Tổng quan về chương trình tổng thể cải cách hành chính - Pdf 30

I. Lời Nói Đầu
Vấn đề cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách hệ thống hành chính Nhà nước từ
Trung ương đến địa phương đã trở thành một vấn đề hết sức cấp bách và trọng
yếu của đất nước trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh
đạo, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm.
Trong nhiều năm nay, để tăng cường năng lực quản lý của nhà nước trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế
quốc tế, Đảng ta chủ trương cải cách hành chính một cách mạnh mẽ, toàn
diện.Cải cách hành chính nhằm góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch,
vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở đó làm cho bộ máy nhà nước
thực hiện tốt nhiệm vụ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và tổ chức tốt
việc điều hành, quản lý đất nước thông suốt, tạo điều kiện cho nền kinh tế nhiều
thành phần phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, củng cố quốc phòng, an
ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Đây là việc làm không đơn giản, đòi hỏi trong quá trình cải cách hành chính phải
tính toán kỹ lưỡng, lựa chọn chính xác tập trung giải quyết từng bước các vấn đề
để tạo sự chuyển biến vững chắc theo chiều sâu.
Với Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-
2010, lần đầu tiên trong quá trình cải cách, Chính phủ có một chương trình có
tính chiến lược, dài hạn, xác định rõ 4 lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải
cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức và cải cách tài chính công, định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách và xác
định các giải pháp thực hiện nhằm bảo đảm thắng lợi công cuộc cải cách.
Chương trình tổng thể sẽ là công cụ quan trọng để Chính phủ chỉ đạo các bộ,
ngành Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh cải cách hành
chính.
II) tổng quan về chương trình tổng thể cảI cách hành chính
1.nội dung của cảI cách hành chính
a) cải cách thể chế hành chính
Những năm qua, Chính phủ tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện thể
chế phục vụ trực tiếp cho cải cách hành chính. Chú trọng xây dựng luật, pháp

công chức các cấp.
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi
trách nhiệm của Chính phủ bước đầu được đổi mới, góp phần hoàn thiện hệ
thống thể chế của nước ta. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội
đồng nhân dân, ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua năm 2004 đã tạo cơ
sở pháp lý cho việc đưa công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các
cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương vào nền nếp, khắc phục tình trạng
tùy tiện trong ban hành văn bản.
Các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực xây dựng, hộ tịch, hộ khẩu, đầu tư,
đăng ký doanh nghiệp, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu... đã được rà
soát, loại bỏ những thủ tục phức tạp, gây phiền hà, từng bước công khai hóa các
quy định, thủ tục cần thiết, phù hợp với tình hình mới.
Tuy nhiên, vấn đề này vẫn bộc lộ các hạn chế sau.
Số lượng văn bản được ban hành nhiều, nhưng còn thiếu tính toàn diện,
đồng bộ. Tính cục bộ ngành, lĩnh vực theo phương thức truyền thống giao cho
bộ chủ trì xây dựng luật chậm được khắc phục. Tình trạng có luật, nhưng chưa
thi hành được ngay vì còn thiếu nghị định, thiếu thông tư hướng dẫn vẫn còn
khá phổ biến.
2
Một số thể chế cơ bản về hoạt động công vụ, về trách nhiệm thực thi công vụ
của từng cơ quan hành chính, chức trách của từng vị trí cán bộ, công chức chưa
đủ rõ và cụ thể. Đặc biệt thiếu những quy định pháp lý cụ thể về trách nhiệm của
người đứng đầu các cơ quan hành chính, của từng cán bộ, công chức trong thực
thi công vụ. Thủ tục hành chính được cải cách từ nhiều năm nay, nhưng nhìn
chung vẫn phức tạp, phiền hà cho người dân, cho doanh nghiệp. Việc tổ chức
thực hiện thể chế còn nhiều yếu kém, chưa tiến hành tổng kết, sửa đổi, bổ sung
kịp thời.
b)cải cách tổ chức bộ máy hành chính
Quá trình xây dựng và ban hành đầy đủ các nghị định về chức năng, nhiệm
vụ, cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành trung ương đã mang lại kết quả quan trọng,

