Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2012 - 2015
Hệ đào tạo: chính quy

HO N THIỆN HỆ THỐNG PH P LUẬT
P ỨNG
U
C U Â DỰNG NH NƢ C PH P QU ỀN
H I
CHỦ NGH A VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Huỳnh Thị Sinh Hiền
Bộ môn: Luật Hành chính

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Hoàng Thanh Trúc
MSSV: S120095
Lớp: DT1263B1

Cần Thơ, tháng 11 năm 2014

1


NHẬN ÉT CỦA GIẢNG VI N HƢ NG DẪN
………………………………………………………………………………………

NHẬN ÉT CỦA GIẢNG VI N PHẢN BIỆN
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
2


…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………

1.1.3.4. Tính thống nhất ................................................................................................ 7
1.1.3.5. Tính ổn định và minh bạch............................................................................... 7
1.1.3.6. Trình độ kỹ thuật lập pháp ............................................................................... 8
1.2. Cơ sở lý luận về nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ............................................ 8
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của Nhà nƣớc pháp quyền .................................................. 8
1.2.1.1. Khái niệm Nhà nƣớc pháp quyền ..................................................................... 8
1.2.1.2. Đặc điểm cơ bản của Nhà nƣớc pháp quyền ..................................................... 9
1.2.2. Khái niệm và đặc trƣng cơ bản của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ......................................................................................................................................... 11
1.2.2.1. Khái niệm về Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam .................. 11
1.2.2.2. Những đặc trƣng cơ bản của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ......................................................................................................................................... 12

4


1.3. Mối quan hệ giữa hệ thống pháp luật và nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ................................................................................................................................ 13
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG – KIẾN NGHỊ HO N THIỆN HỆ THỐNG PH P LUẬT
P ỨNG
U C U Â DỰNG NH NƢ C PH P QU ỀN
H I CHỦ
NGH A VIỆT NAM .............................................................................................................. 16
2.1. Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay .................................................... 16
2.1.1. Thực trạng về tính toàn diện của hệ thống pháp luật .............................................. 16
2.1.2. Thực trạng về tính khả thi của hệ thống pháp luật .................................................. 19
2.1.3. Thực trạng về tính thống nhất của hệ thống pháp luật ............................................ 21
2.1.4. Thực trạng về tính ổn định của hệ thống pháp luật ................................................. 23
2.1.5. Thực trạng về tính minh bạch và trình độ kỹ thuật lập pháp .................................. 25
2.2. Kiến nghị ......................................................................................................................... 28

công cuộc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền. Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật là
một vấn đề có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng thành công nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Từ những vấn đề nêu trên tôi đã chọn đề tài “ Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để nghiên cứu cho luận văn
tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc phân tích thực trạng về tính toàn diện, tính khả thi, tính thống nhất, tính
ổn định, tính minh bạch và trình độ kỹ thuật lập pháp của hệ thống pháp luật để thấy đƣợc
những hạn chế, bất cập đang tồn tại của thực trạng này. Qua đó, đƣa ra những kiến nghị để
góp phần hoàn thiện thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền
XHCN Việt Nam hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu hạn chế nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận của
Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam và khái quát chung về hệ thống pháp luật, các tiêu
chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Đánh giá thực trạng và đƣa ra kiến
nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền
XHCN Việt Nam.
6


4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phƣơng pháp luận là quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh về xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam. Ngoài ra còn sử dụng
phƣơng pháp tổng hợp, phân tích tài liệu từ các nguồn nhƣ sách, báo, tạp chí và các trang
web tham khảo cũng nhƣ những bài báo cáo về hệ thống pháp luật, thực tiễn áp dụng,…
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài
gồm 2 chƣơng
Chƣơng 1: Khái quát chung về hệ thống pháp luật và Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ

nguồn luật nên hệ thống các văn bản pháp luật hay nguồn luật cũng chính là hệ thống pháp
luật thực định.
Vì vậy, khái niệm hệ thống pháp luật nêu trên đƣợc nhìn nhận ở khía cạnh của một hệ
thống pháp luật thành văn (chỉ chứa đựng những quy phạm pháp luật thành văn). Hay có thể
nói, hệ thống pháp luật theo định nghĩa này gần nhƣ đồng nghĩa với hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật của quốc gia.

