TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011-2015
Đề tài:
TỘI KINH DOANH TRÁI PHÉP TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Văn Tròn
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Huyền Linh
MSSV: 5115811
Lớp: Tư pháp 1 – K37
Cần Thơ 12/2014
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm của mình, em xin tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu
sắc tới thầy Nguyễn Văn Tròn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em
trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Luật –
Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình chỉ dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho
em trong quá trình học tập và viết khoá luận tốt nghiệp.
Em còn xin chân thành cảm ơn những người thân yêu trong gia đình,
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày… tháng… năm…
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tình thế cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 1
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 2
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................. 2
5. Kết cấu của đề tài ........................................................................................................... 2
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI KINH DOANH TRÁI PHÉP .............. 3
1.1 Vài nét về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ....................................................... 3
1.1.1 Khái niệm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ................................................. 3
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý chung của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ............ 5
1.1.3.1 Mặt khách thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ....................... 5
1.1.3.2 Mặt khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế .................... 5
1.1.3.3 Mặt chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ........................... 8
1.1.3.4 Mặt chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ........................ 8
2.3 Một số trƣờng hợp cụ thể của tội kinh doanh trái phép ........................................ 40
2.3.1 Phạm tội kinh doanh trái phép quy định tại khoản 1 Điều 159 BLHS ........... 40
2.3.2 Phạm tội kinh doanh trái phép quy định tại khoản 2 Điều 159 BLHS ........... 41
2.4 Hình phạt đƣợc áp dụng đối với tội kinh doanh trái phép .................................... 43
2.4.1 Hình phạt tiền ..................................................................................................... 43
2.4.2 Hình phạt cải tạo không giam giữ ..................................................................... 45
2.4.3 Hình phạt tù có thời hạn .................................................................................... 47
2.5 So sánh tội kinh doanh trái phép với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
khác .................................................................................................................................. 48
2.5.1 So sánh với tội buôn lậu (Điều 153) ................................................................. 49
2.5.2 So sánh với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (Điều 155)
...................................................................................................................................... 51
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI
KINH DOANH TRÁI PHÉP ......................................................................................... 54
3.1 Thực trạng tội kinh doanh trái phép trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam ........ 54
3.2 Những bất cập trong đấu tranh phòng chống tội kinh doanh trái phép .............. 59
3.2.1 Bất cập trong công tác quản lý của cơ quan đăng ký kinh doanh ................... 59
3.2.2 Bất cập từ trong việc áp dụng quy định của pháp luật hình sự ....................... 61
3.2.3 Bất cập trong quá trình phát hiện, xử lý vi phạm, tội phạm ............................ 63
3.2.4 Bất cập trong công tác phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật .................. 64
3.3 Những giải pháp trong đấu tranh phòng chống tội kinh doanh trái phép ........... 65
3.3.1 Các giải pháp trong công tác quản lý của cơ quan đăng ký kinh doanh ........ 65
3.3.2 Các giải pháp về quy định của pháp luật và kiến nghị hoàn thiện .................. 67
3.3.3 Các giải pháp về phát hiện, xử lý vi phạm, tội phạm ........................................ 71
3.3.4 Các giải pháp về phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật ............................ 73
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
doanh trái phép theo Bộ luật hình sự năm 1999, từ đó đối chiếu quy định pháp luật với
thực tiễn xét xử để tìm ra những bất cập, vướng mắc, qua đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử của tội kinh doanh trái phép.