Thời gian qua, công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức tiếp tục được cải
cách theo hướng xác định rõ ràng hơn về phân công và phân cấp. Đã có sự phân
định khá rõ về trách nhiệm, thẩm quyền quản lý đội ngũ cán bộ, công chức hành
chính của Thủ tướng Chính phủ, của các bộ và chính quyền địa phương. Thẩm
quyền và trách nhiệm trong bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,
công chức cũng được xác định khá rõ nét cho người đứng đầu các cơ quan hành
chính và thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công.
Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã tiếp tục phân loại rõ hơn
đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị: cán bộ qua bầu cử, công
chức hành chính, viên chức sự nghiệp, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo trong doanh
nghiệp nhà nước, cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã. Tiến hành rà soát,
đánh giá lại hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức hiện có, kịp thời điều
chỉnh, ban hành mới một số chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công
chức, viên chức. Bước đầu có sự phân biệt đối với công chức hành chính bắt
buộc qua thi tuyển, còn viên chức sự nghiệp được áp dụng cả hai hình thức là thi
tuyển và xét tuyển theo chế độ hợp đồng. Nội dung chương trình đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức đã được đổi mới theo hướng phù hợp với các đối
tượng. Phân công giữa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các bộ,
ngành trung ương tập trung vào bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch
cán sự, chuyên viên. Các trường của tỉnh, ngoài đối tượng là cán sự, chuyên
viên, còn bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức cấp xã,
cho đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp xã. Chính sách tiền lương, chế
độ bảo hiểm xã hội đã có những cải cách bước đầu, góp phần ổn định cuộc sống
của cán bộ, công chức.
Tuy nhiên, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện mới. Một bộ phận không nhỏ suy
thoái về phẩm chất đạo đức lối sống, tham nhũng, cửa quyền, thiếu ý thức trách
nhiệm và tinh thần phục vụ nhân dân.
Những giải pháp mang tính đổi mới, theo hướng hiện đại hóa công tác quản
lý cán bộ, công chức chậm được triển khai, dẫn đến các cơ quan hành chính vẫn

lý và sử dụng nguồn tài chính công. Phát triển và mở rộng các hoạt động dịch
vụ, chủ động huy động các nguồn lực, nguồn vốn và cơ sở vật chất để tổ chức
các hoạt động sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, nâng cao chất lượng hoạt
động sự nghiệp tăng thu nhập cho người lao động.
2. Kết quả và hạn chế của cải cách hành chính tại Việt Nam trong thời gian
qua
Công cuộc phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng XHCN
gắn liền với sự thay đổi căn bản vai trò của Nhà nước và phương thức hoạt động
của nền hành chính quốc gia. Có thể nói rằng, cải cách hành chính (CCHC) là
tiền đề và động lực thúc đẩy cải cách phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm
thực hiện, CCHC tại Việt Nam đã thu được những kết quả đáng khích lệ: Hệ
thống thể chế trong đó chủ yếu là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
và thể chế về tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà nước đã từng bước
hình thành và hoàn thiện theo hướng đồng bộ hơn, phù hợp với nền kinh tế thị
trường và thông lệ quốc tế. Hệ thống thủ tục hành chính từng bước được cải
cách theo hướng đơn giản hoá, công khai hoá, nâng cao hiệu quả giải quyết công
việc của các cơ quan công quyền nhà nước trong quan hệ với nhân dân và doanh
nghiệp. Vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước đã được thay đổi căn bản từ
chỗ chủ yếu sử dụng mệnh lệnh hành chính với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp
lệnh chi tiết từ trên xuống dưới trong quản lý kinh tế sang xây dựng hệ thống thị
trường có tính cạnh tranh. Tổ chức bộ máy của Nhà nước đã được cải cách theo
hướng tinh giản hơn; việc phân cấp giữa các yếu tố, phân hệ trong bộ máy quản
lý Nhà nước cũng từng bước được cải thiện, tạo điều kiện cho mỗi cấp, mỗi tổ
5
chức trong hệ thống đề cao quyền hạn, trách nhiệm đồng thời phát huy tính năng
động, sáng tạo trong công việc. Đội ngũ công chức Nhà nước đã được quan tâm
xây dựng, bồi dưỡng về năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục
vụ nhân dân... Những cải cách trên đây đã góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế
mạnh mẽ trong thời gian qua, đồng thời làm cho bộ máy Nhà nước trở nên gần
dân hơn, khắc phục nhiều bất cập vốn có trong thời cơ chế kế hoạch hóa tập

