văn hóa công sở hành chính lý luận và thực tiễn - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
Hệ đào tạo: Chính quy

Đề tài:

VĂN HÓA CÔNG SỞ HÀNH CHÍNH- LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Ths. Võ Duy Nam

Phan Bích Liễu

Bộ môn Luật Hành Chính

MSSV: S120039
Lớp: Luật văn bằng 2 ĐT

Cần Thơ, Tháng 10 Năm 2014


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn


2.3. GIAO TIẾP ỨNG XỬ NƠI CÔNG SỞ ..................................................................30
2.3.1. Giao tiếp trong hoạt động công vụ........................................................................... 30
GVHD: Võ Duy Nam

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

2.3.2. Giao tiếp của cán bộ, công chức, viên chức trong nội bộ cơ quan, tổ chức ........... 31
2.3.3. Giao tiếp với nhân dân ............................................................................................. 34
2.3.4. Giao tiếp qua điện thoại ........................................................................................... 36
2.4. CÁC HÀNH VI BỊ CẤM TẠI CÔNG SỞ .............................................................. 37
2.4.1. Hành vi hút thuốc lá trong phòng làm việc ............................................................. 37
2.4.2. Hành vi sử dụng đồ uống có cồn tại công sở........................................................... 37
2.4.3. Hành vi Quảng cáo thƣơng mại tại công sở ............................................................ 38
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG VĂN
HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC ....................... 39
3.1. THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƢỚC...................................................................................................................... 39
3.1.1. Tổng quan về văn hóa công sở trƣớc khi chính phủ ban hành quy chế văn hóa
công sở tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc ................................................................... 39
3.1.2. Mặt tích cực về văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc ................ 41
3.1.3. Mặt hạn chế về văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc ................ 43
3.2. NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC .......................................................................................... 47
3.2.1. Nguyên nhân khách quan ......................................................................................... 47
3.3.2. Nguyên nhân chủ quan ............................................................................................. 48
3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC .............................................................................50

.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................

GVHD: Võ Duy Nam

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bộ máy Nhà nƣớc Việt Nam đƣợc thành lập với hệ thống các cơ quan Nhà nƣớc từ
trung ƣơng đến địa phƣơng có vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng với mục đích phục vụ và
mang lại lợi ích cho nhân dân. Nhằm đạt đƣợc mục đích này, ngày nay Nhà nƣớc đang
quan tâm thực hiện công cuộc cải cách hành chính, để góp phần vào việc thực hiện cải cách
hành chính có hiệu quả một trong những vấn đề quan trọng cần phải nói đến đó là văn hóa
công sở. Vì công sở là bộ mặt của Nhà nƣớc, của nhân dân, tại đó mọi phép tắc, luật lệ phải
đƣợc tuân thủ, không thể biến công sở thành sở hữu riêng để làm những điều có lợi, phục

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

nhân của tình trạng trên là do ý thức, thái độ thực hiện chƣa nghiêm túc của những công
chức đƣợc nhà nƣớc giao nhiệm vụ; bên cạnh đó là sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo một
số cơ quan, đơn vị chƣa sát sao, cụ thể; tính nể nang, thông cảm trong quan hệ hành chính
vẫn tồn tại; xây dựng Quy chế còn chung chung thiếu tính định hƣớng.
Vì những lý do trên và để thấy đƣợc nguyên nhân dẫn đến những hạn chế văn hóa
công sở tại các cơ quan hành chính nƣớc ta hiện nay từ đó tìm ra những giải pháp để giúp
cho việc thực hiện văn hóa công sở tốt hơn, ngƣời viết lựa chọn đề tài “ Văn hóa công sở
hành chính - Lý luận và thực tiễn” để làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp cử nhân luật.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Văn hóa công sở của nƣớc ta nói chung hiện nay còn nhiều hạn chế và yếu kém và
tùy vào hoàn cảnh điều kiện từng nơi, nhận thức của mỗi cán bộ công chức mà mỗi nơi
đều có những hạn chế và yếu kém nhất định về bộ mặt của văn hóa công sở cũng nhƣ vấn
đề về giao tiếp, ứng xử trong cơ quan Nhà nƣớc. Vì vậy việc nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề
văn hóa công sở cả về mặt lý luận và thực tiễn sẽ giúp chúng ta thấy đƣợc thực tế vai trò và
tầm quan trọng của văn hóa công sở cũng nhƣ những mặt tích cực và hạn chế trong văn
hóa công sở cần nên tránh để từ đó có những giải pháp thích hợp xây dựng bộ mặt văn hóa
công sở phù hợp với quy định Nhà nƣớc ta hiện nay tạo nên một môi trƣờng làm việc thân
thiện có trật tự, một tâm lý thoải mái gần gũi khi ngƣời dân tiếp xúc với đội ngũ cán bộ,
công chức. Mang lại niềm tin cho nhân dân ta đối với Đảng với Nhà nƣớc.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài “ Văn hóa công sở hành chính-Lý luận và thực tiễn” chủ yếu nghiên cứu
xoay quanh vấn đề tìm hiểu lý luận về văn hóa công sở, thực tiễn văn hoá công sở tại một
số cơ quan hành chính nhà nƣớc và pháp luật hiện hành mà chủ yếu là Quyết định số
129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành
Quy chế văn hoá công sở tại cơ quan hành chính nhà nƣớc nhằm thấy đƣợc thực trạng tìm