1

Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, 2009, tr 401

8


1.1.2. Cấu thành của hệ thống pháp luật
Hệ thống là khái niệm đƣợc dùng để chỉ những chỉnh thể có cấu trúc thống nhất, đƣợc
tạo thành từ các thành tố có mối liên hệ chặt chẽ, có sự tác động qua lại với nhau và đƣợc tập
hợp theo những trình tự nhất định. Và hệ thống pháp luật đƣợc cấu thành từ 3 thành tố cơ
bản sau: ngành luật có tính chất loại, chế định pháp luật có tính chất nhóm, quy phạm pháp
luật có tính chất tế bào .
1.1.2.1. Quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung đƣợc Nhà nƣớc đặt ra hoặc thừa nhận
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo thực hiện kể cả bằng biện
pháp cƣỡng chế của Nhà nƣớc.
Về nguyên tắc thì quy phạm pháp luật đƣợc cấu thành từ 3 bộ phận là giả định, quy
định và chế tài.
Giả định là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên trong hoàn cảnh, điều kiện,
tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống và chủ thể nào rơi vào tình huống đó, điều kiện đó
cần phải xử sự theo yêu cầu của bộ phận quy định.
Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật, thông thƣờng quy định nêu lên cách xử

chỉnh là quan hệ tài sản, nhân thân và phƣơng pháp điều chỉnh là bình đẳng, thỏa thuận.
1.1.3. Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật đến đâu ngƣời ta thƣờng để
ra những tiêu chí cụ thể để đánh giá. Việc đánh giá qua các tiêu chí sẽ giúp nhận diện đƣợc
những mặt tích cực cũng nhƣ hạn chế của một hệ thống pháp luật để từ đó có giải pháp cụ
thể để xây dựng đƣợc một hệ thống pháp luật ngày một hoàn thiện và chất lƣợng hơn.
Có nhiều tiêu chí đƣợc đƣa ra song có thể đánh giá thông qua các tiêu chí cơ bản sau:
tính toàn diện, tính phù hợp, tính thống nhất, tính khả thi, tính ổn định, minh bạch và trình
độ kỹ thuật lập pháp
1.1.3.1. Tính toàn diện
Đây là tiêu chuẩn đầu tiên xác định mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Một hệ
thống pháp luật toàn diện phải có đủ các ngành luật để điều chỉnh các lĩnh vực nhất định
trong đời sống mà xã hội đang có nhu cầu cần đƣợc điều chỉnh. Tính toàn diện của hệ thống
pháp luật còn thể hiện ở các quy phạm pháp luật đƣợc đặt ra phải có khả năng bao trùm toàn
bộ đời sống xã hội, để các mối quan hệ trong xã hội có nhu cầu đƣợc điều chỉnh đều có pháp
luật điều chỉnh. Tính toàn diện của pháp luật đòi hỏi phải có đủ các chế định pháp luật thể
hiện thống nhất trong từng ngành luật tƣơng ứng đảm bảo pháp luật không có lỗ hỏng, đồng
10


thời trong từng chế định này phải có đầy đủ các quy phạm pháp luật cần thiết tránh tạo mảng
trống của pháp luật. Khi luật đƣợc ban hành cần phải chú trọng cả luật nội dung lẫn luật hình
thức để đảm bảo có sự thống nhất về trình tự và thủ tục trong giải quyết một vấn đề liên
quan phát sinh.
1.1.3.2. Tính phù hợp
Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nội dung của hệ thống pháp luật luôn
có sự tƣơng ứng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Pháp luật phải phản
ánh những nhu cầu cơ bản, điển hình của đời sống kinh tế - xã hội đƣợc thể hiện thông qua ý
chí của Nhà nƣớc và nhà làm luật. Pháp luật phải phù hợp với cách cƣ xử của xã hội trong
những thời điểm nhất định, sự phù hợp của các quy định pháp luật là điều kiện vô cùng quan

