán truyền thống hơn là quy phạm pháp luật. Trải qua hàng nghìn năm
Việt Nam vẫn bảo tồn bền vững các giá trị đạo đức, văn hóa xã hội truyền thống.
Người dân sống có ý thức tính đoàn kết giữa con người với nhau và cả cộng đồng
dân cư, không chấp nhận sự tồn tại của các yếu tố gây tổn hại đến mối quan hệ
trong nhân dân. Đây chính là thuận lợi để Luật hòa giải ở cơ sở ra đời và phát huy
tính hiệu quả trong việc hòa giải các tranh chấp nói chung và tranh chấp đất đai
nói riêng trong quần chúng nhân dân.
- Đặc điểm cơ bản xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa của từng vùng,
miền khác nhau, là vai trò sự chi phối của con người của chúng ta, các tổ chức
quần chúng đi đôi với toàn bộ đời sống xã hội nông thôn trong bối cảnh đó, vai
trò và sức mạnh to lớn của cộng đồng, các đoàn thể quần chúng ở cơ sở ngày
định phù hợp với một nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 11 bộ luật dân sự trong
quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật.
Tranh chấp đất đai trước hết là một vụ tranh chấp dân sự nó liên quan đến quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng bất động sản giữa những người sử dụng đất với nhau.
Vì vậy, hòa giải tranh chấp đất đai được coi là một cách thức giải quyết tranh
chấp đất đai hiệu quả nhất phù hợp với đặc điểm tâm lý truyền thống của cộng
đồng dân cư, toàn xã hội.
- Luật đất đai năm 2003 và sữa đổi bổ sung năm 2013 tiếp tục đề cao phương
thức hòa giải các tranh chấp đất đai, đồng thời có những quy định mới hợp lý
hơn, cụ thể hơn, luật xác định rõ, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất
đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua tổ chức hòa giải ở cơ
sở. Điểm mới là luật đất đai năm 2003 (sửa đổ bổ sung 2013) so luật đất đai năm
1993 là các bên được tự hòa giải hoặc thông qua các tổ chức hòa giải ở cơ sở để
giải quyết tranh chấp đất đai.
- Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998 đã khẳng
định Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được
thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh
chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phòng ngừa, hạn chế vi
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 21
SVTH: Diệp Văn Hiếu Nhỏ
Đề tài: Hòa giải cơ sở về tranh chấp đất đai trên địa bàn xã Tân Hội
phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư, được quy
định tại Điều 1 và Điều 2 quy định hình thức hoà giải ở cơ sở được thực hiện
thông qua hoạt động của Tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân
đó xã Tân Hội là một trong những địa phương đã tích cực củng cố kiện toàn các
GVHD: Nguyên Thị Thanh Xuân
Trang 22
SVTH: Diệp Văn Hiếu Nhỏ