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG SỞ
1.1.1. Khái niệm chung về công sở
Trên phƣơng diện lịch sử, thuật ngữ “công sở” đƣợc sử dụng rỗng rãi ở Châu Âu từ
cuối thế kỷ thứ XVIII cùng với thuật ngữ “cơ quan”. Ở Việt Nam cũng tồn tại những quan
niệm khác nhau về “công sở” đồng nghĩa với “cơ quan”. Trên thực tế hai khái niệm “công
sở” và “cơ quan” tuy có chỗ tƣơng đồng về nội hàm nhƣng không hoàn toàn giống nhau,
không thể thay thế cho nhau trong mọi trƣờng hợp. Khái niệm cơ quan chủ yếu gắn liền
với quyền lực nhà nƣớc do luật định và các mối quan hệ quyền lực. Trong khi đó khái niệm
“công sở” còn gắn với cơ sở vật chất, địa điểm hoạt động của một cơ quan, nơi tổ chức
công việc tham mƣu phục vụ nhà nƣớc. Không thể nói đến công sở mà không nói đến vị trí
của nó trong một không gian xác định và các điều kiện vật chất khác. Hoạt động của một
cơ quan một tổ chức có thể diễn ra tại công sở nhƣng cũng có thể diễn ra ngoài công sở.
Còn khi nói đến hoạt động của công sở thì điều đó có nghĩa là nó phải diễn ra tại địa điểm
mà công sở đóng.
“Công sở” đƣợc xem xét ở hai góc độ rộng và hẹp. Theo nghĩa hẹp, “công sở” để
chỉ một loại cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc đó là cơ quan quản lý nhà nƣớc hay cơ quan
hành chính nhà nƣớc, là những cơ quan công quyền, cơ quan thực hiện chức năng quản lý
bằng quyền lực công, tức là quyền lực nhà nƣớc (còn gọi là công sở hành chính). Theo
nghĩa này, “công sở” bao gồm các cơ quan Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban
nhân dân các cấp, các sở, phòng và trụ sở làm việc của những cơ quan này.
Theo nghĩa rộng, khái niệm “công sở” xuất phát từ sự phân định ranh giới giữa các
cơ quan, tổ chức hoạt động trong khu vực “công” nhằm mục đích phục vụ công cộng với
các tổ chức hoạt động trong khu vực “tƣ” là khu vực tƣ nhân nhằm phục vụ lợi ích cho
từng cá thể. Dƣới góc độ quản lý xã hội, “công sở” để chỉ các cơ quan, tổ chức là những
chủ thể cơ bản, quan trọng nhất có chức năng quản lý xã hội.