có chất lƣợng phải là pháp luật đƣa ra đƣợc phƣơng án tốt nhất với phƣơng pháp điều chỉnh
pháp luật phù hợp nhất để thông qua đó có thể đạt đƣợc mục đích mong muốn trong những
điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại.
1.1.3.4. Tính thống nhất
Sự thống nhất của hệ thống pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất
về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật. Tính thống nhất của
hệ thống pháp luật đƣợc thể hiện trong cả hệ thống cũng nhƣ trong từng bộ phận hợp thành
của hệ thống pháp luật ở các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa các ngành luật trong hệ thống
pháp luật; giữa các chế định pháp luật trong cùng một ngành luật; giữa các quy phạm pháp
luật trong một chế định pháp luật cũng phải thống nhất. Không có các hiện tƣợng trùng lặp,
chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận và trong các
bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật. Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật
đƣợc ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải bảo đảm
tính thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng.
1.1.3.5. Tính ổn định và tính minh bạch
Tính ổn định là một trong những “tiêu chí cơ bản để đánh giá khả năng đáp ứng nhu
cầu thực tiễn cũng nhƣ tính “dự liệu” của nhà lập pháp trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Nếu pháp luật phù hợp thực tế đời sống xã hội thì tính hiệu lực về thời gian sẽ lâu còn ngƣợc
lại hiệu lực về thời gian sẽ ngắn”2. Thay đổi pháp luật thƣờng xuyên sẽ làm đổi lộn các quan
hệ xã hội dẫn đến nhiều bất ổn “pháp luật thay đổi thƣờng xuyên thì tệ hơn là không có pháp
luật”3. Tuy nhiên, khi xã hội phát triển thì nhiều quan hệ xã hội mới cũng phát sinh vì vậy
việc thay đổi bổ sung bắt buộc phải diễn ra là đều cần thiết khi mà quy phạm pháp luật đó
không còn phù hợp nữa. Bên cạnh tính ổn định thì tính minh bạch cũng là một đòi hỏi rất
quan trọng. Có nhiều quan điểm cho rằng tính minh bạch của pháp luật thể hiện ở việc pháp
luật đƣợc công bố, đƣợc phổ biến rộng rãi trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, “tính
minh bạch của pháp luật còn thể hiện ở sự xác minh, tính hệ thống và nhất quán. Một hệ
2
3

Phan Trung Hiền, Lý luận về Nhà nước và pháp luật, Quyển 2, Nxb.Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011, tr74

và vận hành xã hội. Những ý tƣởng về Nhà nƣớc pháp quyền đã có từ lâu trong lịch sử nhân
loại và đƣợc nghiên cứu từ nhiều phƣơng diện khác nhau từ sử học, xã hội học, luật học,..
“Nhà nƣớc pháp quyền là trật tự xã hội mà ở đó Nhà nƣớc thực thi quyền lực của mình dựa
trên nền tảng pháp luật đƣợc ban hành theo thủ tục hiến định nhằm đảm bảo các quyền tự do
dân chủ của nhân dân và công lý”5.

4

Hà Hùng Cƣờng, Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, http://www.nclp.org.vn/nha nuoc va phap luat/ hoan-thien-he-thong-phap-luat-111ap-ung-yeucau-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn [ ngày truy cập 27/5/2014]
5
Bùi Nguyên Khánh, Xây dựng Nhà nước pháp quyền để phát huy quyền lực nhà nước, Tài liệu Hội thảo khoa học toàn
quốc tại Trƣờng Đại học Sài Gòn, ngày 24/11/2011.

13


Theo khái niệm này cho thấy Nhà nƣớc pháp quyền là trạng thái Nhà nƣớc chịu sự
kiểm soát và chế ngự của pháp luật trong mọi hoạt động của mình.
Nhà nƣớc pháp quyền không phải là một Nhà nƣớc cụ thể càng không thể là một kiểu
Nhà nƣớc. Nhà nƣớc pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển
dân chủ, một cách thức tổ chức Nhà nƣớc và xã hội trên nền tảng dân chủ. Mặc dù đây
không phải là một kiểu nhà nƣớc theo hình thái kinh tế xã hội nhƣng nhà nƣớc này cũng sẽ
không thể xuất hiện trong một nhà nƣớc phi dân chủ. Nhà nƣớc pháp quyền không những
đƣợc xây dựng ở chế độ tƣ bản mà còn đƣợc xây dựng ở chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nhà nƣớc pháp quyền là một hiện tƣợng chính trị pháp lý phức tạp đƣợc hiểu theo
nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta cũng có thể hiểu một cách đơn giản rằng đó là một
nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật và Nhà nƣớc hoạt động theo pháp luật.
Trong bài viết của Chủ tịch nƣớc Trần Đức Lƣơng đăng trên Tạp chí Cộng sản cũng
nêu lên nhận định “Nhà nƣớc pháp quyền không phải là một kiểu Nhà nƣớc trong hình thái