Nhiệm vụ của đề tài là khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về tội kinh
doanh trái phép, nghiên cứu quy định của Điều 159 Bộ luật hình sự năm 1999, tìm
hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự để thấy những tiến bộ, hạn
chế cần khắc phục, sửa chữa từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử đối với tội kinh doanh trái phép.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 1
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, thực tiễn đối với tội
kinh doanh trái phép ở Việt Nam hiện nay và định hướng về tổ chức cuộc đấu tranh
của toàn xã hội với hiện tượng tội phạm nói chung và tội kinh doanh trái phép nói
riêng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu tội kinh doanh trái phép
được quy định tại Điều 159 Bộ luật hình sự hiện hành về những nội dung trong phạm
vi về lịch sử hình thành, cấu thành tội phạm, về bản chất, hành vi phạm tội. Đồng thời,
luận văn cũng đi sâu nghiên cứu tình hình thực tiễn, những quy định pháp luật hình sự
đối với tội kinh doanh trái phép nhằm làm rõ các dấu hiệu pháp lý để từ đó có thể đưa
ra những biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm phù hợp với tình hình đất nước
hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư
song song những mặt tiêu cực, đó là sự xuất hiện của hàng loạt những tội phạm kinh tế
mới hoặc những tội phạm kinh tế cũ nhưng mức độ nguy hiểm và hành vi tinh vi hơn
nhiều trong đó có tội kinh doanh trái phép.
Tội kinh doanh trái phép là một trong những tội danh được quy định tại Chương
XVI Bộ luật hình sự hiện hành, nằm trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Trước khi nghiên cứu các vấn đề về tội kinh doanh trái phép, người viết tiến hành nghiên
cứu khái quát chung những nội dung của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
1.1 Vài nét về tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
1.1.1 Khái niệm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Với bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân” nên trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Nhà nước luôn chú
trọng, chăm lo đến đời sống của nhân dân. Chính vì lẽ đó, mà Nhà nước luôn ra sức
phát triển kinh tế và xem kinh tế là một trong những ngành chủ chốt trong sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước, bởi Nhà nước hiểu rằng kinh tế phát triển thì đất nước
mới phát triển mà đất nước phát triển thì đời sống nhân dân mới được ấm no, hành
phúc. Vì vậy, Nhà nước luôn có những chủ trương, chính sách thúc đẩy nền kinh tế
phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc
tế, nền kinh tế phát triển theo hướng kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa
thì đời sống nhân dân dần được cải thiện, chất lượng cuộc sống ngày càng cao. Tuy
nhiên, trong giai đoạn này thì hoạt động kinh tế lại diễn ra ngày càng phức tạp, nhiều
tội phạm mới về kinh tế dần xuất hiện làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của
Nhà nước. Chính vì vậy, trong từng giai đoạn phát triển, Nhà nước luôn phải có những
chính sách định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế phù hợp với khả năng và điều
kiện của quốc gia mình, cũng như để phù hợp với xu thế chung của thế giới thì năm
2009 Bộ luật hình sự năm 1999 tiếp tục được sửa đổi, bổ sung với 24 chương gồm 344
điều. Trong đó, Chương XVI quy định nhóm “tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế”
với 29 điều luật (từ Điều 153 đến Điều 181) gồm 40 tội danh xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế. Vậy “tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là như thế nào” Trước tiên ta cần
phải hiểu khái niệm “Trật tự quản lý kinh tế”.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
“Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm
hại đến nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, của các tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua hành vi
vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế”.3
Từ đó cho thấy các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế nước nhà, nó không chỉ xâm hại đến nền kinh tế quốc dân mà nó còn xâm
hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, làm xấu đi môi
1
Đào tạo giám đốc (Joy), Quản lý là gì? Sự thống nhất hoàn hảo giữa lý luận và thực tiễn,
[01/08/2014].
2
Phạm Văn Beo, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần riêng), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009,
tr. 267.
3
Phạm Văn Beo, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần riêng), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009,
tr. 267-268.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 4
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
Hành vi của các tội phạm này là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thể hiện ở
các hành vi cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế ở các mức độ
khác nhau với mục đích vụ lợi. Hành vi phạm tội được thể hiện ở hình thức hành động,
biểu hiện thường gặp là làm trái, làm sai, vi phạm các quy định bắt buộc của Nhà nước
trong quản lý kinh tế như: Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ;
4
Nguyễn Mai Bộ, Pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005,
tr. 28
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 5
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Tội vi phạm các quy định về
quản lý đất đai...ngoài ra, hành vi phạm tội còn được thể hiện ở hình thức không hành
động, biểu hiện thường gặp không thực hiện các quy định của Nhà nước như: tội trốn
thuế.