động của công sở, nhằm đảm bảo thông tin cho quản lý. Làm việc trong các công sở là
công chức theo quy chế công cụ và lao động hợp đồng theo thỏa thuận. Nhìn chung công
sở hành chính có những nhiệm vụ chủ yếu dƣới đây:
- Quản lý công vụ theo pháp luật;
-Tổ chức, phối hợp công việc giữa các bộ phận của cơ quan;
- Tổ chức công tác thông tin trong cơ quan và giữa cơ quan với cơ quan khác;
- Thực hiện việc kiểm tra, theo dõi công việc của cán bộ, công chức thuộc cơ quan
theo cơ chế chung và các quy chế khác do cơ quan đơn vị ban hành dựa trên các quy định
chung của nhà nƣớc;
- Tổ chức việc giao tiếp với dân, với các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc và các tổ
chức xã hội, làm đại diện cho nhà nƣớc để thực thi công vụ;
- Quản lý tài sản của cơ quan để sử dụng vào mục đích chung, quản lý ngân sách;
- Tham mƣu trong hoạt động, chính sách, xây dựng pháp luật, các quy chế, quyết
định cho cơ quan, tổ chức Nhà nƣớc có thẩm quyền
- Công sở là nơi phục vụ công dân thông qua việc giao tiếp, giải quyết các công việc
của dân, là hình ảnh nhìn thấy đƣợc của chính quyền, của các cơ quan Nhà nƣớc trong quy
trình hoạt động của mình.
Có nhiều tiêu chí khác nhau có thể áp dụng để phân loại và nghiên cứu công sở.
Nếu tính theo chất và nội dung hoạt động của công sở có thể xếp thành công sở hành chính,
công sở sự nghiệp. Nếu dựa trên phạm vi hoạt động, có thể phân loại công sở thành công
sở trung ƣơng, công sở của trung ƣơng đóng ở địa phƣơng, công sở do các cơ quan địa
phƣơng quản lý. Nhƣng dù phân loại theo nguyên tắc nào thì công sở nói chung cũng đều
có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
2

TS.Nguyễn Vũ Tiến, Giáo trình giao tiếp trong quản lý xã hội, NXB Hà Nội, 2009, tr.68

GVHD: Võ Duy Nam

5

1.2. KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
1.2.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một từ tiếng Hán, do Lƣu Hƣớng ngƣời Tây Hán đƣa ra đầu tiên. Nhƣng
lúc bấy giờ văn hóa có nghĩa là giáo hóa. Chữ văn hóa trong tiếng Anh và tiếng Pháp là
culture. Chữ này có nguồn gốc từ La tinh, culture nghĩa là trồng trọt, cƣ trú, luyện tập, lƣu
tâm…Đến giữa thế kỷ XIX khái niệm văn hóa đã thay đổi, ngƣời đầu tiên đƣa ra định
nghĩa mới về văn hóa là Taylor, nhà nhân loại học đầu tiên của nƣớc Anh. Ông nói “Văn
hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật,
phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con ngƣời đang đƣợc trong xã hội”. Sau đó
các học giả đã đua nhau đƣa ra những định nghĩa về văn hóa. Trên cơ sở ấy ngƣời Nhật
Bản đã dùng hai chữ văn hóa để dịch chữ culture của phƣơng Tây.

GVHD: Võ Duy Nam

6

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

Ngày nay có nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa văn hóa:
- Trong sách Việt Nam văn hóa sử cƣơng, xuất bản năm 1938, Đào Duy Anh viết:
“Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phƣơng diện sinh hoạt của loài ngƣời,
cho nên ta có thể nói rằng, văn hóa tức là sinh hoạt”
- Trong sách Văn hóa và đổi mới Phạm Văn Đồng viết: “Văn hóa là một đề tài bao
la nhƣ con ngƣời và sự sống, là cách nhìn bao trùm và cách ứng xử qua những hành động
thiết thực của con ngƣời với thiên nhiên và cộng đồng ngƣời trong xã hội. Theo nghĩa rộng
nói một cách đơn giản, văn hóa là tất cả những gì không phải thiên nhiên, nghĩa là tất cả
những gì do con ngƣời, ở trong con ngƣời và liên quan trực tiếp đến con ngƣời”.