chức và hoạt động của Bộ máy nhà nƣớc. Tuy không phải mọi chế độ lập hiến, mọi hệ thống
pháp luật đều có thể xây dựng nhà nƣớc pháp quyền mà chỉ có hiến pháp và hệ thống pháp
luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nƣớc và xã
hội.
 Nhà nƣớc pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con ngƣời trong mọi
lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
Quyền con ngƣời là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nƣớc. Mọi hoạt
động của nhà nƣớc đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con ngƣời, tạo mọi
điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng quy định của pháp luật. Mô
hình quan hệ giữa nhà nƣớc và cá nhân đƣợc xác định theo nguyên tắc: đối với cơ quan nhà
nƣớc chỉ đƣợc làm những gì luật cho phép; với công dân thì đƣợc làm tất cả trừ những gì
pháp luật cấm.
 Quyền lực nhà nƣớc trong Nhà nƣớc pháp quyền đƣợc tổ chức và thực hiện theo
nguyên tắc dân chủ; phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực
Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nƣớc rất đa dạng, tùy thuộc
vào chính thể nhà nƣớc ở các nƣớc khác nhau, nhƣng đều có điểm chung là quyền lực nhà
nƣớc không thể tập trung vào một ngƣời, vào một cơ quan, mà phải đƣợc phân công giữa
các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tƣ
pháp. Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải đƣợc kiểm soát chặt chẽ với các cơ
chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nƣớc và bên ngoài bộ máy nhà
nƣớc.
 Nhà nƣớc pháp quyền gắn với cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp
Nền tảng của nhà nƣớc pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp luật dân chủ,
công bằng. Vì vậy, cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu một điều kiện
cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật luôn đƣợc tôn trọng, đề cao và tuân thủ
nghiêm minh. Hình thức và phƣơng thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật của mọi quốc gia rất
đa dạng và khác nhau, nhƣng mục tiêu cuối cùng đều là bảo đảm địa vị tối cao của Hiến
pháp và pháp luật, loại bỏ những hành vi trái với tinh thần chung của Hiến pháp. Đồng thời
15



16


1.2.2.2. Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bên cạnh những đặc điểm cơ bản của một Nhà nƣớc pháp quyền thì Nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có những đặc trƣng riêng phù hợp với thể chế chính
trị và nguyên tắc hoạt động của mình. Đó là:
 Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc
thực hiện quyền lực nhà nước
Trong Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam, quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện ba quyền: lập
pháp, hành pháp và tƣ pháp.
Một trong những nội dung cơ bản của nguyên tắc phân công và phối hợp quyền lực
Nhà nƣớc và của cải cách hành chính là sự phân công, phân cấp giữa trung ƣơng và địa
phƣơng. Sự phân công, phân cấp đó phải dựa trên cơ sở khuyến khích và nâng cao tính chủ
động của chính quyền địa phƣơng, kết hợp chặt chẽ với quản lý ngành và quản lý lãnh thổ,
thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong các tổ chức thực hiện quyền lực chính trị và quyền lực nhà nƣớc theo hƣớng xây
dựng nhà nƣớc pháp quyền thì dù ở chế độ xã hội nào việc xác lập và sử dụng các hình thức
và cơ chế giám sát luôn đƣợc đặt ra một cách tất yếu bởi vì Nhà nƣớc pháp quyền về thực
chất là để công khai hóa quyền lực, chống lạm dụng quyền lực.
Trên thực tế, các hình thức kiểm tra, giám sát của nhân dân đa dạng và linh hoạt hơn
nhiều so với những hình thức kiểm tra giám sát của Nhà nƣớc. Tùy thuộc vào điều kiện hoàn
cảnh mỗi quốc gia, mà các hình thức kiểm tra, giám sát của nhân dân sẽ đƣợc tổ chức phù hợ
 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo
Đây đƣợc xem là đặc trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “đặc trƣng