b. Các dấu hiệu khác
Ngoài hành vi nguy hiểm cho xã hội, thì đa số các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế còn phải có dấu hiệu bắt buộc khác để thõa các yếu tố cấu thành tội phạm như
dấu hiệu:
- Gây ra hậu quả nghiêm trọng
Những hành vi phạm tội đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho nền kinh tế
quốc dân hoặc cho từng ngành nghề, lĩnh vực kinh tế nhất định dẫn đến hậu quả
nghiêm trọng.5
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
e) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ một trăm năm
mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
g) Thu lợi bất chính lớn;
h) Gây hậu quả rất nghiêm trọng”.
- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; đã bị xử lý kỷ luật về
hành vi này mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội đó hoặc một số tội khác cùng nhóm tội
và chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
+ Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
Ví dụ: Tội kinh doanh trái phép được quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 159 Bộ
luật hình sự hiện hành
“Người nào kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng
với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp
pháp luật quy định phải có giấy phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị
phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam
giữ đến hai năm:
a) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về
một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 160, 161, 164,
193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích
mà còn vi phạm;
b) Hàng phạm pháp có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng”.
+ Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm
Ví dụ: Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai được quy định tại Điểm a,
Khoản1, Điều 174 Bộ luật hình sự hiện hành
“1. Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho
thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái
pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ
trường hợp nhất định, đối với những tội phạm cụ thể cần phải có những dấu hiệu đặc
trưng khác như: dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn; các dấu hiệu liên quan
đến nghề nghiệp, công việc; các dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ….mới trở thành chủ
thể của tội phạm. Những chủ thể đòi hỏi phải có những dấu hiệu đặc biệt như vậy ta
gọi là chủ thể đặc biệt.
Với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cũng vậy, chủ thể của các tội phạm
này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật
định. Trừ trường hợp các chủ thể trong các tội quy định tại các Điều 165, 170, 176,
178, 179 BLHS hiện hành bắt buộc phải là chủ thể đặc biệt.
1.1.2.4 Mặt chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Như ta đã biết, dấu hiệu “lỗi” là dấu hiệu đặc trưng trong mặt chủ quan của tội
phạm, không chỉ của tội phạm nói chung mà còn của tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế nói riêng. Chính vì vậy, khi nhắc đến mặt chủ quan của tội phạm thì ta liên tưởng
ngay đến dấu hiệu lỗi. Lỗi là một trong những dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội
phạm. Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của mỗi người đối với hành vi nguy hiểm cho xã
hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.6 Và lỗi trong Bộ luật hình sự
Việt Nam hiện hành được các nhà làm luật chia ra làm bốn loại dựa vào tiêu chí là mối
quan hệ giữa lý trí và ý chí thì ta có: Lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì
quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả. Riêng đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
thì lỗi được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Tức là, khi
thực hiện hành vi, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho
6
Phạm Văn Beo, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009,
tr. 210-211
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 8
dụng các kẻ hở trong việc kiểm soát các hoạt động kinh tế để che dấu hành vi ph ạm tội
hoă ̣c có hành vi câu kế t , lôi kéo, mua chuô ̣c đối với người có chức vu ̣ quyề n ha ̣n tham
gia thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m hoă ̣c che giấ u tô ̣i pha ̣m.