7

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

tin, giá trị về thái độ của các nhân viên làm việc trong công sở, ảnh hƣởng đến cách làm
việc của công sở và hiệu quả hoạt động của nó trong thực tế.
Thuật ngữ văn hóa công sở đƣợc các nhà nghiên cứu giải thích từ các góc độ rộng
hẹp khác nhau: “ Có ý kiến cho rằng văn hóa công sở đồng nghĩa với văn hóa giao tiếp ứng
xử trong công sở: “ Văn hóa công sở đƣợc hiểu là những quy tắc các chuẩn mực ứng xử
của cán bộ, công chức nhà nƣớc với nhau và với đối tƣợng giao tiếp là các công dân nhằm
phát huy tối đa năng lực của những ngƣời tham gia giao tiếp để đạt hiệu quả cao nhất trong
công việc công sở”
Trong từ điển tra cứu về quản lý nhà nƣớc và quản lý địa phƣơng của học viện công
vụ Liên bang Nga, văn hóa công sở (văn hóa cơ quan) đƣợc tiếp cận từ góc độ rộng hơn,
đó là “tập hợp các định hƣớng và giá trị,chuẩn mực do truyền thống hay thói quen tạo nên,
đặc trƣng riêng của hoạt động công vụ tại các cơ quan nhà nƣớc thể hiện ở mục tiêu của tổ
chức, quan điểm, thái độ của con ngƣời đối với công việc, cách xử lý các xung đột”.
Nhƣ vậy ta có thể thấy “văn hóa công sở xuất phát từ vai trò của chính công sở
trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bộ máy hành chính mà nó là một bộ phận cấu
thành. Trong khái niệm này chúng ta có thể kể đến những khía cạnh quan trọng nhất của nó
nhƣ quan hệ giữa cán bộ, công chức trong công việc, các chuẩn mực xử sự, nghi thức tiếp
xúc hành chính, phƣơng pháp giải quyết các bất đồng trong cơ quan, cách lãnh đạo, chỉ huy
và ý thức chấp hành kỹ luật trong và ngoài công sở của nhân viên”4.
1.2.3. Biểu hiện của văn hóa công sở
Biểu của văn hóa công sở có thể thấy trong các quy chế, quy định, nội quy, điều lệ
hoạt động có tính chất bắt buộc mọi thành viên của các cơ quan thực hiện. Những đặc

chế thành văn một cách đầy đủ.
Để xem xét các khía cạnh khác nhau của văn hóa tổ chức trong một công sở cụ thể,
mà ở đây đƣợc gọi là văn hóa công sở, chúng ta có thể dựa vào một số biểu hiện cụ thể của
các hành vi điều hành và hoạt động của công sở đó nhƣ sau:
- Tinh thần tự quản, tính tự giác của cán bộ, công chức làm việc tại công sở cao hay
thấp. Thái độ trách nhiệm trƣớc công việc và các cơ hội mà mọi ngƣời có đƣợc để vƣơn lên
luôn là biểu thị của môi trƣờng văn hóa cao trong công sở và ngƣợc lại.
- Mức độ áp dụng các quy chế để điều hành, kiểm tra công việc.
- Thái độ chỉ huy dân chủ hay độc đoán.
- Cán bộ, công chức của từng cơ quan và các đơn vị của cơ quan có tinh thần đoàn
kết, tƣơng trợ, tin cậy lẫn nhau nhƣ thế nào. Mức độ của bầu không khí cởi mở trong công
sở.
- Các chuẩn mực đƣợc đề ra thích đáng và mức độ hoàn thành công việc theo chuẩn
mực cao hay thấp. Một công sở làm việc không có chuẩn mực thống nhất là sự biểu hiện
của văn hóa công sở kém.
- Các xung đột nội bộ đƣợc giải quyết thỏa đáng hay không
Các biểu hiện hành vi của văn hóa công sở rất đa dạng và phong phú. Chúng đòi hỏi
phải xem xét tỷ mỉ mới có thể đánh giá đƣợc hết mức độ ảnh hƣởng của chúng tới năng
suất lao động quản lý, tới hiệu quả hoạt động của công sở nói chung.
1.2.4. Khái quát văn hóa công sở của một số nƣớc trên thế giới
* Nhật bản
Ở Nhật bản vấn đề đạo đức công vụ, cải cách thủ tục, mối quan hệ giữa Chính phủ
với nhân dân đƣợc Chính phủ rất quan tâm. Sau đây là một số bài học về văn hoá công sở
của Nhật Bản.
- Thứ nhất, tôn trọng danh thiếp: Một cuộc gặp tại Nhật Bản bắt đầu với việc trao
cho nhau danh thiếp theo một cách rất trang trọng - một nghi lễ đƣợc gọi là Meishi kokan.
Khi nhận danh thiếp, ngƣời ta sẽ cầm bằng cả hai tay, xem xét nội dung cẩn thận và sau đó
đọc to các thông tin đƣợc in trong tấm thiếp. Tiếp đến họ sẽ đặt vào trong một chiếc hộp
đựng danh thiếp hoặc đặt lên bàn trƣớc mặt họ để nhắc đến nó khi cần. Họ không bao giờ
bỏ danh thiếp vào túi áo vì hành động đó đƣợc coi là thiếu tôn trọng.