QU ỀN

NH

NƢ C PH P

H I CHỦ NGH A VIỆT NAM

Pháp luật và Nhà nƣớc là hai bộ phận của kiến trúc thƣợng tầng, luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Cả hai hiện tƣợng này đều chung nguồn gốc ra đời và phát triển. Trong
mối quan hệ này, Nhà nƣớc là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhƣng quyền lực
đó chỉ có thể đƣợc thực hiện và có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật; trong khi đó, pháp luật
là hệ thống những quy tắc xử sự do Nhà nƣớc ban hành và luôn phản ánh quan điểm, đƣờng
lối chính trị của lực lƣợng nắm quyền lực nhà nƣớc, bảo đảm cho quyền lực đó đƣợc thực
hiện trong xã hội. Với ý nghĩa đó, nhà nƣớc không thể tồn tại và phát huy quyền lực nếu
7

Nguyễn Văn Động, Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật, NXb. Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 156

18


thiếu pháp luật; ngƣợc lại, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở
sức mạnh của quyền lực nhà nƣớc. Vì thế, không thể nói pháp luật đứng trên nhà nƣớc hay
nhà nƣớc đứng trên pháp luật. Chính vì vậy, khi xem xét các vấn đề nhà nƣớc và pháp luật,
phải đặt chúng trong mối quan hệ qua lại với nhau. Mặt khác khi nghiên cứu mối quan hệ
này cũng cần nhận thức rõ rằng; pháp luật mặc dù do nhà nƣớc ban hành nhƣng khi đã đƣợc
công bố thì nó trở thành một hiện tƣợng có sức mạnh công khai bắt buộc đối với mọi chủ
thể, trong đó có cả nhà nƣớc. Nhà nƣớc nói chung và mọi cơ quan nói riêng đều phải tôn
trọng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Đồng thời, nhà nƣớc cũng không thể chủ quan

nhà nƣớc ở nƣớc ta hiện nay mà đặt biệt là trong quá trình xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền thì tôn trọng và đề cao
vai trò của pháp luật là tiêu chí tiêu biểu, là dấu hiệu đặt trƣng của mô hình Nhà nƣớc pháp
quyền. Đối với nƣớc ta hiện nay thì các quan hệ xã hội cơ bản cần phải đƣợc pháp luật điều
chỉnh, pháp luật giữ vị trí chi phối trong toàn xã hội, trong hoạt động thực hiện quyền lực
Nhà nƣớc và trong hành vi xử sự của công dân.
Từ những nội dung nêu trên đã đặt ra yêu cầu tất yếu phải có một hệ thống pháp luật
cần và đủ là cơ sở tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật xã hội. Pháp luật trong Nhà nƣớc
pháp quyền là pháp luật mang tính khách quan của các quy định pháp luật chứ không phải
nói đến nhu cầu đề ra pháp luật, áp dụng pháp luật một cách chung chung. Mà pháp luật
trong nhà nƣớc pháp quyền phải phản ánh đƣờng lối, chính sách chủ trƣơng của Đảng và nhà
nƣớc, lợi ích của nhân dân. Pháp luật phải thể chế hóa nhu cầu quản lý xã hội, là hình thức
tồn tại của các tổ chức xã hội và thiết chế nhà nƣớc. Pháp luật phải phù hợp với hiện thực
khách quan với tiến bộ của xã hội. Pháp luật là một công cụ quan trọng để quản lý nhà nƣớc,
pháp luật giúp mở rộng nhân quyền và pháp luật là cơ sở để phát huy dân chủ của nhân dân
chính vì thế mà pháp luật cần phải đƣợc hoàn thiện.