Thứ ba, đối với các tội buôn lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả; trốn thuế…người
phạm tội thường có quan hệ với những người có trách nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp
quản lý kinh tế, quản lý các giá trị vật chất; hoạch định chính sách kinh tế, xã hội
nhằm “ nuôi dưỡng” sự tồn tại và phát triển của các tội phạm này. Vì vậy, trên thực tế,
bên cạnh và đồng thời sau các vụ buôn lậu, buôn bán hàng cấm, kinh doanh trái phép,
trốn thuế đều có tham nhũng…và ngược lại.7
7
Phạm Văn Beo, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần riêng), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009,
tr. 268.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 9
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
1.1.3.2 Đặc điểm về thủ đoạn hoạt động
Thủ đoạn hoạt động của các đối tượng phạm tội về trật tự quản lý kinh tế cũng rất
đa da ṇ g, phức ta ̣p, nhiề u vu ̣ gắ n với đă ̣c điể m tin
̀ h hin
̀ h phát triể n của xã hô ̣i ở từng
giai đoa ̣n cu ̣ thể . Qua thực tế thủ đoa ̣n đươ ̣c biể u hiê ̣n phổ biế n như sau:
thuộc về mặt hành chính, cũng có thể rất trừu tượng không có ranh giới về địa lý. Địa
bàn cũng là một phạm vi về không gian của các tổ chức quản lý, kinh doanh như các
ngành ngân hàng , tài chính, thuế, quản lý thị trường, công ty tài chính, chứng khoán.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 10
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
Địa bàn trọng điểm về kinh tế là một khu vực tập trung nhiều hàng hóa, các giá
trị vật chất của Nhà nước, của tập thể và của tư nhân hoặc là nơi thuận lợi tạo “nguồn
hàng”, “vận chuyển tập kết hàng” cũng là nơi bọn tội phạm tập trung hoạt động. Ngoài
địa bàn trọng điểm về kinh tế thì bên cạnh đó còn có địa bàn kinh tế ngoài xã hội. Điạ
bàn kinh tế ngoài xã hội là các khu vực diễn ra các hoạt
động kinh doanh dưới da ̣ng
không thành lâ ̣p các doanh n ghiê ̣p chỉ kinh doanh nhỏ , loại địa bàn này cũng có có
điề u kiê ̣n để các đối tượng thực hiện tội phạm.
* Ngành hàng trọng điểm
Dưới góc độ kinh tế, ngành hàng là tập hợp từ những luồng hàng và những mạch
hàng cùng chủng loại, cùng tính chất trong hoạt động sản xuất, kinh doanh với các tác
nhân nhất định.
Ngành hàng trọng điểm là ngành hàng có tính chiến lược , đóng góp qu an tro ̣ng
cho sự phát triể n của nền kinh tế quốc dân , cung cấ p các sản phẩ m th iết yếu cho đời
số ng xã hội. Vì vậy, hành vi phạm tội trong ngành hàng này có thể sẽ ảnh hưởng rất
nhiều đến nề n kinh tế quố c dân. Đặc biệt, trong các quan hê ̣ kinh tế của ngành hàng đó
luôn tồ n ta ̣i nhiề u yế u tố phức ta ̣p , cho nên, những sơ hở, thiế u sót trong công tác quản
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 11
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
kinh doanh ngoài nội dung “tồ chức buôn bán” có thêm nội dung “tổ chức việc sản
xuất”.
Còn theo Từ điển bách khoa toàn thư 2 thì khái niệm kinh doanh lại được hiểu
khá rộng: “Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền
kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ
thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình
đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ...) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị
cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất”.10 Theo nội dung
của khái niệm này thì kinh doanh không chỉ là việc “tổ chức việc sản xuất, buôn bán
sao cho sinh lời” mà bao gồm cả quả trình “đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch
vụ… nhằm mục tiêu vốn sinh lời cao nhất”. Kế thừa có chọn lọc cách hiểu này, tại
Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì khái niệm kinh
doanh được quy định như sau:“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Như vậy, theo nội dung khái niệm kinh doanh của Luật doanh nghiệp thì kinh
doanh bao hàm mọi lĩnh vực đời sống xã hội như đầu tư, sản xuất, buôn bán và dịch
vụ... nhằm mục đích sinh lời là đủ mà không cần đến phải nhằm mục đích sinh lời cao
nhất mới được xem là kinh doanh. Với khái niệm này, thì kinh doanh được hiểu theo
quy định của Luật doanh nghiệp là phù hợp nhất trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Qua những khái niệm trên cho thấy, phạm vi khái niệm kinh doanh có thể thay
của pháp luật về tội phạm tại Điều 8 Bộ luật hình sự hiện hành ta có thể suy ra khái
niệm tội kinh doanh trái phép như sau: Tội kinh doanh trái phép là hành vi nguy hiểm
cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý làm xâm phạm đến các quy định của pháp luật về
các thủ tục khi tiến hành kinh doanh, được thực hiện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội
nhằm mục đích sinh lợi mà pháp luật không cấm từ đó làm ảnh hưởng đến trật tự quản
lý kinh tế của Nhà nước.