Nhật Bản thực hiện rất tốt khi tiếp dân là: Khi ngƣời dân đến các cơ quan nhà nƣớc, nhân
viên trách nhiệm phải đứng lên chào niềm nở, tƣơi cƣời, sau đó mời ngƣời dân ngồi. Chỉ
sau khi ngƣời dân ngồi, thì nhân viên nhà nƣớc Nhật mới đƣợc ngồi. Ngoài ra luôn luôn
có các nhân viên chỉ dẫn, để hƣớng dẫn ngƣời dẫn cần đến bàn làm việc nào, phòng nào,
thủ tục hành chính làm thế nào. Nhân viên hƣớng dẫn không đƣợc ngồi, phải luôn luôn
đứng, và phải chủ động chạy đến phía ngƣời dân, nếu thấy ngƣời dân có vẻ chƣa tìm
đƣợc nơi cần liên hệ công việc. Nhân viên trực tiếp làm việc với dân cũng là ngƣời
hƣớng dẫn tận tình cách làm thủ tục hành chính. Nét mặt niềm nở, tƣơi cƣời luôn thể hiện
trên nét mặt của nhân viên nhà nƣớc Nhật khi làm việc với dân.
* Ấn Độ
Ấn Độ đang thực hiện chiến dịch chống nạn đi làm trễ giờ trong giới công chức Ấn
Độ với tiêu đề Ấn Độ trị bệnh lười. Chiến dịch này khởi động từ Bộ Nội Vụ. Bộ trƣởng Bộ
này, ông Palaniappan Chidambaram cho biết, ông luôn luôn đi làm đúng giờ để nêu gƣơng
cho nhân viên dƣới quyền trong nỗ lực nâng cao hiệu quả làm việc của giới viên chức Nhà
nƣớc đang bị dƣ luận xã hội kêu ca là ăn lƣơng mà không làm tròn chức trách, luôn đi

GVHD: Võ Duy Nam

10

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

muộn về sớm, tác phong làm việc lề mề chậm chạp gây phiền hà cho dân, lãng phí thời
gian và tiền bạc của Nhà nƣớc.
Ở Ấn Độ ngƣời ta dùng máy quét để quản lý giờ làm việc của công chức. Ở ta
không có máy thì phải quản lý bằng các biện pháp giáo dục nâng cao ý thức tự giác của
mỗi ngƣời. Hiện nay, ta đang thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gƣơng về

GVHD: Võ Duy Nam

11

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

1.3. VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC THỰC HIỆN VĂN
HÓA CÔNG SỞ
1.3.1. Vai trò của văn hóa công sở
Văn hóa công sở đƣợc hiểu là những quy tắc, chuẩn mực ứng xử giữa ngƣời đại
diện cho cơ quan hành chính nhà nƣớc với công dân và giữa cán bộ công chức với nhau
nhằm phát huy tối đa năng lực để đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động công vụ. Khi văn
hóa công sở của cán bộ công chức đƣợc nâng cao thì văn hóa ứng xử của công dân đến
công sở cũng sẽ đƣợc nâng cao. Văn hóa công sở còn là một biểu hiện của một xã hội văn
minh, mọi hoạt động công vụ điều có nề nếp kỹ cƣơng; mỗi ngƣời công chức điều thấy rõ
trách nhiệm của mình và luôn tự nguyện làm tròn nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc
giao. Do vậy nếu xét về bản chất ta có thể hiểu văn hóa công sở xuất phát từ chính vai trò
của công sở trong đời sống xã hội và trong hoạt động của bản thân bộ máy hành chính.
Với xu thế phát triển nhƣ hiện nay văn hóa công sở ngày càng định vị đƣợc vai trò
của mình đối với sự phát triển của công sở thể hiện qua một số vai trò cơ bản nhƣ sau:
- Thứ nhất văn hóa công sở góp phần tạo nên nề nếp làm việc khoa học, có kỷ
cƣơng, dân chủ. Tạo đƣợc tính đoàn kết và chống lại bệnh quan liêu, cửa quyền. Môi
trƣờng văn hóa công sở tốt đẹp sẽ tạo đƣợc niềm tin của cán bộ, công chức với cơ quan,
với nhân dân góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công sở
- Thứ hai tính tự giác của cán bộ công chức trong công việc sẽ đƣa công sở này phát
triển vƣợt lên hơn so với công sở khác.
- Thứ ba văn hóa công sở cũng có sự kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những tính văn