20


CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG – KIẾN NGHỊ HO N THIỆN HỆ THỐNG PH P
LUẬT
P ỨNG
U C U Â DỰNG NH NƢ C PH P QU ỀN
H I CHỦ NGH A VIỆT NAM

2.1. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PH P LUẬT VIỆT NAM HIỆN NA
2.1.1. Thực trạng về tính toàn diện của hệ thống pháp luật
Xét ở góc độ chung thì hệ thống pháp luật nƣớc ta khá toàn diện. Bởi hầu hết các quan

phải được thể hiện bằng luật chứ không thể bằng Nghị định của Chính phủ”. Nhiều lần đƣợc
nêu ra rồi lại tạm hoãn dẫn đến nhiều bức xúc trong xã hội. Biểu tình không phải là một
hành vi xấu nhƣng nếu biểu tình không đúng sẽ gây ra nhiều bất ổn cho xã hội mà nhất là
tình hình an ninh trật tự hơn nữa nó còn có thể tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội. Thực
tế cho thấy rằng vì không có Luật biểu tình nên xảy ra tình trạng biểu tình tự phát và gây ra
những cuộc bạo loạn đáng tiếc nhƣ các vụ biểu tình ở khu công nghiệp tỉnh Bình Dƣơng và
Vũng Áng vừa qua. Chính vì không có Luật quy định dẫn đến bọn xấu lợi dụng, kích động
ngƣời dân bạo loạn, gây ra tình trạng khó kiểm soát cho cơ quan quản lý.
Cũng giống nhƣ Luật biểu tình, Luật trƣng cầu dân ý đã đƣợc quy định từ khi nƣớc ta
có Hiến pháp đầu tiên “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan
hệ đến vận mệnh quốc gia”8 và “Những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra
nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba số nghị viên đồng ý”9. Quy định này tiếp tục đƣợc
quy định trong các Hiến pháp 1959, việc trƣng cầu ý dân đƣợc qui định trong Điều 53 do Ủy
ban thƣờng vụ Quốc hội quyết định, Hiến pháp 1980 qui định trong Điều 100 do Hội đồng
Nhà nƣớc quyết định, Hiến pháp 1992 qui định trong Điều 53 và Điều 84 do Quốc hội quyết
định, Hiến pháp 2013 quy định tại điều 29 và điều 120. Mặc dù hiến định đã rất lâu nhƣng
chƣa luật hóa, chƣa đƣa qui định này của Hiến pháp vào thực tiễn của đời sống chính trị
pháp lý dẫn đến hiện tƣợng pháp lý thiếu toàn diện làm cho hệ thống pháp luật nƣớc ta khó
hoàn thiện. Chúng ta biết rằng “trưng cầu ý dân là sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của đa số
nhân dân…. không ai phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân bằng chính bản thân nhân
dân”. Vì vậy mà dân chủ trực tiếp luôn có ƣu thế hơn so với dân chủ đại diện. Nhƣng hiện
tại lại cho kết quả ngƣợc lại khi mà Luật trƣng cầu dân ý chƣa đƣợc ban hành thì việc thực
hiện quyền lực trực tiếp của nhân dân ta hiện nay sẽ hạn chế hay dân chủ trực tiếp hạn chế
hơn so với dân chủ đại diện. Chính điều này đã góp phần giải thích vì sao nên ban hành Luật
trƣng cầu dân ý càng sớm càng tốt vì khi đó chúng ta sẽ thực hiên đƣợc nguyên tắc những gì
hiến định phải đƣợc cụ thể hóa bằng luật. Hơn nữa, nhân dân có thể sử dụng quy định của
luật này để phát huy quyền lực Nhà nƣớc của mình đối với những vấn đề cần có sự phúc
quyết của dân. Có nhƣ vậy mới thể hiện đƣợc rằng tất cả các chủ trƣơng, chính sách của
8
9

toàn diện hơn trong Nhà nƣớc pháp quyền.
Việc thiếu Luật biểu tình và Luật trƣng cầu dân ý cũng là một cản trở trong xây dựng
nhà nƣớc pháp quyền của nƣớc ta. Bởi chúng ta biết rằng, xây dựng nhà nƣớc pháp quyền
không thể tách rời với yêu cầu tiếp tục phát triển và tăng cƣờng dân chủ. Tuy nhiên, Luật
biểu tình và Luật trƣng cầu dân ý là một trong những hình thức biểu hiện quyền dân chủ trực
tiếp của công dân, thiếu luật tức là thiếu cơ chế phát huy tính dân chủ. Ở Việt Nam hiện nay,
yêu cầu phải có những đổi mới trong các hình thức dân chủ theo hƣớng phát huy dân chủ
trực tiếp. Luật trƣng cầu dân ý là phƣơng thức biểu hiện quyền dân chủ trực tiếp thiết thực
và hữu hiệu của nhân dân. Chính vì những lý do trên cần sớm ban hành Luật biểu tình và
10

Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013

23


Luật trƣng cầu dân ý, vì ngoài việc giúp cho hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ và toàn
diện mà còn góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
2.1.2. Thực trạng về tính khả thi của hệ thống pháp luật
Chúng ta biết rằng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một công việc
không hề đơn giản mà phải nói là vô cùng phức tạp và khó khăn. Chính vì ban hành một văn
bản quy phạm pháp luật đã khó thì việc ban hành đƣợc một quy phạm pháp luật phù hợp với
thực tế lại càng khó khăn hơn nữa. Nhƣng thực tế xã hội lại đang cần chính những văn bản
quy phạm pháp luật khả thi, phù hợp với thực tế của cuộc sống chứ không phải những văn
bản chỉ mang tính chất chung chung, hình thức. Yêu cầu này hoàn toàn hợp lý bởi chỉ những
văn bản quy phạm pháp luật khả thi mới đảm bảo cho những điều kiện vững chắc của cuộc
sống con ngƣời ngày càng gia tăng giá trị đích thực.
Tính không khả thi của hệ thống pháp luật hiện hành thể hiện ở những loại văn bản quy
phạm pháp luật chứa đựng những quy định không có tính khả thi, một số văn bản quy phạm

trong những hệ lụy đó là vấn nạn ô nhiệm môi trƣờng đang diễn ra ngày càng phức tạp ảnh
hƣởng vô cùng lớn đến xã hội đến cuộc sống của ngƣời dân. Nhiều con sông chết xuất hiện
bên cạnh những khu công nghiệp lớn làm cho hàng ngàn sinh vật trên các con sông này bị
tác động nghiêm trọng vì nguồn nƣớc bị ô nhiễm. Mặc dù vậy, hiện nay vẫn chƣa thấy một
sự việc nào bị đƣa ra xét xử hình sự về ô nhiễm môi trƣờng. Pháp luật nƣớc ta chỉ quy định
xử lý hính sự với chủ thể là cá nhân trong khi đối với pháp nhân thì vẫn chƣa quy định.
Nhiều quy định chỉ dựa vào mức độ nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng để ra mức
phạt nhƣng vẫn chƣa có cơ chế rõ ràng để xác định thế nào là nghiêm trọng và thế nào là đặc
biệt nghiêm trọng. Điều đó cho chúng ta thấy đƣợc rằng những quy định này không thể áp
dụng để xử lý, những quy định này không thể đi vào cuộc sống càng biểu hiện tính không
khả thi của quy định này rất cao. Liên quan đến vấn đề môi trƣờng Chính phủ đã ban hành
Nghị định 113/2010/NĐ-CP về xác định mức độ thiệt hại đối với môi trƣờng những trên
thực tế không ít cơ quan ở địa phƣơng vẫn không hề hay biết đến sự tồn tại của quy định này
hay nếu có biết cũng không biết phải triển khai các quy định này ra sao. Một quy định của
pháp luật đƣợc ban hành phải xác định đƣợc rằng vấn đề đƣợc điều chỉnh có cần thiết hay
không, quy định đó tác động thế nào đến xã hội, phải nhận thức rõ rằng pháp luật đƣợc ban
hành với mục đích quản lý xã hội chứ không phải ban hành để có. Gần đây Thông tƣ của Bộ
giáo dục đào tạo quy định việc cộng điểm cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi thi đại học.
Quy định trong thông tƣ đã cho thấy nhiều điểm không phù hợp cũng nhƣ thiếu khả thi khi
áp dụng bởi trên thực tế chƣa có trƣờng hợp nào thuộc đối tƣợng điều chỉnh tham gia thi đại
học, hơn nữa với độ tuổi tham gia thi đại học và độ tuổi của các mẹ Việt Nam anh hùng hoạt

11

khoản 2 Điều 5 Thông tƣ 33/2012/TT-BNNPTNT quy định điều kiện vệ sinh, bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các
cơ sở kinh doanh thịt và phụ phẩm động vật ở dạng tƣơi sống dùng làm thực phẩm

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status