1.2.2 Đặc điểm của tội kinh doanh trái phép
Bất kỳ loại tội phạm nào được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành cũng
mang những điểm riêng biệt để phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác. Đó là
nét đặc thù của từng tội trong Bộ luật hình sự hiện hành. Và tội kinh doanh trái phép
có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi kinh doanh không có
đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng nội dung giấy phép đã đăng ký kinh
doanh hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật buộc
phải có, hành vi phạm tội này được biểu hiện bằng hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Trong
đó, việc kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng nội dung
giấy phép đã đăng ký kinh doanh hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng trong
trường hợp pháp luật buộc phải có là điều kiện tiền đề để người phạm tội thực hiện
hành vi trái pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận và kết quả của hành vi trái pháp luật
đó là xâm phạm tới quyền quản lý của Nhà nước về hoạt động kinh doanh thương mại.
Và trong điều kiện ngày nay, nền kinh tế nước ta phát triển theo hướng kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì hành vi kinh doanh trái phép lại càng trở nên
tinh vi hơn, ẩn nấp dưới nhiều hình thức nên rất khó để phát hiện ra.
Thứ hai, chủ thể của tội kinh doanh trái phép là bất kỳ người nào có năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định. Vì vậy, đối tượng phạm tội kinh
doanh trái phép rất đa dạng về trình độ, nghề nghiệp, giới tính cũng như về độ tuổi và
thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có cả những người làm việc trong cơ quan Nhà
nước. Những đối tượng phạm tội họ rất tinh khôn và nhanh nhạy trong lĩnh vực hoạt
động kinh tế. Bên cạnh đó, các hoạt động kinh doanh trái phép diễn ra rất phức tạp ở
Tâm lý xã hội là một bộ phận của ý thức thông thường, bao gồm toàn bộ những
tình cảm, ý thích, mong muốn…của con người được hình thành một cách tự phát dưới
ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống hằng ngày.11 Do đó, tâm lý xã hội đối với hành
vi kinh doanh trái phép bị coi là tội phạm trong thời kỳ thực hiện kế hoạch hóa, tập
trung, bao cấp và thời kỳ thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ
có những điểm khác nhau. Nghiên cứu tâm lý của người phạm tội mới có thể được lý
giải tại sao trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh mỗi người lại có cách xử sự khác
nhau.Việc nghiên cứu tâm lý không chỉ dừng lại ở bản thân những người bị coi là chủ
thể của tội phạm mà còn đề cặp tới tâm lý xã hội nói chung đã ảnh hưởng tới tình hình
tội kinh doanh trái phép.
Nguyên nhân và điều kiện thuộc về tâm lý xã hội của tình hình tội kinh doanh trái
phép trong thời gian qua được thể hiện tập trung ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, đối với người phạm tội kinh doanh trái phép, một bộ phận không nhỏ
người phạm tội kinh doanh trái phép là do tâm lý tư hữu, tâm lý của người sản xuất
11
Giáo trình Những nguyên lý căn bản của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2009,
tr. 149
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 14
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
nhỏ, manh mún, bảo thủ, ích kỷ, vô tổ chức, coi thường lợi ích của người khác, thích
làm gì thì làm nấy nên trước đây khi tiến hành kinh doanh họ cho rằng không cần xin
phép ai và hiện nay không cần đăng ký kinh doanh với cơ quan nào. Trong điều kiện
xen nhẹ tác hại của hành vi kinh doanh trái phép nên cho rằng không cần thiết phải xử
lý trách nhiệm hình sự. Điều đó đã góp phần tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh
bất hợp pháp tồn tại và phát triển.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 15
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
Thứ ba, đối với cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, trong thời kỳ thực
hiện nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp việc xử lý hành vi kinh doanh trái
phép luôn luôn được thực hiện với tinh thần kiên quyết, triệt để. Đến thời kỳ đổi mới,
dần dần lại có tâm lý xem nhẹ việc theo dõi, xử lý hành vi này, nhiều cán bộ, công
chức nhà nước có thẩm quyền thường tập trung vào đấu tranh phòng chống tội buôn
lậu, làm hàng giả. Do đó, công tác phát hiện xử lý vi phạm và tội kinh doanh trái phép
chưa được quan tâm đúng mức. Điều này đã góp phần làm cho tình hình vi phạm và
tội kinh doanh trái phép có điều kiện phát triển.