hóa công sở nhằm các mục đích sau đây:
- Bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà
nƣớc: Mục đích của việc thực hiện văn hóa công sở nhằm bảo đảm tính trang nghiêm và
hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nƣớc, xây dựng phong cách ứng xử,
chuẩn mực của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ, hƣớng tới mục tiêu
xây dựng đội ngủ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ đƣợc giao.
- Phƣơng hƣớng hoạt động của công sở tạo nên gía trị cho nó: Công sở hoạt động vì
mục tiêu đặc thù mà không có tổ chức nào khác, đó là nhằm thực hiện chức năng quản lý
Nhà nƣớc và phục vụ lợi ích chung của xã hội, hƣớng tới phục vụ nhân dân, bảo vệ các
quyền lợi và nhu cầu chính đáng của nhân dân. Trong xu hƣớng chuyển từ nền hành chính
“cai trị” sang nền hành chính “phục vụ” cán bộ công chức là công bộc của dân và công
dân chính là “khách hàng” của Nhà nƣớc.
- Tạo sự chuyển biến về nhận thức trong cấp Ủy, Đảng, chính quyền các cấp, các
ngành từ trong cơ quan Nhà nƣớc đến ngoài xã hội, trong cán bộ Đảng viên, các tầng lớp
nhân dân về vai trò, vị trí của văn hóa nơi công sở và nhân tố con ngƣời đối với sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Phối hợp và đẩy mạnh phong trào quần chúng hiện có trong phong trào chung
“toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đồng thời lồng ghép nội dung văn hóa vào
phong trào hiện có của các bộ, ban, ngành, đoàn thể, cac địa phƣơng
- Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn có chọn lọc những
phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, loại bỏ dần những cái lỗi thời lạc hậu, hình thành
dần những tập quán mới, văn minh sống và làm việc theo pháp luật.
- Xây dựng và phấn đấu theo các chỉ tiêu, quy chế, quy tắc về nề nếp văn hóa. Huy
động nguồn lực của toàn xã hội tham gia các hoạt động sáng tạo và xây dựng đời sống văn
hóa, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa phát triển, nâng cao dần mức hƣởng thụ văn
hóa của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

GVHD: Võ Duy Nam


chế đó có sứ mệnh điều hành bộ máy chính là đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc. Đây là
lực lƣợng thực thi công vụ, họ trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, hay nói cách khác đây là
khu vực dịch vụ công. Nhƣ vậy, lúc này cán bộ, công chức với vai trò là ngƣời phục vụ
ngoài sự đòi hỏi về chuyên môn cần phải thể hiện thái độ lịch thiệp, nhã nhặn, tôn trọng
ngƣời đến liên hệ công việc. Do vậy, sự cần thiết phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công
chức là một yêu cầu cấp bách đặt ra song song với quá trình cải cách hành chính nhà nƣớc.
- Để tiến hành cải cách hành chính đòi hỏi phải có bộ máy hành chính chuyên
nghiệp, hiện đại với các thủ tục nhanh gọn, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức
trong bộ máy đó phải nhiệt tình, niềm nở, đảm bảo cả về đức và tài. Bởi vậy, việc xây
dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực để sẵn sàng nhận
và hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao đòi hỏi nhà nƣớc phải đƣa ra những chế tài cụ thể
nhằm điều chỉnh các quan hệ, thái độ của đội ngũ cán bộ, công chức trong khi thực thi