được xây dựng và hoàn thiện. Đây là kết quả nổi bật trong cải cách, thể hiện tính
nhất quán trong việc hoạch định thể chế, chính sách cải cách, đổi mới của Nhà
nước ta. Chúng ta đã tập trung chỉ đạo xây dựng thể chế, chính sách, tạo lập môi
trường pháp lý và hoàn thiện khuôn khổ thể chế cho cơ chế quản lý mới trên các
mặt đời sống kinh tế - xã hội.
6
Trước hết, thể chế quản lý nhà nước tiếp tục được điều chỉnh phù hợp với
yêu cầu đổi mới trong điều kiện chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Công tác xây dựng thể chế,
luật, pháp lệnh, nghị định đã bám sát hơn yêu cầu thực tiễn, phục vụ tốt cho việc
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quy trình xây dựng, soạn thảo văn
bản pháp luật từng bước được đổi mới nhằm nâng cao chất lượng văn bản; bảo
đảm quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, tính thống nhất trong hệ thống
thể chế, nâng cao tính khả thi và tính kịp thời. Chính phủ đã ban hành và trình
Quốc hội ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, tạo hành lang
pháp lý cho hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các
cấp. Thể chế việc phân biệt quản lý nhà nước với hoạt động của đơn vị sự
nghiệp, dịch vụ công, phân cấp trung ương - địa phương, thúc đẩy xã hội hóa
được chú trọng. Việc ban hành và thực hiện Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,
Luật Đấu thầu, Luật Kinh doanh bất động sản... và các văn bản hướng dẫn thi
hành đã góp phần tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường,
trong đó quan trọng là thị trường tài chính, thị trường bất động sản.
Mặt khác, đã xác lập về cơ bản các cơ chế tổ chức và hoạt động cho các loại
hình tổ chức trong khu vực công. Đây là bước đi nhằm cụ thể hóa Nghị quyết
Đại hội X của Đảng, về phân biệt và tách rõ hoạt động quản lý nhà nước với
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, với hoạt động sự nghiệp dịch
vụ công. Công việc này đã được triển khai trong các năm 2004, 2005. Các thể
chế được ban hành trong năm 2006, về cơ bản đã được xác lập:
Cơ chế tổ chức và hoạt động cho các cơ quan hành chính nhà nước, được quy
định chủ yếu tại Quy chế làm việc của Chính phủ, của các bộ, ngành trung ương

với chất lượng tốt hơn cơ chế "một cửa", nâng cao trách nhiệm người đứng đầu
cơ quan hành chính, bằng các việc làm cụ thể ở các bộ, ngành và chính quyền
địa phương các cấp đã khẳng định có sự chuyển biến bước đầu trong mối quan
hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với dân, doanh nghiệp. Các bộ, ngành và
các tỉnh, thành phố đã nghiêm túc tổ chức thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ về việc tiếp nhận, xử lý kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về
thủ tục hành chính. Bước đầu đã có hàng trăm kiến nghị, phản ánh được tiếp
nhận, xử lý thông qua trang tin điện tử của Chính phủ. Các tổ công tác do các
bộ, địa phương lập ra đã có những hoạt động mang lại một số kết quả tích cực.
Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã tiến hành sơ kết 3
năm thực hiện cơ chế "một cửa" ở địa phương. Đến nay, về cơ bản, 4 sở bắt
buộc ở các tỉnh, thành phố đã phải thực hiện là kế hoạch và đầu tư, tài nguyên và
môi trường, lao động - thương binh và xã hội, xây dựng, 59% số sở khác thực
hiện mở rộng, 98% đơn vị cấp huyện và 89% đơn vị cấp xã trong cả nước đã
triển khai cơ chế "một cửa". Bên cạnh việc triển khai mô hình "một cửa" ở cả 3
cấp tỉnh, huyện, xã, một số tỉnh, thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ, Trà Vinh, đã thí điểm thực hiện cơ chế "một cửa"
liên thông giữa các cơ quan hành chính cùng cấp và liên thông giữa các cơ quan
cấp xã, huyện, tỉnh nhằm giảm thiểu khó khăn cho dân, doanh nghiệp trong giải
quyết công việc. Có thể nói, đây là những bước đột phá trong cải cách hành
chính nhà nước. Từ thực tiễn triển khai cải cách hành chính những năm gần đây,
nhất là những nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành dưới sự chỉ đạo kiên quyết
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã mang lại những kết quả tích cực, góp
phần vào hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hoàn
thiện hệ thống thể chế, tạo bước chuyển biến, nâng cao chất lượng và hiệu quả
hoạt động của các cơ quan hành chính. Người dân, doanh nghiệp được tạo thuận
lợi hơn trong việc tiếp xúc, giải quyết công việc với cơ quan hành chính. Tính
minh bạch, công khai của nền hành chính được nâng lên một bước. Tuy nhiên,
cải cách vẫn chưa được quán triệt trong cả đội ngũ cán bộ, công chức. Những
tồn tại, yếu kém trong xây dựng thể chế, việc chậm chễ trong thực thi các luật đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status