1.2.3.2 Nguyên nhân và điều kiện về kinh tế-xã hội
Sau hơn 20 năm kể từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện Đất
nước năm 1986 và chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng giao lưu và hội nhập quốc tế thì nền
kinh tế nước ta dần có những khởi sắc và đạt được những thành tựu to lớn. Việt Nam
đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội, khắc phục được nạn lạm phát có
lúc trên 700% (năm 1986) xuống mức lạm phát 12% (năm 1995) và từ đó đến nay lạm
phát chỉ còn một con số. Đồng thời, khắc phục được nạn thiếu lương thực trước đây và
hiện nay kinh tế phát triển liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực, Việt Nam trở thành
nước xuất khẩu gạo thứ hai, thứ ba trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người tăng
2,45 lần so với trước những năm 1986.12 Từ đây, đời sống nhân dân dần được cải thiện
Tội kinh doanh trái phép trong luật hình sự Việt Nam
việc làm, thiếu việc làm đã trở thành một lực lượng góp phần không nhỏ vào tình hình
tội phạm, trong đó có tội kinh doanh trái phép. Thêm vào đó sự phân hóa giàu nghèo
ngày càng lớn, có người giàu cũng có người nghèo. Đối với những người nghèo do
cuộc sống vất vã, cơm không đủ no, áo không đủ mặc còn mang gánh nặng gia đình,
chính lẽ đó mà nhiều người nghèo sẵn sàng kiếm sống bằng những việc làm phi pháp
nhằm đáp ứng được nhu cầu cuộc sống ngày càng cao của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu cuộc sống của con người không ngừng tăng
cao, con người không ngừng đòi hỏi về chất lượng cuộc sống, ai cũng muốn được ăn
ngon mặc đẹp, cũng muốn có nhu cầu giải trí cao... Chính vì thế, mà một số người đã
vì lợi ích bản thân bất chấp mọi thủ đoạn và bằng mọi cách kể cả vi phạm pháp luật để
kinh doanh trái phép. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, nhiều ngành nghề mới
được hình thành và phát triển, từ đó có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngành nghề.
Nhiều cá nhân, tổ chức đã vì mục đích lợi nhuận đã sẵn sàng dùng các thủ đoạn cạnh
tranh không lành mạnh để tránh sự quản lý của Nhà nước, để trốn thuế,...trong đó có
kinh doanh trái phép.
Như vậy, nền kinh tế thị trường, nhất là mặt trái của nó đã trở thành môi trường
thuận lợi cho tội kinh doanh trái phép phát triển. Biết được điều đó sẽ giúp ta định
hướng đúng và chủ động trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm kinh doanh
trái phép.