GVHD: Võ Duy Nam

14

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

công vụ. Qua đánh giá ở trên cho thấy thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức còn tồn tại và
bộc lộ những hạn chế về chất lƣợng và số lƣợng. Chẳng hạn, nhƣ vấn đề ngoại ngữ; khoa
học, công nghệ; văn hoá giao tiếp ứng xử, đặc biệt là thái độ phục vụ, ý thức trách nhiệm
và tự chịu trách nhiệm trong công việc.
- Nền hành chính do tính kế thừa, liên tục nhƣ cơ chế tồn tại nhiều năm nền kinh tế
tập chung, bao cấp đã đƣợc chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng nhƣng đến nay cơ chế này
vẫn âm ỉ trong hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nƣớc. Theo đó, tự do về ý
thức chấp hành giờ giấc làm việc, ứng xử và giao tiếp của một bộ phận cán bộ, công chức

15

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

- Để thực hiện tốt các nguyên tắc trên thì Đảng và Nhà nƣớc ta chủ trƣơng thực hiện
xây dựng đời sống văn hóa nơi công sở.

GVHD: Võ Duy Nam

16

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

CHƢƠNG 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
Là một bộ phận cấu thành trong hoạt động của bộ máy hành chính, công sở chỉ làm
tròn nhiệm vụ và chức năng của nó khi tạo dựng đƣợc mối quan hệ tốt giữa cán bộ, công
chức trong công việc, các chuẩn mực xử sự, các nghi thức tiếp xúc hành chính, các phƣơng
pháp giải quyết các bất đồng trong cơ quan, cách lãnh đạo, quản lý và ý thức chấp hành kỷ
luật trong và ngoài công sở của cán bộ, công chức. Tất cả những điều này thể hiện đƣợc vai
trò của nếp sống văn hóa trong công sở. Chính vì vậy để công sở hoạt động có hiểu quả và
ngày càng phát triển Nhà nƣớc đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện
văn hóa công sở. Trong các văn bản quy định về việc thực hiện văn hóa công sở, văn bản


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

Hiện nay Quốc huy đƣợc quy định Điều 142 chƣơng XI Hiến pháp nƣớc Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và Điều 13 chƣơng I Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. “…Quốc huy nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở
dƣới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…”.
Nhìn chung Quốc huy phải theo đúng hình dáng quy định còn về kích cỡ thì không
có quy định cụ thể. Điều này là hợp lý vì không phải công sở nào cũng có diện tích nhƣ
nhau. Kích cở của Quốc huy đƣợc treo nơi công sở phụ thuộc vào không gian nơi đó, tùy
thuộc vào cổng chính hoặc tòa nhà của cơ quan hành chính mà có Quốc huy phù hợp.
* Quốc kỳ
“Quốc kỳ đƣợc treo nơi trang trọng trƣớc công sở hoặc toà nhà chính. Quốc kỳ phải
đúng tiêu chuẩn về kích thƣớc, màu sắc đã đƣợc Hiến pháp quy định.Việc treo Quốc kỳ
trong các buổi lễ, đón tiếp khách nƣớc ngoài và lễ tang tuân theo quy định về nghi lễ nhà
nƣớc và đón tiếp khách nƣớc ngoài, tổ chức lễ tang”6
Tiêu chuẩn Quốc kỳ đƣợc quy định trong Điều 141 chƣơng XI Hiến pháp nƣớc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và Điều 13 chƣơng I Hiến pháp nƣớc
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “…Quốc kỳ nƣớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có
ngôi sao vàng năm cánh…”. Ngoài ra văn bản hƣớng dẫn Số: 3420 /HD-BVHTTDL ngày
02 tháng 10 năm 2012 của Bộ Văn hóa thể thao và du lịch cũng đã hƣớng dẫn cụ thể về
tiêu chuẩn của Quốc kỳ; việc treo Quốc kỳ trong các buổi lễ nhƣ sau:
- Tiêu chuẩn Quốc kỳ
Điểm giữa ngôi sao vàng đặt đúng điểm giữa (điểm giao nhau của hai đƣờng chéo)
Quốc kỳ. Khoảng cách từ điểm giữa ngôi sao đến đầu cánh sao bằng một phần năm chiều
dài của Quốc kỳ. Một cánh sao có trục vuông góc với cạnh dài Quốc kỳ và hƣớng thẳng lên
phía trên theo đầu cột treo Quốc kỳ. Tạo hình ngôi sao: từ đầu cánh sao này đến đầu cánh
sao đối diện là đƣờng thẳng, không phình ở giữa, cánh sao không bầu. Hai mặt của Quốc