1.2.3.3 Nguyên nhân và điều kiện về quản lý nhà nước
Công cuộc đổi mới, trên lĩnh vực quản lý hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động
kinh doanh nói riêng tuy có đạt được những kết quả nhất định, song trước yêu cầu thực
tiễn thì việc quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh tế, trong đó có hoạt động
kinh doanh cũng còn không ít những thiếu sót, sơ hở đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết
quả của quá trình đổi mới. Những thiếu sót sơ hở đó được biểu hiện như sau:
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, đặc biệt là làm công tác quản lý kinh doanh
còn nhiều bất cập, “không đồng bộ, vẫn còn tình trạng vừa thừa, vừa thiếu”.15 Thừa
doanh chưa tập trung vào một đầu mối, chưa thống nhất, điều này đã gây không ít khó
khăn cho các cá nhân, tổ chức khi thực hiện việc đăng ký kinh doanh cũng như cho
công tác quản lý của Nhà nước khi theo dõi, kiễm tra, tổng hợp chung..Bên cạnh đó,
thủ tục đăng ký kinh doanh còn quá rườm rà, phức tạp gây phiền hà cho tổ chức và
công dân…Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trường đầy sôi động, bộ máy càng bộc
lộ nhiều những yếu kém của mình như thiếu linh hoạt, thiếu nhanh nhạy trong việc xử
lý các vấn đề thực tiễn đặt ra.
1.2.3.4 Nguyên nhân và điều kiện về chính sách, pháp luật
Trong thời gian qua chính sách, pháp luật đã có nhiều đổi mới. Điều này thể hiện
rất rõ trong công tác lập pháp và lập quy hơn 20 năm qua. Số văn bản và pháp lệnh
thời gian này nhiều gấp 2 lần so với cả 40 năm trước cộng lại.17 Khung pháp luật bảo
đảm cho phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa về cơ bản đã
được tạo dựng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì hệ thống pháp luật
về kinh tế vẫn còn nhiều yếu kém.
Đối với các quy định về đăng ký kinh doanh. Các văn bản chậm được ban hành
hoặc không có hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể, Luật doanh
nghiệp năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 nhưng mãi đến ngày 05/09/2007, tức
là hơn 1 năm sau mới có Nghị định số 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành và hiện
nay có Nghị định mới thay thế Nghị định số 139 đó là Nghị định số 102/2010/NĐ-CP
ngày 01/10/2010. Sự chậm trễ này làm ảnh hưởng rất nhiều đến người đang kinh
doanh và những người muốn kinh doanh. Điều này dẫn tới tình hình: một số người
muốn kinh doanh nhưng phải chờ đợi, một số người khác vẫn tiến hành kinh doanh.
Vì vậy, sự chậm trễ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành những quy định về đăng
16
Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb
chính trị quốc gia, 2011, tr. 7
17
chung, về kinh doanh trái phép nói riêng của người dân còn thấp nên không biết đối
với một số ngành, nghề nhất định chỉ được kinh doanh sau khi có giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh và đồng thời phải có thêm giấy phép kinh doanh. Điều này đã trở
thành một trong những nguyên nhân và điều kiện dẫn tới việc kinh doanh trái phép.
1.2.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu về tội kinh doanh trái phép
Pháp luật hình sự là công cụ sắc bén, hữu hiệu nhất để duy trì sự tồn tại của Đảng
và Nhà nước. Đặc biệt, là Bộ luật hình sự hiện hành với những chế tài nghiêm khắc
của nó nhằm bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, chống lại những hành vi phạm tội, thông qua
đó bảo đảm pháp luật được thi hành, duy trì sức mạnh và sự quản lý của Nhà nước.
Song, trong những năm qua, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng, đặc biệt, trong lĩnh
vực kinh tế ngày càng diễn ra phức tạp trong đó phải kể đến tội kinh doanh trái phép.
Như chúng ta đã biết, tình hình tội kinh doanh trái phép hiện nay đã và đang diễn
ra ngày càng phức tạp, gây ra cho xã hội những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, xâm
phạm tới quyền lợi chính đáng của cá nhân, tổ chức; làm giảm nguồn thu của Nhà
nước, làm xấu đi môi trường kinh doanh lành mạnh, kìm hãm sự phát triển kinh tế, gây
khó khăn cho công tác quản lý của Nhà nước, là mầm móng tạo ra sự khủng hoảng dẫn
tới mất ổn định xã hội. Tình hình tội kinh doanh trái phép trở thành một trong những
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
Trang 19
SVTH: Nguyễn Thị Huyền Linh