về tiêu chuẩn của Quốc kỳ; việc treo Quốc kỳ trong các buổi lễ, đón tiếp khách nƣớc ngoài
và lễ tang. Điều này sẽ giúp cho việc treo Quốc kỳ tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc
đƣợc thống nhất.
2.1.2. Bài trí khuôn viên công sở
* Biển tên cơ quan
“Cơ quan phải có biển tên đƣợc đặt tại cổng chính, trên đó ghi rõ tên gọi đầy đủ
bằng tiếng Việt và địa chỉ của cơ quan”7.
Để thực hiện Quy chế văn hóa công sở về biển tên tại các cơ quan hành chính nhà
nƣớc, Bộ Nội vụ đã ban hành thông tƣ số 05/2008/TT-BNV ngày 07 tháng 08 năm 2008,
Thông tƣ hƣớng dẫn thống nhất cách thể hiện biển tên cơ quan của các cơ quan hành chính
nhà nƣớc nhƣ sau:
- Cách thể hiện biển tên cơ quan
Về tên gọi của cơ quan ghi trên biển tên của cơ quan:
+ Tên gọi của cơ quan hành chính nhà nƣớc ghi trên biển phải chính xác với tên cơ
quan quy định tại văn bản của cơ quan có thẩm quyền thành lập và đƣợc thể hiện bằng
tiếng Việt (chữ in hoa). Đối với các cơ quan nếu cần thể hiện tên gọi bằng tiếng Anh (chữ
in hoa), thì tên gọi bằng tiếng Anh đƣợc thực hiện theo hƣớng dẫn thống nhất của Bộ
Ngoại giao và bố trí ở phía dƣới tên gọi bằng tiếng Việt và cỡ chữ tiếng Anh có chiều cao
không lớn hơn 2/3 cỡ chữ tiếng Việt thể hiện trên biển tên cơ quan.
+ Về địa chỉ cơ quan: Địa chị cả cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc thể hiện trên
biển tên cơ quan bằng tiếng Việt (chữ in hoa), có cỡ chữ không lớn hơn 1/3 cỡ chữ của tên
cơ quan bằng tiếng Việt và đƣợc xác định trên cơ sở một số yếu tố sau:
7

Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc-Quyết định 129/2007 của Thủ tƣớng chính phủ

quyết định ban hành quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính Nhà nƣớc, điều 14, khoản 1

GVHD: Võ Duy Nam


Địa chỉ cơ quan bao gồm các yếu tố sau: số nhà, tên đƣờng phố, tên tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ƣơng và cách nhau bằng dấu phẩy (,).
+ Đối với các tổng cục, cục và tổ chức tƣơng đƣơng thuộc cơ cấu tổ chức của các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, có quan thuộc Chính phủ, có trụ sở riêng
Tên cơ quan chủ quản (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ): thể hiện
bằng tiếng Việt. Cỡ chữ của tên cơ quan chủ quản không lớn hơn 1/2 cỡ chữ của tên cơ
quan.
Tên của các tổng cục, cục và tổ chức tƣơng đƣơng thuộc cơ cấu tổ chức của các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: thể hiện bằng tiếng Việt và tên bằng tiếng
Anh (nếu có).

GVHD: Võ Duy Nam

20

SVTH: Phan Bích Liễu


Đề tài: Văn hóa công sở hành chính- Lý luận và thực tiễn

Địa chỉ cơ quan bao gồm các yếu tố sau: số nhà, tên đƣờng phố, tên tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ƣơng và cách nhau bằng dấu phẩy (,).
+ Đối với các cơ quan hành chính nhà nƣớc của Trung ƣơng đặt tại địa phƣơng
Tên cơ quan chủ quản (tên cơ quan hành chính nhà nƣớc của Trung ƣơng): thể
hiện bằng tiếng Việt. Cỡ chữ của tên cơ quan chủ quản không lớn hơn 1/2 cỡ chữ của tên
cơ quan.
Tên các cơ quan hành chính nhà nƣớc của Trung ƣơng đặt tại địa phƣơng: thể hiện
bằng tiếng Việt và tiếng Anh (nếu có).
Địa chỉ cơ quan bao gồm các yếu tố sau: số nhà, tên đƣờng phố, tên tỉnh hoặc
huyện hoặc xã và cách nhau bằng dấu phẩy (,).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status